MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu 2
Lý do chọn đề tài 2
Đối tượng nghiên cứu 2
Đối tượng , phạm vi nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 4
Cơ sở lí luận thực tiễn 4
Về giảng dạy của giáo viên 5
Nguyên nhân: 6
Biện pháp khắc phục: 7
Chương 2 7
Nội dung chương trình nghiên cứu 7
Nội dung kiến thức chương trình lớp 4 7
Nguyên nhân mắc lỗi: 8
Một số biện pháp khắc phục lỗi: 9
Ghi nhớ mẹo luật chính tả: 10
Các bài tập chính tả 12
Hướng dẫn học sinh làm bài chính tả âm vần 15
Các hình thức tổ chức dạy học 17
Quá trình thực hiện giải pháp 18
Biện pháp áp dụng 19
Kết quả nghiên cứu 22
Kết luận kiến nghị 23
MỞ ÐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chính tả là một phân môn có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của
phân môn Tiếng Việt là rèn luyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh,
trong đó có năng lực viết chữ.
Trong nhà trường tiểu học, chính tả được dạy với tư cách là một môn học và chỉ
và học sinh học tốt phân môn chính tả mà trọng tâm là đưa ra các quy tắc để dạy và
học chính tả.
2
*Phân loại 2 lỗi chính tả cơ bản đó là :
Sai về ngun tắc chính tả hiện hành
Sai cách phát âm chuẩn.
Lỗi ngun tắc do sai ngun tắc chính tả hiện hành :
Là loại lỗi do người viết khơng nắm được các đặc điểm và ngun tắc kết hợp các chữ
cái, quy tắc viết hoa trong tiếng Việt.
Đặc điểm chính tả tiếng Việt
- Tiếng Việt là ngơn ngữ phân tiết tính : các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng
lớn nói, vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau.
Ví dụ : Trăm năm trong cõi người ta (6 âm tiết)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau ( 8 âm tiết)
- Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ phải đánh
dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là ngun âm
đơi) của âm tiết.
Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng
Việt có cấu tạo như sau :
Các biện pháp rèn học sinh viết đúng chính tả nếu được áp dụng đúng mức
theo đònh hướng học sinh là trung tâm thì hiệu quả sẽ được nâng cao hơn. Điều đó
sẽ giúp các em hứng thú say mê khi học môn chính tả nói riêng và môn tiếng Việt
nói chung.
6.Cấu trúc của tiểu luận
Ngồi phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 chương:
Chương 1: Ngun nhân - Biện pháp khắc phục
Chương 2: Thống kê -Ngun nhân - Biện pháp
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
34 12/34 14/34 24/34
- Viết:
4
+ Do vốn từ còn hạn chế, tư duy chưa phát triển, học sinh còn có thói quen đọc
sao viết vậy, viết tự nhiên, thoải mái theo cách hiểu của mình.
+ Do các em chưa nắm vững luật chính tả.
Đây là kết quả thống kê được trong bài viết chính tả đầu năm:
Tổng số học sinh
Lỗi bài viết chính tả nghe đọc
Phụ âm Về vần Dấu thanh
34 6/34 13/34 18/34
Về giảng dạy của giáo viên
* Nội dung
- Do lạm dụng hình thức nghe đọc q nhiều trong bài viết chính tả nghe đọc
mà lẽ ra giáo viên nên hướng dẫn học sinh vào các hoạt động gắn liền khả năng ghi
nhớ chữ với nghĩa trong ngữ cảnh hoặc ngược lại.
- Do chưa chú trọng khâu chữa lỗi chính tả của học sinh.
* Phương pháp:
Do sử dụng nhiều hình thức giảng dạy và đàm thoại mặc dù hai hình thức đó có
nhiều ưu điểm trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh nhưng nếu lạm dụng nó,
chúng ta sẽ khơng phát huy được tích cực chủ động của học sinh.
Ngun nhân khác
Do điều kiện địa phương, do hồn cảnh gia đình, các em ít được tiếp xúc với
sách báo, các loại hình văn hố cho nên điều kiện tự nhiên điều chỉnh chữ viết của
mình còn hạn chế.
Vì vậy, chất lượng viết đúng chính tả nghe đọc của học sinh đầu năm như sau:
Tổng số học sinh
Điểm
1-2 3-4 5-6 7-8 9-10 Điểm 5 trở lên
34 2 5 9 15 3 30
+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…
6
+ at/ac: lang bạc, lường gạc, rẻ mạc…
+ ăt/ăc: giặc giũ, mặt quần áo…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+êt/êch: trắng bệt…
2. Nguyên nhân mắc lỗi
Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân
biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam
không có thanh ngã. Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do
đó lỗi về dấu câu rất phổ biến. Một số học sinh miền Bắc thường hay lẫn lộn 2
thanh sắc, ngã với nhau.
Về âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu
ch/tr, s/x. d/gi. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v và d. Ngoài
ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví
dụ: /k/ ghi bằng c / k /qu …) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng,
nhưng đối với học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi / ie, ươ,
uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên -
tuyến, lửa - lương, mua - muôn); âm đệm lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví
dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối
với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- Muống = M + uông + thanh sắc
- Muốn = M + uôn + thanh sắc.
8
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng
“muốn” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không
viết sai.
Giải nghĩa từ:
- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa
từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc,
Tập làm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi
mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo
tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học
sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu
nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật,
mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh
cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh
bằng dùi, âm thanh vang dội).
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên
hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn
vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa).
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể
để giải nghĩa từ.
Ghi nhớ mẹo luật chính tả
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối
hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu
hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các
ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh
choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng,
loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng,
ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập
cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng
đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh
huỵch…
10
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
Làm các bài tập chính tả
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để
các em ghi nhớ.
- Bài tập trắc nghiệm:
* Khoanh tròn vào chữ cai trước những chữ viết đúng chính tả:
a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn
c. Giải lụa d. Dải lụa
e. Oan uổng f. Oan uổn
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S
vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
Rau muốn Rau muống
Chải chuốc Chải chuốt
Giặc quần áo Giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết
đúng chính tả:
A B
bênh trái
Buổi trưa hè, trời nắng chói …….
Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
Tiếng gà kêu quang ………
- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi
ý từ đồng âm, từ trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
Thi không đỗ:
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
Chứa tiếng có vần ươt:
Chứa tiếng có vần ươc:
12
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
Trái nghĩa với từ thật thà:
Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
Cây trồng để làm đẹp:
Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
nồi - lồi
no - lo
bàn - bàng
ngả - ngã
- Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
,đánh giá cho nhau trong quá trình làm bài .
- Sơ kết , tổng kết ý kiến của HS , ghi bảng nếu cần thiết.
Một số phương pháp thường vận dụng
- Để thực hiện tốt một tiết dạy, chúng tôi thường kết hợp nhiều phương pháp
giảng dạy, tuỳ theo yêu cầu từng loại bài sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
+ Phương pháp luyện theo mẫu:
Phương pháp này sử dụng trong mọi tiết học nhưng chủ yếu là trong giờ dạy
chính tả nghe đọc. Học sinh tạo ra đơn vị ngôn ngữ từ mẫu của giáo viên. Để sử dụng
tốt phương pháp này, chữ viết ở trên bảng của giáo viên phải rõ, đẹp, đúng kích thước,
phải tạo điều kiện để học sinh toàn lớp nhìn rõ. Ở tiết chính tả nghe đọc, giáo viên lưu
ý học sinh các tiếng dễ lẫn phụ âm, dấu, vần, thanh. Học sinh phải tái hiện lại mẫu
thông qua hai thao tác: Thao tác tiếp nhận mẫu bằng âm thanh và thao tác chuyển từ
âm thanh qua mẫu chữ viết.
Vì vậy, điều quan trọng là mẫu đọc của giáo viên phải đúng, chuẩn.
+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
14
Phương pháp này giúp học sinh so sánh những từ ngữ dễ lẫn lộn khi viết. Để sử
dụng tốt những phương pháp này, giáo viên phải chọn những từ ngữ dễ lẫn, tuỳ theo
từng địa phương ,tuỳ theo tình hình lớp . Cách phân tích phải dễ hiểu ,không sử dụng
những thuật ngữ khó hiểu đối với học sinh .
+ Phương pháp giao tiếp:
Phương pháp này giúp học sinh khắc sâu những quy tắc chính tả một cách có ý
thức. Muốn sử dụng phương pháp này cần có hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Ví dụ: Khi nào chúng ta có thể viết các phụ âm đầu “s” (các từ chỉ cây cối, trừ
một số ngoại lệ: Cây xoài, cây xoan, …)
- Tìm các tiếng có phụ âm đầu viết “s”: Cây sen, cây súng, cây si…
- Kể tên các đồ vậät trong nhà có phụ âm đầu “ch”: cái chén, cái chạn …
- Khi nào ta có thể viết các từ có phụ âm đầu “ch”: Chỉ đồ đạc trong nhà và các
từ chỉ mối quan hệ họ hàng( cha, chú cháu… )
Để có hiệu quả, việc luyện tập phải có mục đích, phải có nội dung và hình thức
luyện tập phong phú, đa dạng, có thể xen lẫn với các trò chơi.
Ví dụ: Trò chơi: Đố bạn, HS đố nhau giải các câu đố để tìm chữ theo yêu cầu .
Câu đố : Để nguyên- tên một loài chim
Bỏ sắc – thường thấy ban đêm trên trời.
( là chữ gì?)
Các hình thức tổ chức dạy học
Việc tổ chức dạy học cho tiết dạy cũng rất cần thiết trong việc đổi mới phương
pháp dạy học, có nhiều hình thức: Học trong lớp, học cá nhân, học nhóm.
+ Học cá nhân: Học sinh tự làm việc, giải quyết các nhiệm vụ mà giáo viên giao.
Ví dụ: Tự viết bài chính tả, viết lại các lỗi sai của bài chính tả…
+ Học nhóm: Học sinh làm việc theo nhóm, cùng giải quyết một vấn đề, bạn
khá giỏi giúp đỡ, hướng dẫn bạn yếu.
Ví dụ: Cùng làm bài tập, cùng sửa lỗi chính tả.
16
+ Học toàn lớp: Thực hiện ở việc cùng sửa bài tập, cùng phát hiện các từ dễ lẫn
lộn khi viết.
+ Học ở nhà: Luyện viết các từ khó, sửa lại các lỗi sai, chuẩn bị bài mới.
4. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN GIẢI PHÁP
Trong quá trình dạy và học tiết chính tả nghe đọc - giáo viên cần chú ý rèn kỹ
năng đọc và viết. Kỹ năng đọc: Đọc đúng, phát âm chuẩn, rõ ràng. Nếu học sinh phát
âm đúng thì sẽ viết đúng, đọc sai thì viết sai vì các em thường có thói quen “đọc sao,
viết vậy”, các em đọc “con châu” thì cũng có thể viết “con châu”…
Kỹ năng viết: Viết đúng, viết đẹp, đúng tốc độ quy định.
Các con chữ đúng khoảng cách, kích cỡ, bỏ dấu thanh đúng quy định.
Trình bày bài sạch sẽ, rõ ràng, khoa học. Nắm vững cách trình bày bài văn xuôi,
bài thơ tự do, bài thơ lục bát.
Viết nhanh, viết đẹp, trình bày bài rõ ràng chính là yêu cầu của bài chính tả
nghe đọc.
Khi viết học sinh kết hợp khả năng ghi nhớ và suy luận logic để viết đúng.
theo địa phương.
Ví dụ: Đối với các các em miền Bắc chú ý rèn phát âm: l/n, ch/tr…
Đối với các em miền Nam bộ phát âm r/g,iu/iêu,ăt/ăc….
Cung cấp cho học sinh một số mẹo chính tả:
Một số từ chỉ tên thức ăn có tiếng với phụ âm đầu viết “x” như: Xôi gà, xà lách, xúp
…
Một số từ chỉ tên cây và con vật có tiếng với phụ âm đầu viết “s”: Cây sen, sim,
… trừ xoài, xoan…
Vật: Sóc, sên, sếu, sẻ …
Từ đơn (một tiếng) dùng để chỉ trỏ có phụ âm đầu (không viết với “l”) ví dụ:
Này, nọ, ni, nớ …
Phụ âm “l” thường đứng trước những vần bắt đầu bằng oa, uy, ua … ví dụ: Mù
loà, loăng quăng…
- Cung cấp cho học sinh một số quy tắc chính tả:
18
+ Quy tắc viết g/gh; ng/ngh; k/c/q …
+ Quy tắc viết âm đệm u/o; âm i/y …
Trong mục giải nghĩa từ của môn tập đọc, từ ngữ, giáo viên giúp học sinh nắm
vững nghĩa của từ, khả năng kết hợp của từ để từ đó góp phần cho học sinh viết đúng
chính tả trong từng văn cảnh cụ thể.
- Rèn cho học sinh có khả năng ghi nhớ: Giáo viên khi chấm bài chính tả, bài
tập làm văn … phát hiện lỗi sai của từng em, yêu cầu em đó ghi lại cho đúng và ghi
nhiều lần.
- Rèn cho học sinh thói quen luôn cẩn thật khi viết bằng cách động viên, khen
thưởng kịp thời những em có tiến bộ. Giới thiệu những bài viết đẹp, đúng chính tả để
khuyến khích các em viết đúng, đẹp như bạn.
- Thay đổi chỗ ngồi: Học sinh viết sai, viết xấu ngồi cạnh bạn viết đẹp, đúng
chính tả để các em có thể tự điều chỉnh lỗi sai của mình.
- Thường xuyên nhắc nhở, giám sát những em có tính viết “cẩu thả”, “qua loa”,
“đại khái”.
Tỉ lệ % 50,0 23,6 8,8 11,8 2,9 2,9 0 0 0
* Những mặt áp dụng được:
- Thực hiện tốt phương châm “thầy chủ đạo, trò chủ động”. Quan tâm và uốn
nắn học sinh trong từng tiết học giúp các em có ý thức viết đúng, viết đẹp.
Lỗi xét Phụ âm đầu Về vần Âm cuối Dấu thanh
34 21 5 4 4
20
- Áp dụng biện pháp này giúp các em phát huy năng lực tự học hỏi, tự rèn luyện
để trau dồi chữ viết của bản thân.
- Dạy theo thực tế để luôn tạo cho các em cảm giác thoải mái, tự tin, biết nhìn
nhận so sánh cái sai, cái đúng để các em luôn hướng tới cái đẹp, cái hoàn thiện.
* Những mặt chưa áp dụng được: Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa giáo
viên và học sinh … vẫn còn những phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của
con mình, hoàn toàn phó mặc cho giáo viên.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN :
21
- Với những biện pháp nâng cao chất lượng viết đúng chính tả chúng tôi đã thu
được những kết quả hết sức khả quan.
- Có những học sinh đầu năm viết xấu, sai lỗi chính tả vậy mà chỉ trong một
thời gian ngắn, các em đã có những nét chữ ngay ngắn, rõ ràng, lỗi chính tả giảm hẳn.
Điều quan trọng là các em đã bắt đầu có thói quan viết cẩn thận, trình bày những bài
viết đẹp, có thẩm mỹ.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, còn những mặt tồn tại mà người thực hiện
không thể thấy được. Vì vậy, chúng tôi tha thiết mong được sự đóng góp từ giáo viên,
quý thầy cô và đồng nghiệp để giải pháp mang lại những kết quả cao hơn.
KIẾN NGHỊ:
* Đối với giáo viên:
- Thường xuyên nhắc nhở, chú ý đến những em viết sai chính tả.
- Thay đổi linh hoạt các phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức để các em
24