Đề án môn học
A - Lời nói đầu
Thời gian gần đây, một vấn đề đang thu hút nhiều ngời quan tâm
đó là hiện tợng đô la hoá. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế
nhà hoạch định chính sách.... các bài viết đều cho rằng đô la hoá là tình trạng
phổ biến không thể tránh khỏi của các nớc đang phát triển hoặc đang trong
quá trình chuyển đổi. Những nớc này thờng có nền kinh tế bất ổn định, tỷ lệ
lạm phát cao, giá trị đồng nội tệ giảm liên tục, công chúng thích giữ các tài
sản bằng ngoại tệ nhằm tự phòng ngừa rủi ro giảm giá, phá giá của đồng nội
tệ. Đồng đô la mỹ hoặc một số đồng ngoại tệ mạnh khác đợc coi là phơng
tiện thanh toán, cất giữ song hành với đồng nội tệ.
Phân tích hiện tợng đô la hoá, nguyên nhân, tác động (mặt lợi, mặt hại)
mức độ nh thế nào đến nền kinh tế những giải pháp khắc phục nhằm hạn chế
tình trạng này ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu đã đa ra những đánh
giá, nhìn nhận về hiện tợng này. Tuy nhiên mồi bài viết của mỗi tác giả đi
theo mỗi góc nhìn khía cạnh khác nhau những quan điểm xử lý vấn đề còn
nhiều cách biệt, cha thống nhất cha đầy đủ về hiện tợng này. Để có một cách
đánh giá tổng quát hơn về tình trạng đô la hoá. Cũng nh tìm ra những giải
pháp khắc phục tình trạng đô la hoá ở Việt Nam là vấn đề cần thiết và cấp
bách vậy em chọn đề tài: "ảnh hởng của tình trạng đô la hoá đối với nền
kinh tế Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp khắc phục" làm đề tài
nghiên cứu môn học.
Đô la hoá là vấn đề hết sức phức tạp liên quan nhiều mặt đời sống kinh
tế xã hội. Nó không chỉ liên quan trong nớc mà còn mang tính chất toàn cầu.
Song do trình độ có hạn và trang bị kiến thức chuyên ngành cha đợc sâu sắc
nên em xin nêu một số tác động chủ yếu của đô la hoá ở Việt Nam trong
những năm gần đây.
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
1
Đề án môn học
B - nội dung
Theo kinh nghiệm quốc tế thì hiện tợng đô la hoá thơng gặp khi nền
kinh tế ở nớc đó có tỷ lệ lạm phát cao; sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì
ngời dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác; đặc biệt là các đồng tiền
ngoại tệ có uy tín (USD;EURO;JPY...). Song song với chức năng làm phơng
tiện cất trữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ có uy tín sẽ cạnh tranh mạnh mẽ
với đồng nội tệ trong chức năng làm phơng tiện thanh toán cũng nh làm đơn
vị tính toán(hay thớc đo giá trị ).
Các đồng tiền mạnh là những đồng tiền ổn định cả về đối nội và đối
ngoại cũng nh thông qua vai trò quốc tế của chúng. Điều này đợc thể hiện
bằng chỉ số độ tin cậy z . Nhìn từ góc độ của quốc gia có đồng tiền yếu , thì z
có thể đợc hiểu là tâm lý dự đoán phá giá đồng nội tệ về lâu dài so với đồng
ngoại tệ.
- Nh vậy, ngay cả không có tâm lý dự đoán phá giá đồng tiền nội
thì lãi suất của đồng tiền yếu bao giờ cũng phải cao hơn lãi suất của đồng
tiền mạnh, điều này đợc thể hiện bằng phơng trình:
I(nội tệ) = I(usd) + z
Đối với các nớc đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thì z vào khoảng
từ 5 đến 10%/năm. Đối với NHTƯ thì đây là một thông số đánh giá rất quan
trọng trong hoạt động ngắn hạn bởi z chỉ thay đổi đợc sau một thời gian tơng
đối dài. Khi lãi suất ở Mỹ tăng lên 1% thì đòi hỏi lãi suất ở các nớc có đồng
tiền yếu phải tăng cao gấp nhiều lần nhằm đối phó với tình trạng chuyển đổi
đồng nội tệ sang USD (ví dụ đối với đồng Real của Brazin thì giá trị tăng lên
là 2,6%/năm). Dó đó điều này cũng giải thích tại sao các nớc đang phát triển
đều hạn chế hoạt động xuất khẩu vốn đầu t bằng ngoại tệ đợc trả lãi.
- Còn nh nếu có thêm tác động của tâm lý phá gía đồng nội tệ trong
ngắn hạn thì công thức trên không chỉ đơn thuần là thế mà công thức trở
thành:
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
3
Đề án môn học
du lịch và dịch vụ công khai hay không công khai thu tiền của khách hàng
bằng ngoại tệ...
Thứ hai, theo IMF, tỷ lệ đô la hoá của một nền kinh tế đợc căn cứ vào tỷ
lệ.
Giữa tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng so với lợng tiền cung
ứng theo nghĩa rộng(M2) bao gồm: tiền mặt trong lu thông, tiền gửi không kì
hạn, tiền gửi có kì hạn, và tiền gửi ngoại tệ; so với tổng tiền gửi trong hệ
thống ngân hàng, so với tổng phơng tiện thanh toán. Theo cách tính này, IMF
cho rằng nếu tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên (M2) trong một nền kinh tế lớn hơn
30% thì nền kinh tế đó có thể coi là gặp phải tình trạng đô la hoá cao.
Về cơ bản, đô la hoá gồm ba loại chính là: Đô la hoá không chính thức,
đô la hoá bán chính thức, và đô la hoá chính thức
- Đô la hoá không chính thức :
Đây là trờng hợp ngoại tệ đợc sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế mặc dù
không đợc nớc này chính thức thừa nhận.Thuật ngữ đô la hoá không chính
thức bao gồm cả các trờng hợp nắm giữ tài sản nớc ngoài hợp pháp và
không hợp pháp . ở một số nớc, việc giữ một số tài sản ngoại tệ là hợp pháp
nh các tài khoản bằng USD tại các ngân hàng trong nớc, nhng lại không hợp
pháp khi có tài khoản ngân hàng nớc ngoài trừ khi đợc cấp phép tình trạng
ddô la hoá không chính thức là phản ứng đối với sự bất ổn định của nền kinh
tế và tỷ lệ lạm phát cao, cũng nh mong muốn của dân chúng nhằm đa dạng
hoá đầu t và bảo vệ tài sản của mình khỏi những rủi ro của việc phá giá đồng
bản tệ .
Đô la hoá không chính thức có thể gồm các loại sau:
Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nớc ngoài
- Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nớc ngoài
- Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nớc
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
5
Đề án môn học
Đề án môn học
Hay còn đợc gọi là đô la hoá hoàn toàn xuất hiện khi đồng ngoại tệ là
đồng tiền hợp pháp duy nhất đợc lu hành ;là trờng hợp mà một quốc gia
chính thức từ bỏ đồng bản tệ và sử dụng một đồng tiền (ngoại tệ ) ổn định
hơn làm đồng tiền pháp định. Nghĩa là đồng tiền ngoại tệ này không chỉ đợc
sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên t nhân mà còn hợp pháp
trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì
nó chỉ đóng vai trò là thứ yếu và thờng chỉ là những đồng tiền xu hay các
đồng tiền mệnh giá nhỏ .
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hai đồng ngoại tệ đ-
ợc lu hành hợp pháp .Tuy nhiên, các nớc đô la hoá chính thức thờng chỉ chọn
một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp, nhng chỉ có Andorra dùng cả
đồng Franc của Pháp và đồng Pezota của Tây Ban Nha. Hầu hết các nớc đô la
hoá chính thức, các đối tác t nhân đợc phép kí hợp đồng bằng bất cứ loại tiền
nào mà họ cùng đồng ý .
Theo IMF, hiện nay có khoảng 14 nớc đợc xếp là các nớc đô la hoá
chính thức ;ví dụ nh Palama, Ecuador. Trên thực tế, những nớc này chỉ áp
dụng đô la hoá hoàn toàn sau khi thất bại trong việc thực thi các chơng trình
ổn định kinh tế. Điểm hấp dẫn chủ yếu của đô la hoá hoàn toàn là loại trừ rủi
ro của việc phá giá tiền tệ đột ngột và phá giá mạnh .
Thứ ba là tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ, bằng USD so với tổng các khoản
vay, tổng d lợ , khi mà đạt tới con số có ý nghĩa, xảy ra ở nhiều nứơc thuộc
Châu Mỹ- La Tinh. Cũng theo thông tin đã đợc công bố, thì tỉ lệ này ở Việt
Nam vào khoảng20%, không thể không coi là có ý nghĩa .
1.3. Nguyên nhân của hiện tợng đô la hoá .
Vậy thì tình trạng đô la hoá nền kinh tế do đâu?
Đô la hoá diễn ra tại mỗi nớc rất khác nhau và đợc đánh giá qua các chỉ
tiêu với mức độ khác nhau, song tình trạng này tuỳ thuộc vào các yếu tố sau :
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
7
Đề án môn học
Hai là, chi phí giao dịch :
+ Đối với chi phí do chênh lệch tỉ giá :
Đối với những nớc đô la hoá chính thức các chi phí nh chênh lệch giữa
tỉ giá mua và bán khi chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác bị xoá
bỏ .Đô la hoá chính thức cũng loại bỏ những giao dịch với các nớc khác .
+ Chi phí dự phòng cho rủi ro tỉ giá :
Chi phí này cũng không cần thiết, điều này giúp thúc đẩy thơng mại và
đầu t giũa các nớc làm cho các nhà đầu t quốc tế tin tởng hơn khi đầu t vào n-
ớc đó.
+ Chi phí kinh doanh của các ngân hàng:
Các ngân hàng có thể hạ thấp lợng dự trữ vì thế mà giảm đọc chi phí
kinh doanh việc tồn tại của hai đồng tiền buộc các ngân hàng phải tiến hành
danh mục đầu t tách biệt giữa nội tệ và ngoại tệ.
- Hạ thấp lạm phát hiện tại và rủi ro về lạm phát trong tơng lai cũng
thấp hơn.Với việc sử dụng đồng ngoại tệ, các nớc đô la hoá chính thức luôn
đợc duy trì tỉ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp ở các nứơc phát hành
đồng ngoại tệ lạm phát thấp tăng sự an toàn đối với tài sản t nhân , khuyến
khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Lạm phát thấp cũng giúp cho ngời nghỉ h-
u, những ngời có thu nhập cố định và những ngời nghèo có các tài khoản tại
ngân hàng và bảo đảm rằng khoản tiết kiệm của họ đợc duy trì giá trị .
- Lãi suất thấp hơn khuyến khích nền kinh tế tăng trởng: ở các nớc
đô la hoá chính thức ngời ta sẽ thực hiện so sánh và tiếp nhận những đồng
tiền nào có giá trị hơn đồng nghĩa với có mặt bằng lãi suất thấp hơn. Mặt
bằng lãi suất thấp sẽ cho phép tăng trởng kinh tế cao hơn và sẽ tạo điều kiện
thu hẹp khoảng cách giữa các nớc phát triển với các nớc đang phát triển và
chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nớc ngoài cũng thấp hơn nên các khoản
vay nợ đợc trả dễ dàng. Do đó mà những ngời ủng hộ việc đô la hoá cho rằng
lãi suất thấp sẽ tạo điều kiện để kinh tế tăng trởng cao hơn .
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
Trịnh Mạnh Cờng Lớp: QTKD Tổng hợp 47B
10
Đề án môn học
Nó hạ thấp doanh thu từ phát hành tiền và làm trầm trọng hơn tác động
lạm phát tới việc tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua hệ thống ngân.Đô la
hoá cũng cho phép một bộ phận nhất định các hoạt đông kinh tế chốn thuế.
Đô la hoá cũng làm yếu kém hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc xét về
cả khả năng của nhà nớc tạo lợi nhuận cũng nh đóng góp cho ngân sách.
+ Chi phí lớn trong việc thu hồi nội tệ và đa ngoại tệ vào lu thông :
Các nớc thực hiện đô la hoá chính thức cần phải có lợng ngoại tệ đủ để
thay thế số nội tệ đang lu thông. Nghiên cứu cuả Fisher năm1982 cho thấy
chi phí trung bình đối với các nớc tiến hành đô la hoá chính thức vào nhngx
năm 1970 khoảng 4-5% GDP.
- Đối với chính sách tiền tệ :
+ Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ .
Đô la hoá không chính thức có thể khiến cho cầu về nội tệ không ổn
định. Giả sử một nguyên nhân nào đó tác động đến tâm lý khiến mọi ngời bất
ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một
chu kỳ lạm phát. Khi ngời dân giữ một khối lợng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ,
những thay đổi về lãi suất trong nớc hay nớc ngoài có thể gây ra sự chuyển
dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (chính là hoạt động đầu cơ tỷ
giá). Những thay đổi này sẽ gặp khó khăn cho NHTƯ trong việc đặt mục tiêu
cung ứng tiền trong nớc và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống
ngân hàng. Cụ thể là trong điều kiện đô la hoá sẽ rất khó khăn cho việc dự
báo tổng phơng tiện thanh toán. Qua đó, việc quyết định tăng hay giảm lợng
tiền trong lu thông kém chính xác và kịp thời .
+ Đô la hóa cũng làm giảm hiệu lực của chính sách tỷ giá:
Đô la hoá tác động đến cơ chế truỷền dẫn của tỷ giá hối đoái.Tác động
khuyếch đại của phá giá tiền tệ sẽ trở nên yếu kém do phá giá tiền tệ chỉ tác
động đến một bộ phận nhỏ hơn tài sản có tính thanh khoản. Sự yếu kém của
12
Đề án môn học
1987 là 231,8%; 1988 là 293,8%). Việc thực hiện cải cách tiền lơng bị thất
bại (năm 1985 sự sụp đổ của một số tổ chức tín dụng, chính sách đa tỷ giá,
đồng Việt Nam (VND) bị mất giá nặng (e) đã tác động không nhỏ tới tâm lý
của công chúng (z) thì tình trạng đô la hoá tăng mạnh vào thời gian này đợc
thể hiện qua phơng trình:
I (VND) = I (USD) + z + e
Công chúng đô xổ nắm giữ vàng, đô la Mỹ (USD) hoặc bất động sản...
hầu hết đều lấy USD làm chuẩn mực để cất giữ và thanh toán trong nớc. Hiện
tợng đô la hoá xuất hiện ở mức cao tới 41% tổng tiền gửi trong hệ thống
Ngân hàng. Đến đầu những năm thập kỷ 90, Ngân hàng Trung Ương đã sử
dụng chính sách tiền tệ mới, lạm phát tiền tệ hạ thấp xuống đến một chữ số,
đặc biệt đã áp dụng chính sách lãi suất thực dơng đã hấp dẫn hớng mọi ngời
tích luỹ VND. Thực tế đã có nhiều ngời rút tiền gửi USD chuyển qua gửi
bằng VND đợc hởng lãi suất cao hơn, dẫn đến tỷ lệ tiền gửi USD trong tổng
tiền gửi của hệ thống Ngân hàng lúc đó chỉ còn 18% (năm 1996). Bớc đầu
coi nh đã thiết lập VND thành đồng tiền ổn định giá trị cả vể đối nội và đối
ngoại.
Thế nhng từ bốn năm qua, mức độ đô la hoá lại gia tăng với tỷ lệ trên
40% trong tổng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng là khá cao. ở đây cha lợng
tính đợc số USD trôi nổi nằm ngoài hệ thống Ngân hàng. Nguyên nhân đô la
hoá cao lần này không do lạm phát tiền tệ gây nên mà do chủ yếu từ cơ chế
chính sách của ta kích thích mạnh, đến mức các Ngân hàng Thơng mại cạnh
tranh sôi động nên đã có lúc đẩy lãi suất tiền gửi USD lên rất cao, USD cháy
vào Ngân hàng thơng mại, lấn át VND gây hiện tợng thiếu VND để hoạt
động. Số ngoại tệ huy động đợc đã chuyển thẳng vào các Ngân hàng nớc
ngoài để hởng chênh lệch lãi suất lớn. Mới đây, Ngân hàng Trung Ương đã
thả nỗi lãi suất về ngoại tệ càng tạo điều kiện cho các Ngân hàng thơng mại
thoải mái trong việc định lãi suất huy động tiền giử USD. Đồng USD đợc