SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
CỦA HỌC SINH LỚP 5”
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Với sự phát triển xã hội hiện nay, chúng ta cần có những con người hiện đại, con
người phát triển toàn diện, có đầy đủ các phẩm chất, đạo đức, năng lực, có trình độ, kỹ
thuật để lao động, sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Để có những
con người phát triển toàn diện, đòi hỏi con người đó phải trải qua sự học tập của bản
thân, sự giáo dục của thế hệ đi trước. Trong quá trình học tập có một bậc học rất quan
trọng là bậc học nền tảng cho cả quá trình học tập sau này của học sinh, đó là bậc Tiểu
học. Trong các môn học bắt buộc ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng
bậc nhất. Do đó, giáo viên cần giáo dục cho các em sử dụng tiếng Việt một cách chính
xác, hợp lý vào từng trường hợp giao tiếp và trong học tập. Từ đó, các em sẽ yêu thích và
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một công việc có ý nghĩa rất quan trọng.
Công việc này nhằm nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau. Một trong những mục tiêu cơ bản
nhất là rèn cho học sinh thông thạo 4 kỹ năng nghe, đọc, nói, viết. Muốn đạt mục tiêu
này, chúng ta nhất thiết rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh một cách có hiệu quả. Rèn
luyện ngôn ngữ là một hoạt động giáo dục, giáo dục ngôn ngữ. Nó phải được xây dựng
trên những cở sở lý luận khoa học vững chắc. Muốn thế, chúng ta phải làm sao cho học
sinh nắm vững vốn ngôn ngữ, chuẩn ngôn ngữ để tạo ra những tư liệu ngôn ngữ ngày
càng trong sáng. Nói một cách cụ thể hơn, chúng ta cần tổ chức tốt việc rèn luyện ngôn
ngữ cho học sinh thông qua dạy và học môn Tiếng Việt, xem đó là việc làm trọng tâm,
then chốt không thể thiếu trong trường Tiểu học hiện nay.
Đối với học sinh Tiểu học việc đọc, viết đúng chính tả là điều rất cần thiết để giao
tiếp, học tiếp các lớp trên. Khi đọc một văn bản viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để
hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại, đọc một văn bản nhiều sai sót nhiều về chính tả,
người đọc khó nắm bắt được nội dung văn bản và có thể hiểu sai hoặc không hiểu được
đầy đủ nghĩa của văn bản.
d/ Phương pháp thực hành, luyện tập.
e/ Phương pháp so sánh đối chiếu.
f/ Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu.
III. Giới hạn của đề tài:
Dựa vào quá trình giảng dạy hàng ngày trên lớp, tôi xác định phạm vi nghiên cứu ở
đây là học sinh lớp 5F, Trường Tiểu học An Thạnh 1, phường An Thạnh, thị xã Hồng
Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
IV. Kế hoạch thực hiện:
- Từ ngày 01/8/2011: Lựa chọn nội dung nghiên cứu và đặt tên cho đề tài.
- Từ ngày 05/8/2011: Lập đề cương nghiên cứu đề tài.
- Từ ngày 08/8/2011: Thu thập thông tin và nghiên cứu tài liệu.
- Từ ngày 15/8/2011: Thâm nhập thực tế, tìm nguyên nhân viết sai chính tả của học
sinh và đề ra biện pháp khắc phục.
- Từ ngày 16/8/2011: Tổ chức cho học sinh viết chính tả, khảo sát bằng các bài tập
chính tả, thu thập, tổng hợp, phân tích và so sánh số liệu.
- Từ ngày 4/4/2012: Hoàn thành đề tài.
PHẦN II: NỘI DUNG
@?
I. Cơ sở lý luận:
Trong xã hội phát triển hiện nay, khi mà sự vận dụng chữ viết một mức độ cực kỳ
rộng lớn, việc đọc, viết đúng chính tả đối với con người hiện đại trở thành một yêu cầu
không thể coi nhẹ.
Rèn kỹ năng viết là một trong bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết; là một hoạt động
giáo dục ngôn ngữ, đồng thời cũng là giáo dục về tính chính xác, cẩn thận, kỷ luật và
thẩm mỹ… Nó phải được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Nhưng rèn
luyện nói tốt, viết tốt không thể đơn thuần tập trung vào việc trang bị lý thuyết ngôn ngữ,
lý thuyết khoa học về tiếng Việt mà trước hết và chủ yếu là đưa học sinh vào hoạt động
ngôn từ, hoạt động thực tiễn nói, viết một cách cụ thể. Qua đó hình thành kỹ năng, những
thói quen đúng chuẩn.
Thông qua đề tài này, nhằm giúp học sinh hạn chế tối đa việc viết sai chính tả, nâng cao
2) Khó khăn:
- Lớp còn khá nhiều học sinh có học lực trung bình và học sinh yếu, tỉ lệ học
sinh khá, giỏi chưa nhiều.
- Số lượng học sinh trung bình và học sinh yếu còn viết sai chính tả.
- Còn một số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phụ huynh quan tâm
chưa nhiều đến việc học tập của các em mà giao mọi việc cho nhà trường và giáo viên.
- Chương trình của phân môn Chính tả chỉ có 1 tiết / tuần nên rất khó khăn
trong việc rèn chính tả cho học sinh vì thời lượng quá ít.
- Một số em chưa chịu khó học tập. Chữ viết của các em chưa đúng mẫu chữ,
cỡ chữ, kiểu chữ.
- Trao đổi với các em thì được biết các em không nhớ quy tắc chính tả cơ
bản.
3) Nguyên nhân viết sai chính tả của học sinh lớp 5F:
- Cẩu thả, viết chưa ngay ngắn, các con chữ dính vào nhau, viết thiếu nét,
không rõ nét, đặt dấu thanh không đúng vị trí.
- Lẫn lộn các âm (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối) hoặc sai dấu thanh
(dấu hỏi và dấu ngã).
- Sai nguyên tắc chính tả, cấu tạo âm tiết.
- Quên viết hoa danh từ riêng, tên người, tên địa danh, chưa viết hoa chữ cái
đầu câu. Một số em chưa chịu khó học tập.
- Do phát âm theo phương ngữ, lẫn lộn tiếng này thành tiếng kia.
- Một bộ phận học sinh chưa hứng thú học phân môn Chính tả.
- Ngồi viết chưa đúng tư thế nên cũng ảnh hưởng một phần đến việc viết sai
chính tả.
IV. Biện pháp khắc phục lỗi chính tả:
1) Đối với học sinh:
- Cần luyện đọc rành mạch, phát âm đúng, rèn luyện chữ viết.
- Phải rèn luyện tính chính xác, cẩn thận, kỷ luật, thẩm mỹ, không viết cẩu thả.
- Phải hiểu rõ vai trò, mục đích, tính quan trọng của phân môn Chính tả; ngồi viết
phải đúng tư thế.
chức cho các nhóm học sinh lập sổ tay chính tả của nhóm. Giáo viên hướng dẫn học sinh
ghi các lỗi chính tả mà học sinh trong nhóm mắc trong các bài viết và cách viết đúng các
từ đó. Sau khi ghi các từ mắc lỗi và cách sửa, học sinh cần ghi thêm các từ em biết có các
âm đầu, vần, thanh, các từ là tên riêng tương tự như các từ mà em đã mắc lỗi để giúp các
em biết cách viết đúng nhiều từ.
Phương pháp thực hành giao tiếp:
Thực hành giao tiếp trong dạy học chính tả là chủ yếu thực hành giao tiếp bằng chữ viết
ghi lại các đơn vị có nghĩa. Muốn cho học sinh học tập theo phương pháp này, giáo viên
cần cho học sinh biết nghĩa của các đơn vị giao tiếp (từ, câu), chuẩn chữ viết của các đơn
vị này. Sau khi hoàn thành bài viết, cần cho học sinh kiểm tra lại để sửa lỗi, sao cho các
đơn vị giao tiếp trong bài đều đúng với chuẩn chính tả.
Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ đoạn văn các em sẽ
viết, hiểu nội dung đoạn văn, viết trước một số từ học sinh dễ sai. Sau đó, giáo viên đọc
cho các em viết hoặc cho các em nhớ từng câu để viết lại. Sau khi học sinh viết xong cả
đoạn giáo viên cho các em tự soát lỗi của mình rồi sau đó đổi bài cho bạn và tự sửa lỗi.
Khi giáo viên chấm bài, cần chỉ ra những lỗi trong bài chưa được sửa và chỉ ra cách sửa.
Phương pháp sử dụng trò chơi học tập: Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần xác
định mục đích của trò chơi là nhằm củng cố cách viết đúng âm, vần, thanh điệu nào. Sau
đó, giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với mục đích. Trò chơi chính tả cần có nội
dung bám sát chương trình chính tả lớp 5. Nên có những trò chơi giúp học sinh nhớ cách
viết âm đầu, vần, thanh điệu của một số từ học sinh viết sai do ảnh hưởng của phát âm địa
phương, một số trò chơi giúp học sinh phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài viết. Trước
khi tổ chức chơi, giáo viên cần nêu rõ luật chơi, cách tiến hành chơi để tất cả cho học
sinh đều biết cách chơi. Giáo viên nên lựa chọn các trò chơi có luật đơn giản, có thể dùng
để dạy học nhiều hiện tượng chính tả, dễ tìm kiếm vật liệu để chuẩn bị.
Phụ đạo học sinh yếu trái buổi (mỗi tuần 1 đến 2 buổi): Yêu cầu học sinh viết một
đoạn chính tả trong bài tập đọc vừa học hay bài chính tả đã viết rồi cho học sinh viết lại
hoặc hướng dẫn học sinh sửa lỗi chính tả của bài chính tả trước. Sau đó cho học sinh làm
bài tập theo yêu cầu đặt ra, bài tập đưa ra thường sát với chương trình học của học sinh
và có kế hoạch cụ thể từ đầu năm học. Trong phần hướng dẫn làm bài tập, trước hết là
6
5
4
9
29,4
17,6
14,7
11,7
26,4
Nhận xét:
Qua bảng số liệu cho thấy học sinh viết sai chính tả khá nhiều. Trước khi đọc cho
học sinh viết, tôi đã hướng dẫn tìm từ, phân tích cấu tạo từ và giải nghĩa từ khó rồi, cho
học sinh luyện viết các từ khó rất kĩ, nhưng học sinh còn viết sai.
Bài chính tả ở tuần học thứ 12:
Mùa thảo quả
Sự sống cứ tiếp tục trong âm thầm, hoa thảo quả nảy dưới gốc cây kín đáo và lặng lẽ.
Ngày qua, trong sương thu ẩm ướt và mưa rây bụi mùa đông, những chùm hoa khép
miệng bắt đầu kết trái. Thảo quả chín dần. Dưới đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên
những chùm thảo quả đỏ chon chót, như chứa lửa, chứa nắng. Rừng ngập hương thơm.
Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.
Theo Ma Văn Kháng
Các từ học sinh viết sai Từ đúng sau khi sửa
Số lượng
học sinh
Tỉ lệ
%
+ ẩm ước
+ gây bụi
+ lặng lẻ
+ ẩm ướt
Các từ học sinh viết sai Từ đúng sau khi sửa
Số lượng
học sinh
Tỉ lệ
%
+ khảng đặc + khản đặc 2 5,8
+ râm rang + râm ran 2 5,8
Nhận xét:
Qua bảng số liệu cho thấy, sau nhiều tuần rèn luyện, củng cố kiến thức chính tả số lượng
học sinh viết sai rất ít. Điều này cho thấy áp những biện pháp khắc phục rất hiệu quả.
Bài chính tả ở tuần học thứ 29:
Cô gái của tương lai
Qua một cuộc thi trên mạng in-tơ-nét, bé Lan Anh 15 tuổi được mời làm đại biểu
của Nghị viện Thanh niên thế giới năm 2000 (tổ chức tại Ốt-xtrây-li-a). Em đã đặt chân
tới 11 quốc gia khi chưa tròn 17 tuổi và đã viết hàng trăm bài báo. Trong mọi cuộc gặp
gỡ quốc tế, Lan Anh đã trình bày trôi chảy những vấn đề mà em quan tâm bằng tiếng
Anh.
Nhìn vào những gì Lan Anh đã đạt được ngày hôm nay, có thể tin rằng em chính là
một trong những mẫu người của tương lai.
Theo Hoàng Duy
TT Các từ học sinh viết sai Từ đúng sau khi sửa
Số
lượng
học
sinh
Tỉ lệ
%
+ gặp gở + gặp gỡ 2 5,8
+ Ốt-trây-li-a + Ốt-trây-li-a 1 2,9
Nhận xét:
bay l Ï… , con l , đại d , v … lên , t lai , hạt s , yêu
th , s Ø núi , sung s Ù.… , th lượng , chán ch Ø
Bài 9: Lựa chọn vần iêt hay iêc điền vào chỗ trống cho đúng:
th Ï… thòi , bữa t Ï… , thương t Ù. , công v Ï… , l Ï… sĩ , tiêu d Ï… ,
m Ï… mài , mải m Ù. , xanh biêng b Ù. , nh Ï… tình , th Ù. kế
Bài 10: Chọn vần in hay inh điền vào chỗ trống cho đúng:
học s , ăn x , niềm t , thông t , tài ch Ù. , x đẹp , t tức, bịn
r Ï… , ch Ù. phủ
Bài 11: Chọn vần im hay iêm điền vào chỗ trống cho đúng:
ch sẻ , ch bao , que d , thí ngh Ï , ch Ø đắm , lim d ,
ch ngưỡng , kh tốn , trái t
KẾT QUẢ TỪ PHIẾU BÀI TẬP CHÍNH TẢ
Bài 1: Điền tr hay ch vào chỗ trống cho đúng:
ải tóc , gương eo ên tường , vợ ồng , cô tổng phụ ách , tạm
ú , ọng điểm , chán ường
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
học
sinh
Tỉ lệ
%
1 trải tóc chải tóc 1 2,9
2 chán trường chán chường 1 2,9
Bài 2: Lựa chọn v , d , gi , r điền vào chỗ trống cho đúng:
ó thổi , oanh nghiệp , bay út lên cao , niềm ui , đứng ậy, thầy áo ,
cơn ận , ì ào , ung inh , bứt ứt , bối ối
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
2 lũng cũng lủng củng 1 2,9
Bài 5: Lựa chọn vần an hay ang điền vào chỗ trống:
l Ø… xóm , t vỡ , b Ø… ghế , v Ø… bạc , t Û… đá , gi khổ , buôn
b Ù.…, h Ï… chế , xếp h Ï…
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
học sinh
Tỉ
lệ
%
1 hạng chế hạn chế 2 5,8
Bài 6: Lựa chọn vần ân , âng hay ăn , ăng điền vào chỗ trống:
cái c , c thẳng , n cao , đôi ch , chắc ch Ù.…, nhân d , ng
hàng , ng nga , ch nuôi , b khuâng , n nỉ
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
học sinh
Tỉ
lệ
%
1 căn thẳng căng thẳng 1 2,9
2 ngăn nga ngân nga 1 2,9
3 năng nỉ năn nỉ 1 2,9
Bài 7: Lựa chọn vần uôn hay uông điền vào chỗ trống:
s sẻ , m Ï… màng , b Ø…… lái , ng Ø… nước , kh mặt ,
r Ø… bỏ , tiếng ch , b bán , cuồn c Ï… , ch Ø ngựa
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
r Ï… , ch Ù. phủ
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
học sinh
Tỉ
lệ
%
Bài 11: Chọn vần im hay iêm điền vào chỗ trống cho đúng:
ch sẻ , ch bao , que d , thí ngh Ï , ch Ø đắm , lim d ,
ch ngưỡng , kh tốn , trái t
TT Các từ học sinh viết sai Kết quả đúng
Số
lượng
học sinh
Tỉ
lệ
%
1 chim bao chiêm bao 1 2,9
2 chim ngưỡng chiêm ngưỡng 1 2,9
Nhận xét chung về các bài tập: Bài tập này được kiểm tra vào tuần thứ 29 của năm học
nên việc học sinh sai chính tả rất ít. Chứng tỏ học sinh đã tiến bộ rất nhiều sau quá trình
rèn luyện (29 tuần).
PHẦN III: KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
Sau thời gian tìm hiểu nghiên cứu, khảo sát, thu thập, phân tích, xử số liệu và các
thông tin từ học sinh, kết quả đề tài Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lỗi chính tả
của học sinh lớp 5F, Trường Tiểu học An Thạnh 1, tôi đã tìm ra những nguyên nhân chủ
yếu mà học sinh viết sai chính tả. Từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục hữu hiệu. Vận
dụng các biện pháp này kết hợp cùng các phương pháp tích cực vào giảng dạy các bài