MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG GẶP Ở HỌC SINH LỚP 3 NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA - Pdf 20

MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG GẶP Ở HỌC SINH LỚP 3
NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA

I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, mục tiêu tổng quát giáo dục tiểu học đã được
xác định phù hợp với xu thế phát triển của thời đại bao gồm cả thái độ, năng lực, kỹ
năng, kiến thức, cách học, cách làm, cách sống, nhằm đào tạo con người tự chủ,
năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết thực tiễn và có năng lực tự học sáng
tạo. Hay nói cách khác, mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm đào tạo con người toàn
diện. Vì thế, quá trình dạy học có hứng thú, tích cực hay không, có phát huy trí
thông minh cho trẻ được hay không tất cả phụ thuộc vào khả năng nghe, nói, đọc,
viết Tiếng Việt của trẻ. Mà việc viết đúng chính tả là một trong những yếu tố quan
trọng nhất giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy. Nhưng học trò tiểu học của
chúng ta hiện nay còn mắc nhiều lỗi chính tả đáng lo ngại. Đây là vấn đề khiến cho
giáo viên tiểu học phải trăn trở, suy tư, luôn tìm ra mọi nguyên nhân - biện pháp
nhằm giảm tối thiểu việc học sinh mắc lỗi chính tả Làm thế nào để giúp các em
nghe - nói và viết đúng Tiếng Việt ? Đây là vấn đề không phải dễ trong thực tế.
Thật vậy, chính tả Tiếng Việt là một vấn đề luôn luôn được nhiều
người quan tâm. Với tư cách là một phân môn ở trường tiểu học, Chính tả dạy các
em viết đúng, viết đúng hợp với chuẩn chính tả của tiếng việt _ Vả lại, đối với học
sinh tiểu học hoạt động chủ đạo của các em thiên về cảm tính nhưng các em có điều
kiện sống trong thời kỳ hiện đại, thông tin bùng nổ, học sinh được tiếp cận với cái
mới và với đặc điểm tâm sinh lý, trẻ thích tìm tòi, học hỏi, khám phá cái mới trong
nhận thức và trong cuộc sống xã hội.
Do đó, nhận thức của học sinh tiểu học ngày càng mở rộng, năng
khiếu, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu, của trẻ ngày càng trở nên phong phú và đa
dạng.
Với những đặc điểm trên, việc giúp cho học sinh tiểu học viết đúng
chính tả càng khó hơn trước vì giáo viên phải biết tổ chức cho trẻ hoạt động tốt trong
học tập cũng như trong lĩnh hội tri thức chung của nhân loại để biến thành tri thức
riêng của mình qua quá trình học tập.

Ngoài ra, muốn viết đúng chính tả các em còn phải nắm vững cấu tạo
của âm tiết. Am tiết Tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ được
biểu thị sơ đồ sau:

Thanh
Vần
Âm đầu
Âm đệm Âm chính Âm cuối

- Vần là một khối rất chặt.
- Thanh phủ trùm lên đầu các phần âm đầu và vần.
- Thanh và vần kết hợp rất chặt chẽ. Ví dụ chỉ có âm chính thôi cũng
thành tiếng được, như ô (dù) - gồm có: Âm chính + thanh ngang.
Trên cơ sở lý luận đó, tôi thấy học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học “A”
Thị trấn An Châu thường mắc những lỗi chính tả như sau:
1.1/ Sai âm đầu:
TR - CH: Thống kê 50 bài của học sinh thấy có 08 em - chiếm 16 %
viết sai tr thành ch.
Ví dụ như em Nguyễn Văn Xuyên lớp 3B viết: “Mưa thối đất thối cát,
hết chận này qua chận khác đã tới, ráo riết hung tợn hơn”.
X - S: Có 05/ 50 em viết sai - 10%.
Ví du như em Kim Chi lớp 3A viết: “ dổ hết suống đất” hoặc em
Loan lớp 3B viết: “Xoạn nồi nấu cơm”.
V - D: Có 10/ 50 em - 20% viết sai V thành D. Ví dụ như em Mỹ
Phụng lớp 3A viết: “ do gạo nấu cơm ”, em Tâm lớp 3B viết “Hôm nay em đi học
dề không thấy mẹ đâu cả”
GI - D : Có 03 em - 6% viết sai GI thành D. Ví dụ như em Bành Quốc
Huy lớp 3B viết ”dúp đỡ ”, em Mành lớp 3A viết: “ mẹ dục con sớm lên đường
”.
Tóm lại, qua thống kê cho thấy học sinh lớp 3 ở đây sai khá nhiều về


Và có sai N - NH khoãng 4/ 50 gần bằng 8%.
Ví du như em Tuyền lớp 3A viết “nước lên láng khắp mọi nơi”, em
Nghĩa lớp 3D viết “ em xinh kể lại câu chuyện ” em Thư 3D viết “ hai bênh bờ
quãng sông này ”.
T - C : sai khoảng 5/ 50 - 10%. Ví dụ như em Dương 3D viết “ trả cụt
vàng ”, “ ngạt nhiên 22%

N - NG

10%

T - C

8%
N - NH SAI ÂM CUỐI

1.4/ Sai dấu thanh:
Đặc biệt ở trường “A” An Châu học sinh lớp 3 không sai âm đệm mà
lại sai dấu thanh nhất là dấu hỏi và dấu ngã. Có 12/ 50 - 24% viết sai.
Ví dụ như em Minh Hùng lớp 3B viết dấu ngã thành dấu hỏi “Mưa rả

sinh phân biệt nghĩa của từ, khi nào viết “tr” khi nào viết “ch”
Ví dụ: Tr - “ánh trăng” , “chẻ tre”
Ch - “phải chăng”, che nắng”
Những từ có phụ âm đầu là “v -d , x - s” cũng thế. Khi dạy, không
riêng môn chính tả mà ở bất kỳ môn học nào, từ nào có phụ đầu “tr - ch, v - d, x -
s” giáo viên đều phải chú ý nhấn mạnh nghĩa của từ, cách đọc, cách viết.
Ví dụ: vó; dó; gió - vó ngựa, cây dó, gió thổi.
Đối với âm chính, âm cuối cũng vậy, muốn sửa sai cho học sinh thì
giáo viên chú ý nhấn mạnh, giúp học sinh rèn luyện ở mọi lúc mọi nơi, ở tất cả các
phân môn.
Riêng vế lỗi sai dấu thanh, do đặc thù của địa phương chịu ảnh hưởng
phương ngữ Nam bộ nên khi phát âm khó mà phân biệt được dấu hỏi hay dấu ngã.
Trường hợp này ta nên giúp học sinh phân biệt nghĩa của từ, nắm mẹo luật chính tả
để viết đúng, hiểu đúng.
Ví dụ: Đối với từ láy thì đưa mẹo luật để phân biệt dấu hỏi, dấu ngã
như sau:
Chị Huyền mang Nặng Nga đau
Anh Sắc Không Hỏi một câu gọi là.
Nghĩa là các dấu đi theo nhóm:
Huyền ( \ ), nặng ( . ), ngã ( ~ )
Sắc ( / ), không dấu ( - ), hỏi ( ? ).
Như trường hợp trên “bì bõm” ta viết dấu ngã (bõm), hoặc từ láy : lồng
lộng, trắng trẻo, thướt tha,
Hoặc đối với từ Hán Việt thì giáo viên cũng nên giới thiệu “Mẹo” để học sinh
dễ nhớ:
Mình Nên Nhớ Viết Liền Dấu Ngã.
Nghĩa là đối với các từ có chữ cái M, N, Nh, V, L, D, Ng (Ngh) đều mang
dấu ngã.
Ngoài ra, để giúp các em hiểu, viết đúng chính tả thì nên cho các em
sử dụng “Từ điển chính tả”, hướng dẫn các em biết tự tra Từ điển, tìm hiểu nghĩa từ

nguyên tắc của giáo dục học, có như thế việc học chính tả mới đảm bảo một cách
khoa học. Nếu dựa vào tâm lý của trẻ, việc dạy chính tả phải phù hợp theo từng lứa
tuổi, theo từng đối tượng một cách chặt chẽ. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải chú ý
vận dụng các kết quả của tâm lý học như các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo, để từ đó khi dạy học chính tả ta có thể biết được sản phẩm của lời
nói được sản sinh ra như thế nào, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy để
hình thành kỹ năng nói, viết ra sao
Nói chung, muốn đạt được mục đích dạy học, người giáo viên phải hết
sức linh hoạt, sáng tạo trong công tác dạy học mà chủ yếu là phương pháp truyền thụ
kiến thức và kỹ năng thực hành cho học sinh ( Ví dụ như ở phần củng cố tiết dạy, có
thể tổ chức thêm trò chơi thi ghép chữ, tìm từ và viết từ, ) , để từ đó học sinh có
thể nắm bắt và khắc sâu kiến thức một cách chủ động, có hệ thống và khoa học, giúp
các em nghiên cứu tự học, tự sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Song song đó, để việc dạy học chính tả đi vào chất lượng thật sự trong
quá trình giảng dạy ở trường tiểu học. Qua nghiên cứu thực nghiệm ở phần lý luận
so với thực tiễn, bản thân xin có lời kiến nghị như sau:
Một là, việc chỉ đạo, cải tiến phương pháp dạy học cần có sự kế thừa
giữa phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại một cách hài hoà vì trình
độ của học sinh vùng nông thôn chưa đồng đều và ít hoạt bát.
Hai là, về phía sách học sinh, nên có những bài tập ( sau phần bài viết
chính tả) có nội dung liên quan đến bài tập ở lớp nhiều hơn bài tập ở nhà vì thời gian
học tập của học sinh ở vùng nông thôn quá khó khăn, các em phải dành nhiều thời
gian giúp gia đình, cha mẹ ít quan .
Ba là, nên có thêm “chú thích” theo phương ngữ Bắc - Trung - Nam.
Bởi vì, hiện nay ở sách học sinh có những từ mà giáo viên phía Nam không hiểu hết
nghĩa thì khó mà giảng cho học sinh được.

An Châu, ngày 20 tháng 3 năm 2004.
Người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status