tailieuonthi
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1. Họ và tên: LƯƠNG NGUYỄN BẢO CHÂU
2. Ngày tháng năm sinh: 20 – 05 – 1974
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 322/33 KP1 Phường Trung Dũng Biên Hoà – Đồng Nai
5. Điện thoại: CQ: 0613 824902 ; NR: 0613918316 ;
ĐTDĐ: 0982409677
6. FAX:
EMAIL:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Trịnh Hoài Đức
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị ( hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học Sư phạm
- Năm nhận bằng: 2004
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo viên Tiểu học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giáo viên tiểu học
- Số năm có kinh nghiệm: 18 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Một vài kinh nghiệm trong việc rèn giải toán có lời văn.
+ Một vài kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn tập
đọc lớp 4
+ Một vài biện pháp giảm bớt lỗi chính tả cho học sinh Tiểu học.
+ Một vài kinh nghiệm trong việc tổ chức các trò chơi giúp học sinh lớp 4
Trường Tiểu học Trịnh Hoài Đức học Tốt khái niệm và những kiến thức cơ
bản vế phân số.
Sáng kiến kinh nghiệm
2
3
3
4
5
5
5
5
B. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: .............
I. Nội dung nghiên cứu
............................................
5
1. Thống kê lỗi – nguyên nhân mắc lỗi ...................................
5
2. Một số biện pháp khắc phục
...................................
7
II. Kết quả nghiên cứu
...............................
13
C. KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ: 14
...........................
14
I. Bài học kinh nghiệm
II. Kết luận
...............................
14
...........................
14
bắt đầu làm quen với chữ Việt. Đó là một kĩ năng cần được hình thành, làm
nền tảng trong quá trình giúp trẻ học tập, giao tiếp, hoà nhập cùng cộng đồng.
Muốn viết đúng chính tả ta phải tuân theo những quy định, quy tắc đã được
hình thành.
-Hiện nay, tiếng Việt dùng hệ chữ viết
như ký tự Latin gọi là chữ Quốc Ngữ.
Theo tài liệu của những nhà truyền
giáo Bồ Đào Nha lúc trước, chữ Quốc
Ngữ phát triển từ trước thế kỷ thứ 17
rồi được chuẩn định do công của một
nhà truyền giáo người Pháp tên là
Alexandre de Rhodes (1591–1660).
Chân dung Alexandre de Rhodes
- Qua hàng trăm năm, đã có rất nhiều cuộc thảo luận được tổ chức nên đã giúp
quy tắc chính tả tiếng Việt dần được điển chế hoá tới một mức độ khả quan
hơn. Song song đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự chuẩn
hoá của mã chữ Unicode đã mang tính quyết định trong việc hệ thống hoá
những quy tắc về chính tả tiếng Việt. (sưu tầm từ internet)
- Theo chương trình giáo dục, khi trẻ bắt đầu làm quen với chữ Việt, việc học
đọc-viết là những kĩ năng được tiến hành song song và có vai trò quan trọng
như nhau.Trong thực tế, mặc dù được dạy khá kĩ nhưng học sinh vẫn viết sai
lỗi chính tả rất nhiều. Khi chấm bài của các phân môn Tiếng Việt thậm chí cả
lời giải của môn Toán tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài
viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của
các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao
tiếp bằng văn bản (làm văn, các bài tập luyện từ và câu...), làm các em mất tự
tin, trở nên rụt rè, nhút nhát khi thể hiện khả năng học tập trước tập thể; kết
quả học tập thấp dẫn đến tâm lí chán học, không thích học.
đến các môn Ngữ âm học, Tiếng Việt thực hành... nhằm mở mang kiến thức
giúp việc dạy học của mình đạt kết quả cao hơn.
- Môi trường làm việc có nhiều đồng nghiệp chuyên môn vững vàng,
Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện giúp giáo viên phát triển tay nghề.
2. Khó khăn:
- Sỉ số học sinh quá đông (nhiều năm nay luôn 56 học sinh / lớp trở lên)
dẫn đến việc theo sát, giúp đỡ cho từng cá thể học sinh trong lớp vượt quá khả
năng của giáo viên do không đủ thời gian.
- Kĩ năng viết chính tả của các em không đồng đều. Mỗi em sai chính tả
ở những lỗi khác nhau. Vốn từ ngữ các em hạn hẹp do học sinh đa số chỉ
thích đọc truyện tranh hơn truyện có nhiều kênh chữ.
3. Điều tra cơ bản:
- Theo sự quan sát và ghi nhận tôi đã phân loại những học sinh viết sai
nhiều lỗi chính tả theo 3 nhóm cơ bản:
Lớp
Nhóm 1
HS khuyết tật nhẹ
trí tuệ
( 3,6%)
Nhóm 2
HS chưa
chăm học, kĩ
năng viết chưa tốt
Nhóm 3
HS khiếm khuyết
khả năng ngôn
8
9
10
4/6 56
2
2
3
2
2
5
4
9
8
13
6
4/7 58
2
2
3
5
4
5
5
10
15
7
4/2 56
5
2
3
đưa ra các bài tập, những hình thức, phương pháp lên lớp giúp học sinh ghi
nhớ các qui tắc viết, hình thành kĩ năng nhận biết, viết đúng chính tả và nhớ
những mẹo vặt chính tả.
V. Phương pháp nghiên cứu:
- Quan sát, ghi nhận, thống kê các lỗi chính tả ở những đối tượng học
sinh, tôi tìm hiểu, tham khảo các tài liệu về qui tắc, mẹo vặt viết chính tả qua
sách báo, thông tin qua mạng internet, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của
đồng nghiệp để lên kế hoạch dạy học.
VI. Kế hoạch nghiên cứu:
- Việc tìm hiểu những lỗi sai chính tả của học sinh là một quá trình lâu
dài, kinh nghiệm được đút kết không chỉ trong một năm học mà có thể qua
nhiều năm giáo viên mới nắm bắt hết những sai sót của học sinh và đề ra
hướng khắc phục.
- Thông thường trong tháng đầu nhận lớp tôi quan sát các lỗi học sinh
thường mắc phải,đó là những đối tượng nằm trong nhóm nào, các em thường
mắc lỗi chính tả nguyên nhân do đâu ( do phát âm sai, không hiểu nghĩa từ,
không phân biệt được các hiện tượng chính tả gần giống nhau ...)
- Lên kế hoạch giảng dạy, vừa dạy vừa rút kinh nghiệm vừa theo dõi sự
chuyển biến của học sinh.
B. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
I. Nội dung nghiên cứu:
1. Thống kê lỗi – nguyên nhân mắc lỗi:
- Đối với nhóm học sinh khuyết tật nhẹ về trí tuệ và khiếm khuyết khả năng
ngôn ngữ ( nói lắp, nói ngọng) các em sẽ có xu hướng đọc sao viết vậy theo ý
chủ quan của bản thân nên các em sai rất nhiều do nhận thức chưa đầy đủ và
do kĩ năng đọc, viết kém. Ở những đối tượng này lỗi chính tả rất nhiều ngay
cả những từ thông dụng. Vì vậy tôi chủ yếu hướng dẫn kĩ học sinh kĩ năng
nghe và phát âm đúng để hạn chế lỗi chính tả. Tôi thường xuyên theo dõi từng
Sáng kiến kinh nghiệm
l/ n ( Hải Dương, Hưng Yên...) ; r/g ( cá gô, gung ginh ...), ...Để sửa lỗi này
luyện phát âm đúng là quan trọng nhất.
c/Về âm chính: học sinh hay mắc các lỗi như sau:
- ao/au/âu: cây cao, mào sắc, kho báo, màu nhiệm,...
-ai/ay/ây : dảy lụa, thức dạy, dậy dỗ...
- ăc/âc ; / ăt / ât : nhấc nhở, nhắc lên, bặt lửa, im bật...
- om/ôm/ơm: đóm lửa, thom tho, cây rôm, ...
- iu/iêu: diệu dàng, kì dịu...
- ip / iêp: kiệp thời, dịp lục...
- ăm / âm: xanh thấm, lăm thăm
- im / iêm / êm: tim thuốc, khim tốn, im ái...
- ăp / âp ; ăn /ân; ăng / âng: nói lấp, tắp nặp, nhân nhó, lẳn thẳn, vằng trăng, ...
- ưu / ươu: con hưu, bươu điện
- uôm / ươm: cánh bừm, nhượm vải...
- oi/ôi : thổi sắc, dữ dọi, ...
- ong/ông: cánh đòng, lúa làm đồng...
- ui / uôi : sỏi cụi, cúi năm, cặm cuội...
* Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng con chữ a trong các vần ay, au( máy bay, đoàn
tàu...), các nguyên âm đôi /iê, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia, ya;
ươ, ưa; uô, ua (khiêng, khuyên; chia, khuya ; thương, thưa ; chuông,
chua); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví dụ: xum xuê, lòa
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
6
đó học sinh mới có thể giải mã âm thanh bằng chữ viết một cách chính xác.
- Việc luyện phát âm cho học sinh đòi hỏi tốn nhiều thời gian. Luyện cho các
em đọc đúng không chỉ trong giờ các phân môn tiếng Việt mà ở tất cả các giờ
học khác như: Toán, Lịch sử và địa lí, Khoa học...Tôi luôn khuyến khích học
sinh tập phát âm những từ hay lẫn lộn ( n/l; r/g; ch/ tr…) một cách tích cực,
không chỉ luyện trong giờ học mà còn luyện cả khi giao tiếp bằng lời nói cùng
mọi người, cả lúc ở trường hoặc ở nhà. Việc này đôi khi gặp trở ngại lớn là do
thói quen phát âm trong gia đình của trẻ. Ở lớp giáo viên chỉnh sửa nhưng về
nhà môi trường giao tiếp thường xuyên, chiếm nhiều thời gian hơn ở trường
trẻ sẽ bị tác động mạnh. Do đó nếu được sự hậu thuẫn từ phía gia đình cùng
nhà trường trẻ sẽ có cơ hội hoàn thiện cách phát âm nhanh hơn.
- Khi luyện trẻ phát âm, tôi yêu cầu nhìn khẩu hình và lắng nghe âm phát ra từ
giọng đọc mẫu ( giáo viên, học sinh), sau đó tập phát âm theo mẫu. Đối với
học sinh đọc sai l/n, ch/tr, r/g, r /gi… kiên trì tập động tác phối hợp giữa lưỡi,
vòm họng và chân răng sẽ khắc phục được khuyết điểm này. Việc luyện phát
âm đúng không phải mục đích giúp các em phát âm thật chuẩn chính âm và
làm mai một tiếng địa phương - thứ tài sản văn hóa của vùng, miền; tài sản
của dân tộc- mà là giúp các em viết đúng chính tả khi tính tự giác, ý thức của
các em chưa cao ( nhất là các em học sinh ở đầu cấp).
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
7
tailieuonthi
- Khi gặp những từ khó, ít gặp tôi giúp các em đọc đúng các từ và nhắc học
sinh lưu ý ghi nhớ, giảng nghĩa từ...Ví dụ: cộc tuếch, nghếch, ngoằn ngoèo,
như một buổi trò chuyện trao đổi kinh nghiệm, tránh cho các em cảm giác
nặng nề của một tiết học cung cấp kiến thức.
- Qui tắc viết các phụ âm: c / k ; g /gh ; ng / ngh. Học sinh đã được giáo viên
cung cấp qui tắc viết từ lớp Một nhưng các em cũng rất dễ nhầm lẫn. Vì vậy,
khi gặp các hiện tượng chính tả này tôi đặt câu hỏi nhắc lại hoặc chơi trò chơi
ghép chữ để giúp học sinh khắc sâu kiến thức:
k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm: i, e ,ê
B. Giáo dục ý thức:
a. Hình thành tính cẩn thận:
Trong bài viết của học sinh đôi khi các em bị sai lỗi chính tả cũng do
bỏ dấu thanh không đúng vị trí hoặc viết dấu không rõ ràng, chữ viết không rõ
nét. Tôi thường nhắc các em cẩn thận khi viết, đặt dấu thanh đúng vị trí, viết
dấu, chữ phải ngay ngắn. Sự tập trung trong công việc, học tập chính là yếu tố
quan trọng giúp trẻ thành công. Vì thế tôi luôn chú tâm theo dõi thái độ, tác
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
8
tailieuonthi
phong của trẻ để giúp các em có nề nếp học tập nghiên túc, phát huy hết năng
lực học tập của mình. Hàng tuần, trong buổi sinh hoạt lớp cuối tuần, ngoài
những hoạt động sinh hoạt lớp cần có, các em cùng tổng kết xem các bài viết
có liên quan đến chữ Việt, nếu không mắc một lỗi nào sẽ được nhận bông hoa
vinh dự “Người viết chính tả tốt nhất trong tuần”.
b. Làm các bài tập chính tả thông qua các trò chơi tạo hứng thú
cho việc học chính tả:
cuội
sỏi
cụi
- Bài tập chọn lựa: Trò chơi: Bạn là người thông minh.
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Đóa hoa hồng mới nở trông thật .......... (xinh, sinh)
Khi chiều tà, nước biển đổi sang mùa xanh...... ( lục, lụt )
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Học sinh …. đèn học bài….. đêm khuya. (trong, chong)
Lan thích nghe kể……….hơn đọc……….. (truyện, chuyện)
Trời nhiều …….., gió heo ………lại về. (mây, may)
- Bài tập phát hiện, bài tập nhận biết: Trò chơi: Thỏ vào nhầm nhà
* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
Trên bầu trời, đàng chim én đang chao lượng.
Con rắn trường qua bãi cỏ trên sân trườn.
- Bài tập điền khuyết: Trò chơi : Chim về tổ
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
9
tailieuonthi
* Điền vào chỗ trống:
s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ. …uất khẩu, năng….uất.
iêt/ iêc: đi biền b…....., thấy tiêng t…/.., xanh biêng b…/..
* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
c. Sử dụng công nghệ thông tin kích thích sự ham học hỏi cho học
sinh:
Áp dụng công nghệ thông tin tăng hiệu quả giờ học. Nhưng với điều
kiện cơ sở vật chất chưa tiện nghi như trường tôi, khi dạy một tiết bằng CNTT
tốn nhiều thời gian cho khâu chuẩn bị nên đôi khi tôi rất cân nhắc, cân đối
thời gian buổi học vì còn nhiều môn học khác cần phải rèn.
Một số trò chơi, giải nghĩa từ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ấn tượng
và gây hứng thú học giờ chính tả cho học sinh:
Ví dụ: - Giải nghĩa từ rẻo cao bằng hình ảnh các em nắm bắt nghĩa từ dễ dàng
Hơn.
Chính tả ( nghe – viết ) : Mùa đông trên rẻo cao
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
10
tailieuonthi
- Khi dạy bài chính tả Kim tự tháp Ai Cập tôi cho học sinh xem một
đoạn phim tư liệu về kim tự tháp để tạo ấn tượng, kích thích sự ham
hiểu biết cho các em.
Tôi thiết kế trò chơi ô chữ kì diệu, có nhiều cách để xây dựng trò chơi này.
_ Tôi chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến các từ ngữ cần cung cấp hay
củng cố, học sinh đoán ...các em rất hào hứng khi tham gia chơi.
Ví dụ: Củng cố kiến thức cho bài chính tả Mùa đông trên rẻo cao
- Từ khóa có 6 chữ cái, nếu giải đúng một câu hỏi sẽ xuất hiện một chữ cái có
trong từ khóa (là các từ có trong bài chính tả). Các em lựa chọn ngẫu nghiên
vật(đồ vật, cây cối) được viết bằng s ( hoặc ch)… Nếu các em tìm đúng sẽ
được nhìn thấy nụ cười và ngược lại.
- Phát động phong trào sưu tầm tranh ảnh tên các loài cây, con vật
được viết được viết bằng con chữ s và dán vào bảng thi đua của từng tổ có
kèm theo tên các loài cây, con vật đó để cả lớp cùng học tập, rút ra ghi nhớ.
con sam
Sáng kiến kinh nghiệm
chim sáo
Lương Nguyễn Bảo Châu
12
tailieuonthi
con sói
con sứa
- Đôi khi để khởi động cho tiết sinh hoạt lớp cuối tuần ( khoảng 5 phút)
tôi bất ngờ cho các em nghe các loại âm thanh: tiếng chuông reo, tiếng gà
gáy, gà kêu, tiếng chim hót, tiếng kẻng, tiếng thùng va đập vào nhanh… yêu
cầu các em ghi các từ tượng thanh và sắp xếp chúng thành nhóm có tận cùng
là ng hoặc nh.
Hoặc cho học sinh xem các hình ảnh, phim về sự vật có tranh thái bấp
bênh, không vững chắc và học sinh tìm từ thích hợp cho mỗi hình ảnh để học
sinh nhận biết những từ đó thường được viết bằng vần ênh.
Truyện ngụ ngôn nổi tiếng thế giới…. Tôi tóm lược nội dung hoặc để nguyên
bản nếu nội dung ngắn thích hợp độ dài bài viết dành cho học sinh mình đang
phụ trách. Sau những lần đọc (không cho biết trước nội dung) cho các em
viết, tôi nhận thấy rằng nếu bài viết có nội dung hấp dẫn các em sẽ chăm chú
lắng nghe và tích cực viết hơn. Từ đó tôi giáo dục học sinh nhận biết cái hay
cái đẹp của văn học, nhất là văn học nước nhà để các em thấy được sự phong
phú của ngôn ngữ Việt và chỉ có một cách duy nhất để tiếp cận văn hóa là
phải học và viết tốt ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Đó là con đường ngắn nhất,
hay nhất để ta tiếp thu tinh hoa nhân loại và phát triển tinh hoa văn hoá của
đất nước. Từ đó bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt.
- Tôi sưu tầm những tấm gương hiếu học, những bài hát hay về lòng
nhân ái, câu chuyện xúc động lòng người về những tấm gương ham học, yêu
cuộc sống nhưng không thể được sống để tác động đến ý thức, tâm tư tình
cảm của các em như: Để gió cuốn đi (Trịnh Công Sơn), Én nhỏ tung bay ( Lê
Cát Trọng Lý)… để các em viết và suy nghĩ về cuộc sống của mình và của
bạn mà thay đổi tác phong trong học tập. Điều này không phải có hiệu quả tức
thì mà là “mưa dầm thấm đất”. Đôi khi cả đến cuối năm học tôi mới nhận
thấy sự thay đổi ý thức học của các em.
- Giáo dục học sinh lòng tự hào là công dân Việt Nam để nâng cao ý
thức trách nhiệm trong học tập và giữ gìn nét đẹp tâm hồn người Việt.
C. Những biện pháp khác:
- Tôi khuyến khích học sinh sử dụng từ điển chính tả để các em giúp
nhau sửa lỗi, cùng bạn sử dụng chung các từ điển hoặc sách tham khảo, nâng
đỡ nhau trong hoạt động học tập để cùng nhau tiến bộ. Thông qua các hoạt
động này tôi rèn cho các em kĩ năng làm việc tương tác, tìm tòi, thói quen tự
học, tự giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn trong học tập ( ví dụ không biết
viết từ khó như thế nào các em tự tra từ điển chính tả hoặc từ điển tiếng Việt
để viết...). Từ đó các em sẽ được rèn chính tả mọi lúc mọi nơi, hình thành
là tôi có thể rèn chính tả cho các em mọi lúc mọi nơi. Ví dụ : khi học sinh trả
lời câu hỏi của tôi trong các giờ học nếu các em phát âm sai tôi có thể nhẹ
nhàng nhắc đọc lại cho đúng; khi chấm bài cho các ở tất cả các môn học nếu
phát hiện các em sai lỗi chính tả tôi sẽ gạch dưới từ sai và lưu ý các em sửa lại
; khi các em viết sai chính tả làm từ mang nghĩa khác tôi có thể sửa bằng một
câu nói đùa để học sinh ghi nhớ dần.
- Tôi tìm đọc các tác phẩm văn học khi phát hiện có từ ngữ các em ít
gặp ( từ Hán Việt...) nên hay viết sai (đôi khi ngay cả bản thân tôi cũng lúng
túng không biết các từ đó viết như thế nào) tôi sẽ ghi lại và sử dụng chúng
thành các ngữ liệu để rèn chữ ở nhà (trường cửu, trường tồn... ). Đây cũng là
một hình thức cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh.
- Tôi hướng dẫn các em chơi một số trò chơi ngoài giờ học để nâng cao
kĩ năng viết chính tả như: Trước giờ vào học hoặc trong giờ ra chơi các em
kết thành nhóm số lượng tùy ý. Các em có thể chỉ vào bình hoa, chậu cảnh
trong lớp hay bất cứ đồ vật nào trong lớp, ngoài sân trường rồi thi đua tìm từ
có tiếng bắt đầu bằng những âm mà các em hay sai hoặc dấu thanh, vần hay
nhầm lẫn ( s/x; ch/tr ; v /d/gi ; thanh hỏi / thanh ngã ; ...). Ví dụ:
o Chỉ vào chậu cảnh treo trên tường các em thi đua tìm từ có âm s /
x dùng để tả đặc điểm: xanh, xinh, xấu, xơ xác,... sạch, đơn sơ,...
Đôi khi các em tìm đến tôi để nhờ làm trọng tài phân sử đúng,
sai. Tiếng cười rộn rã vang lên sau khi tôi đưa ra kết quả cho dù
các em đúng hay là sai.
o Giờ chơi xuống sân trường tìm và viết các từ chỉ sự vật có thanh
hỏi hoặc thanh ngã: cỏ, bảng, dãy phòng học, phòng hiệu trưởng,
lá cờ đỏ,...
- Khi các em mắc nhiều lỗi chính tả trong bài viết chính khóa, tôi giúp
các em kết thành nhóm đôi bạn để cùng nhau sửa lỗi trong giờ học, giờ
chơi...
- Lớp của tôi đa số là người miền Nam do đó tôi rất chú trọng rèn các
em phát âm chính xác trong giờ tập đọc. Đây cũng là một mắc xích quan
Đó chính là động lực thúc đẩy sự cố gắng học của các em.
- Việc rèn chữ viết, hướng dẫn cách trình bày cũng là một yếu tố kích
thích học sinh thích viết chính tả. Khi các em viết chữ đẹp, bài viết rõ ràng
các em sẽ thích được viết chính tả. Ý thích này cũng góp phần giúp các em
hình thành dần dần kĩ năng viết đúng chính tả.
II. Kết quả nghiên cứu:
Sau khoảng thời gian dài nghiên cứu, tìm tòi, tôi đã rút ra cho bản thân
mình một số kinh nghiệm trong việc giảng dạy môn chính tả và làm thế nào
để nâng hiệu quả trong việc dạy học sinh kĩ năng viết chữ Việt. Trong quá
trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh có
tiến bộ rõ rệt. Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết ít
mắc lỗi chính tả ( nhất là học sinh ở nhóm 2). Tuy rằng hiệu quả công việc
còn khiên tốn nhưng bản thân tôi cũng thấy rất vui và biết rằng để giúp học
sinh khắc phục lỗi chính tả là một việc làm lâu dài đòi hỏi sự tận tâm, nhẫn
nại của người giáo viên.
Kết quả cuối năm lần lượt ở các năm 2008-2009; 2009-2010; 2010-2011;
2011-2012
Điểm thi
Số
Lớp
HS 0
1
2
3
4
5
6
7
8
2
1
4
5
9
12
18
4/10 60
1
1
2
1
1
2
6
11
15
20
C. KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ:
I. Bài học kinh nghiệm:
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
16
tailieuonthi
III. Kiến nghị:
- Tôi rất mong các cấp lãnh đạo Phòng, Sở tổ chức các chuyên đề, phổ
biến những kinh nghiệm giảng dạy tốt để tạo điều kiện tất cả các giáo viên
được học tập kinh nghiệm lẫn nhau, nâng cao hiệu quả giảng dạy với phương
châm “ Tất cả vì học sinh thân yêu”.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Từ điển từ mới Tiếng Việt
- Từ điển chính tả Tiếng Việt thông dụng
- Từ điển Tiếng Việt phổ thông – Viện ngôn ngữ học.
- Tiếng Việt thực hành – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
E. PHỤ LỤC:
1. Ngữ âm tiếng Việt.
2. Chính tả tiếng Việt.
Sáng kiến kinh nghiệm
Sưu tầm trên intetnet
Lương Nguyễn Bảo Châu
17
tailieuonthi
Trịnh Hoài Đức, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Người viết
Lương Nguyễn Bảo Châu
Lương Nguyễn Bảo Châu
18
tailieuonthi
+ Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng
đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang
quác, ăng ẳng,... bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình,
huỳnh huỵch…
+ Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân...
e. Giáo dục tình cảm yêu tiếng mẹ đẻ, yêu cái hay cái đẹp của chữ Việt
Sáng kiến kinh nghiệm
Lương Nguyễn Bảo Châu
19