SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 5”
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hiền
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Tân, huyện Phú Tân
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức
của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Trong đó phân môn Chính tả
có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy và học Tiếng Việt. Phân môn Chính tả
giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là
năng lực thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hoá, Tiếng Việt chuẩn mực. Phân môn
Chính tả còn rèn cho học sinh một số phẩm chất như: Tính cẩn thận, kiên trì, óc
thẩm mĩ, bồi dưỡng cho các em lòng yêu Tiếng Việt và chữ viết Tiếng Việt. Chính
vì vậy phân môn Chính tả chiếm vị trí rất quan trọng đối với học sinh tiểu học vì
giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành chính tả cho
học sinh. Vì thế mà phân môn Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập.
Học tốt phân môn Chính tả giúp học sinh hiểu đúng nghĩa Tiếng Việt và học
tốt các phân môn khác như: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn Tạo tiền đề
học tốt cho các môn học khác. Chính vì điều đó mà trong nhiều năm qua khi giảng
Trang
1
dạy tôi luôn tìm hiểu những lỗi mà học sinh thường mắc phải khi viết chính tả từ
đó tôi tìm mọi cách để khắc phục cho học sinh những lỗi sai đó.
Thực tế dạy chính tả ở trường tiểu học không phải ở lớp 1, lớp 2 các em viết
sai mà cả ở lớp 5 học sinh cũng mắc lỗi chính tả rất nhiều, nguyên nhân chủ yếu là
giáo viên chưa quan tâm nhiều đến phân môn Chính tả, ít tập trung uốn nắn sửa sai
kịp thời cho học sinh.
Một số giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy học phân môn Chính tả với dạy
học các môn học khác.
Một số giáo viên chưa nắm vững quy tắc chính tả, phát âm chưa chuẩn, do
một số em viết xấu, viết sai. Cụ thể các lỗi mà học sinh lớp tôi thường mắc là các
tiếng có âm đầu tr/ch, s/x, d/gi; âm cuối an/ang, c/t, n/ng, ac/at, ât/âc âm chính
ai/ay/ây và các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã…Từ đó tôi có kế hoạch bồi dưỡng
những học sinh viết đúng, viết đẹp và đề ra biện pháp giúp đỡ những học sinh viết
sai, viết xấu, viết chưa đúng tốc độ.
Với những học sinh viết đẹp tôi hướng dẫn các em về nhà luyện viết thêm vào
cuốn vở luyện viết ở nhà sau đó lên lớp giáo viên chấm điểm, sữa sai cho các em
còn với nhóm học sinh viết sai tôi giành thời gian hợp lí sửa sai cho các em vào 15
Trang
3
phút đầu giờ, những tiết ôn luyện buổi chiều, sửa sai thường xuyên, liên tục. Ngoài
ra tôi còn dặn học sinh chuẩn bị tốt bài chính tả cho tuần sau.
Ví dụ: Trước khi viết bài chính tả tôi thường dặn học sinh về nhà đọc bài
trước từ 3 đến 4 lần và tìm từ khó trong bài rồi dùng viết chì gạch chân dưới mỗi từ
khó sau đó tập phát âm rồi viết từ khó đó vào vở nháp từ 4 đến 5 lần. Làm như vậy
nhằm giúp học sinh đọc hiểu được nội dung bài chính tả, rèn luyện chữ viết và
giúp học sinh viết nhanh hơn, viết đúng hơn. Đến khi chấm bài tôi thường xuyên
chấm bài cho học sinh nhất là với những học sinh hay viết sai tôi lại yêu cầu các
em về nhà luyện viết lại các từ sai đó vào vở nháp, vở luyện viết ở nhà sau đó
giành thời gian sửa cho học sinh vào 15 phút đầu giờ, các tiết ôn luyện, sửa ở tất cả
các môn học nếu các em viết sai, đặc biệt phải sửa sai liên tục nhiều lần cho các
em.
Biện pháp 2. Lập sơ đồ lớp học:
Sau khi phân loại đối tượng học sinh tôi biết trong lớp em nào viết đẹp, em
nào viết xấu, viết sai lỗi chính tả và tôi tiến hành lập sơ đồ lớp học bằng cách cho
học sinh giỏi, học sinh viết đúng, viết đẹp ngồi cạnh em viết sai lỗi chính tả để
cùng phối hợp với giáo viên kèm cặp, giúp đỡ các em trong học tập nhất là trong
giờ chính tả.
Ví dụ: Khi học sinh về nhà đọc bài, tập viết các từ khó hôm sau lên lớp trước
Trong quá trình dạy tôi thường xuyên củng cố khắc sâu cho học sinh các mẹo
luật, quy tắc chính tả vì tư duy “máy móc”, trí nhớ “ máy móc” của các em còn
chiếm ưu thế nên rất thích hợp cho việc xây dựng các mẹo luật, quy tắc chính tả vì
nó vừa dễ nhớ lại vừa dễ áp dụng khi các em viết chính tả.Vì thế ngay từ bài chính
tả đầu tiên của chương trình lớp 5 bài “ Thư gửi các học sinh” tôi đã giúp học sinh
ghi nhớ một số quy tắc chính tả như:
* Quy tắc chính tả với c/k; g/gh; ng/ngh.
Đứng trước i, e, ê viết là k, đứng trước các âm còn lại viết là c.
Đứng trước i, e, ê viết là gh, đứng trước các âm còn lại ghi là g.
Đứng trước i, e, ê viết là ngh, đứng trước các âm còn lại viết là ng.
* Để phân biệt âm đầu s/x tôi cho học sinh làm bài tập 3 SGK Tiếng Việt 5 tập 1
(trang 117).
Nghĩa của các tiếng ở mỗi dòng dưới đây có điểm gì giống nhau?
Sóc, sói, sẻ, sáo, sam, sên, sò, sứa, sán.
Sả, si, sung, sen, sim, sắn, sấu, sậy, sồi.
Từ đó học sinh sẽ rút ra được điểm giống nhau của dòng thứ nhất là các tiếng
đều chỉ tên con vật còn dòng thứ hai các tiếng đều chỉ tên loài cây. Từ đó giáo viên
khắc sâu cho học sinh biết hầu hết các từ chỉ tên cây và chỉ tên con vật đều bắt đầu
bằng S.
* Phân biệt âm đầu tr/ch:
Để phân biệt tr/ch tôi lưu ý học sinh khi gặp một chữ bắt đầu bằng ch, nếu
thấy chữ đó mang dấu huyền, dấu ngã và dấu nặng thì đấy là từ Thuần Việt. Ngược
Trang
6
lại một chữ viết với tr nếu mang một trong ba dấu thanh nói trên thì chữ đó là từ
Hán Việt.
Ví dụ: Từ Hán Việt mang một trong ba dấu huyền, ngã, nặng thì phụ âm đầu
chỉ viết tr ( không viết ch) trà, tràng,trào, trầm, trì, triều, trình, trùng, trại, trạm,
trạng…
nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang
thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi ( hoặc ngược lại).
Ví dụ: Luật trầm bổng:
* Bổng
Ngang + hỏi: Mơn mởn, năn nỉ, mong mỏi, nông nổi…
Sắc + hỏi: Sắc sảo, trắng trẻo, nhắc nhở, nóng nảy…
Hỏi + hỏi: Lảo đảo, mủm mỉm, lủng lẳng…
* Trầm
Huyền + ngã: Tầm tã, tròn trĩnh, xoàng xĩnh…
Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo…
Trang
8
Ngã + ngã: Lõng bõng, nhõng nhẽo, lõm bõm…
Biện pháp 5. Cách đọc bài của giáo viên:
Khi đọc chính tả cho học sinh viết tôi luôn chú ý phát âm đúng, rõ ràng, tốc
độ đọc phù hợp không quá nhanh cũng không quá chậm, nếu đọc quá nhanh học
sinh sẽ không viết kịp mà nếu đọc chậm thì không kịp thời gian cho tiết học. Vì thế
trước khi lên lớp tôi thường đọc trước bài chính tả và ngắt cụm từ cho phù hợp để
không lúng túng khi đọc bài cho học sinh viết, nếu đọc câu văn quá dài học sinh sẽ
không viết được mà nếu có viết kịp thì cũng sai lỗi chính tả. Do đó khi đọc bài cho
học sinh viết tôi thường quan tâm nhiều đến đối tượng học sinh viết sai chính tả,
lúc này tôi đến đến gần các em đọc lại cho các em viết nhưng phải thật nhỏ nhẹ
tránh làm ảnh hưởng đến cả lớp.
Biện pháp 6. Sử dụng biện pháp giải nghĩa từ kết hợp với phân tích cấu tạo
tiếng:
Để giúp học sinh viết đúng chính tả ngoài những biện pháp trên thì việc giải
nghĩa từ cũng là việc làm cần thiết trong tiết chính tả, khi mà học sinh không thể
phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng. Có nhiều cách để
giải nghĩa từ cho học sinh có thể cho học sinh đọc chú giải ,đặt câu, tìm từ đồng
10
Hay khi dạy bài chính tả “Mùa thảo quả” SGK Tiếng việt 5 tập 1 trang 114.
Tôi sẽ chọn cho học sinh làm bài tập 2b: Tìm các từ ngữ chứa tiếng ghi ở cột dọc
trong bảng sau:
bát mắt tất mứt
bác mắc tấc mức
Biện pháp 8. Tạo hứng thú học tập cho học sinh:
Trong giờ học chính tả, để học sinh hứng thú hơn trong học tập thì khi học
sinh phát biểu đúng, viết đúng, làm bài tập đúng giáo viên cần động viên, khuyến
khích khen thưởng kịp thời, bởi các em rất thích được khen, khi được khen các em
sẽ càng hứng thú hơn trong học tập. Bên cạnh đó phần luyện tập trong tiết chính tả
cũng rất quan trọng, để học sinh làm tốt phần luyện tập tôi thường xuyên thay đổi
hình thức tổ chức hoạt động trong một tiết học tùy theo nội dung bài tập, tôi có thể
cho học sinh làm việc cá nhân, theo cặp nhóm ( tổ) để tránh sự nhàm chán cho học
sinh khi học phân môn Chính tả.
Ví dụ: Khi dạy bài chính tả “ Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” SGK Tiếng
việt 5 tập 1 trang 86. Tôi lại tiếp tục lựa chọn bài tập phân biệt âm cuối n / ng bài 2
b: Mỗi cột trong bảng dưới đây ghi một cặp tiếng chỉ khác nhau ở âm cuối n hay
ng. Hãy tìm những từ ngữ có các tiếng đó.
man vần buôn vươn
mang vầng buông vương
Trang
tranh trưng trúng trèo
chanh chưng chúng chèo
11
Với bài tập này tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi tiếp sức. Trước tiên tôi
yêu cầu học sinh đọc đề bài rồi tìm hiểu yêu cầu của bài tập. Tôi chia lớp thành
bốn đội mỗi đội cử 4 bạn cùng tham gia chơi sau đó tôi phổ biến luật chơi và cho
học sinh cùng tham gia chơi sau thời gian 4 phút giáo viên cùng học sinh nhận xét
đẹp không còn sai lỗi chính tả. Đặc biệt là các em đã nắm được quy tắc chính tả và
biết vận dụng quy tắc đó vào thực tiễn. Qua đó mở rộng vốn hiểu biết về cuộc
sống. con người góp phần hình thành nhân cách con người mới, cụ thể kết quả đạt
được qua từng thời điểm như sau:
Lớp 5A Điểm 9 -10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm dưới 5
TSHS: 35 SL TL SL TL SL TL SL TL
Đầu năm 7 20 11 31,43 9 25,71 8 22,86
GHKI 12 34,28 11 31,43 7 20 5 14,29
CHKI 16 45,72 15 42,86 4 11,42 0
GHKII 19 54.28 14 40 2 5.72
V. ĐÁNH GIÁ VỀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN:
Đề tài “ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5”
được Hội đồng giáo dục Trường Tiểu học Phú Tân ủng hộ và nhất trí cao. Bởi đề
Trang
13
tài phù hợp với tình hình thực tế trong giảng dạy phân môn Chính tả hiện nay.
Chính vì vậy mà ngay sau khi đề tài được triển khai đã được đội ngũ thầy( cô) giáo
nhiệt tình hưởng ứng và âp dụng vào giảng dạy phân môn Chính tả trong nhà
trường bước đầu đạt hiệu quả đáng khích lệ.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
* Với giáo viên:
Người giáo viên phải có tấm lòng yêu thương học sinh, phải quan tâm, gần
gũi, có lòng vị tha bao dung, công bằng với các em. Chú trọng đến gợi nhu cầu
nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học. Động viên và tạo niềm tin cho học
sinh học yếu phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện.
Phải luôn đổi mới hình thức tổ chức hoạt động, cải tiến phương pháp luyện
viết chính tả cho học sinh và kết hợp tốt giữa dạy chính tả với các phân môn trong
môn Tiếng Việt và các môn học khác.
* Với lãnh đạo: