một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả ở học sinh lớp 3 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SP TIỂU HỌC-MẦM NON

Đề tài: Một số biện pháp nhằm hạn chế việc viết
sai chính tả cho học sinh trường Tiểu học Hạ
Trạch

Giảng viên hướng dẫn: Mai Thị Liên Giang


Lời cảm ơn
Đề tài này được hoàn thành nhờ sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô
giáo trường Đại học Quảng Bình. Đã trang bị cho chúng em vốn kiến thức và
hiểu biết đáng kể về khoa học và xã hội.
Cùng với tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Hạ Trạch đã tạo
điều kiện, nhiệt tình hợp tác trao đổi kinh nghiệm trong thời gian em thực
hiện đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo. Đặc biệt là cô giáo:
Mai Thị Liên Giang đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành
đề tài. Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên trường Tiểu
học Hạ Trạch đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình em nghiên
cứu và hoàn thiện đề tài.
Người viết
Nguyễn Thị Thu Hường

2


MỤC LỤC
Nội dung



PHẦN I : MỞ ĐẦU

4


1.Lí do chọn đề tài:
Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo
dục quốc dân”, nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu
trúc bền vững và phát triển hài hòa
Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các
kĩ năng cơ bản.Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ
sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích
trong giai đoạn mới.
Ở tiểu học, chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện
mục tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ
năng nghe cho học sinh. kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt
và phát triển tư duy cho học sinh. Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con
người, góp phần hình thành nhân cách con người mới. Phát triển tiếng mẹ đẻ
cho học sinh trong đó có năng lực chữ viết. Dạy tốt chính tả cho học sinh
tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần
đạt tới. Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì
trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ .
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị
từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện
học tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng
tiếng việt có hiệu quả. Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng
ngôn ngữ viết, người xưa thường nói “ Nét chữ nết người - Văn hay chữ
tốt”. Quả thật khi viết chữ đã không tốt thì văn không thể hay được .

2.2. Vận dụng các nguyên tắc dạy trong phân môn Chính tả hình thành kĩ
năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.
2.3. Soạn giáo án theo hướng đổi mới, phương pháp và nội dung bài dạy cho
sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh địa phương.
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Đối tượng:
Các lỗi chính tả học sinh thường mắc ở trường Tiểu học Hạ Trạch.
3.2. Khách thể:
Việc dạy và học chính tả của học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Hạ Trạch.
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu việc tìm hiểu nguyên nhân về các lỗi chính tả của học sinh thường
mắc phải được chú trọng thì việc vận dụng các nguyên tắc, biện pháp,
phương pháp dạy học về phân môn chính tả sẽ thuận lợi và giúp cho học sinh
khắc phục được các lỗi thường mắc, giúp giáo viên đạt kết quả cao trong quá
trình rèn luyện kĩ năng viết đúng cho học sinh tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu :

6


- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quy tắc chính tả, phương pháp dạy học chính
tả ở Tiểu học.
-Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học chính tả, việc viết sai chính tả của học
sinh ở trường Tiểu học Hạ Trạch. Đưa ra được nguyên nhân dẫn đến viêc
viết sai chính tả của học sinh.
- Đề tài nhằm đề ra một số biện pháp hạn chế việc viết sai chính tả của học
sinh trường Tiểu học Hạ Trạch.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đề ra, tôi xây
dựng nhóm phương pháp như sau:

trên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật của hành động.
Phương pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy sự
phát triển của tư duy.

8


+ Cách có ý thức : ( phương pháp dạy học có tính tự giác ).
Bắt đầu từ việc nhận thức quy tắc, mẹo luật chính tả. Trên cơ sở đó tiến
hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả. Việc hình thành các
kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công
sức. Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao.
2. Cơ sở thực tiễn
Số bài, thời lượng học:
Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết. Cả năm học sinh được
học 62 tiết chính tả.
Chương trình của phân môn chính tả ở khối lớp 3 gồm các dạng sau:
* Chính tả đoạn, bài:
Học sinh nhìn – viết ( tập chép) hoặc nghe – viết một đoạn hay một bài có
độ dài trên dưới 60 chữ (tiếng). Phần lớn các bài chính tả này được trích từ
bài tập đọc vừa học trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc.
* Chính tả âm, vần :
Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần dễ
viết sai chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c /k, g/gh,
ng/ngh, ia/ya, i/y,…)
Hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương ( l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi,
dấu hỏi, dấu ngã )
Các bài tập luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát âm địa phương
bao giờ cũng là loại bài tập lựa chọn, dành cho một vùng phương ngữ nhất
định. Giáo viên sẽ căn cứ vào đặc điểm phát âm và thực tế viết chính tả của

lớn đến chính tả.
Ví dụ:
Phát âm“mùa đong”mà thực chất là “mùa đông”.
Phát âm “lể hội’’mà thực chất là “lễ hội”.
Phát âm “dệ dàng’’mà thực chất là “ dế dàng ’’.
Chính vì thế, nếu ta không hiểu nghĩa từ thì khó mà viết đúng. Việc phát
âm chưa chuẩn ấy luôn diễn ra trước học sinh trong lớp, trong trường và
ngoài xã hội.
2. Học chính tả của học sinh .
Mấy năm gần đây các trường Tiểu học trong huyện Bố Trạch nói chung và
trường Tiểu học Mỹ Trạch nói riêng, phong trào chữ viết đã được chú trọng
và ngày càng nâng cao.

10


Tuy nhiên, qua khảo sát bài viết của học sinh khối lớp 3 còn hạn chế.
Nhiều em chưa nắm vững các quy tắc, mẹo luật chính tả, có em phát âm sai
dẫn đến bài viết sai nhiều lỗi chính tả.
Mặt khác một số em do thiếu cẩn thận nên để thừa hoặc thiếu một số nét,
thiếu dấu dẫn đến sai lỗi chính tả.
3. Lỗi chính tả của học sinh ở trường
Qua dự giờ một số tiết chính tả ở khối lớp 3 của trường, sau khi khảo sát
một số bài chính tả ở các lớp, tôi thống kê được một số lỗi của học sinh mắc
phải như sau :

Viết hoa
Số lượng
TL
lối viết sai SL

+ v/d/gi: Giao động, giải lụa , giòng giống…
c) Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay).
+ ao/au/âu: lâu bàn ghế (lau bàn ghế).
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ iu/êu/ iêu: kì dịu (kì diệu).

11


+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
d. Về âm cuối:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

+ an/ang: cây bàn, bàng bạc…
+ ăn/ăng: lẳn lặn, căn tin…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
+ ươn/ương: lươn bổng, sung sướn
e) Lỗi viết hoa:
Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em.
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:

Ví dụ :
suy nghĩ / suy nghỉ
nghĩ ngợi / nghỉ ngợi
cũ kĩ / cụ kỉ
+ Do đặc điểm phương ngữ của học sinh còn phát âm sai các tiếng có phụ
âm đầu tr/ch,d/r/gi, nên dẫn đến việc phát âm sai các tiếng có phụ âm này:
Ví dụ : giải phóng / dải phóng;
truyền thống / chuyền thống
Theo thống kê số âm tiết sai về vần cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Nguyên nhân
của hiện tượng này là do HS chưa nắm vững cấu tạo nên còn viết lẫn lộn
- Ở một số cặp vần khó phân biệt dẫn đến viết sai:
Ví dụ : ươu / ưu ; con hươu / con hưu
ưu / iu : nghỉ hưu / nghỉ hiu
ong/ông: trong/ trông.
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến mắc lỗi chính tả của học sinh là :
- Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương
- Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ
nghĩa của các từ.
Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới,
chưa nắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên,
chưa hiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý
khi viết chính tả:
Chương III: Quá trình thực nghiệm
I. Biện pháp

13


*Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 3:
-Phối hợp luyện tập thường xuyên và lâu dài về chính âm.

đầu tiếng ) .
Danh từ riêng phải viết như thế nào?( Viết hoa ) .

14


Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng
cho đúng với quy tắc.
- Sau dấu câu phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu câu).
- Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô li chữ
đầu bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở).
- Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các
chữ đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau. (các
chữ đầu dòng thơ phải viết thẳng hàng ) .
- Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2
ô li so với lề vở. Dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế
cho đến hết bài thơ. Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa.
-Thông qua phân môn Tập đọc và các môn học khác…..Hoặc giờ ra chơi
hằng ngày tôi gọi một vài em hay mắc lỗi để tìm hiểu nguyên nhân mà các
em sai về từ, chữ, âm, vần thường mắc phải. Cùng trò chuyện trao đổi giúp
các em đọc đúng luyện thanh từ đó sẽ nhớ lâu hơn. Rồi dần dần đọc đúng,
đến viết đúng.
Với cách luyện đọc đúng thường xuyên dần dần các em sẽ khắc sâu hơn và
hình thành viết đúng chính tả. Như câu nói “Mưa dầm thấm đất”
1.2.Phân tích từ khó:
Khi viết chính tả bài: “ Bàn tay cô giáo’’ đến phần phân tích từ khó giáo
viên phải phân tích cách hiểu nghĩa từ “ Bàn tay’’ để khi viết học sinh viết
đúng không lẫn lộn với từ “tai’’. Giáo viên phân tích: bàn tay, ngón tay luôn
viết y (dài) nói chung “cái tay” dùng để cầm, nắm một vật gì đó thì luôn viết
y (dài) mới đúng. Còn cái “tai” để nghe có nghĩa là lỗ tai thì viết i (ngắn) và

đặt câu (Bài tập phân biệt hai từ trong từng cặp từ).
Mỗi bài viết chính tả giáo viên cần luyện học sinh phát âm từ khó, phân
tích so sánh tiếng, từ khó, giải nghĩa từ, ghi nhớ mẹo luật chính tả. Ngoài
nhiệm vụ trên giáo viên còn hướng dẫn học sinh làm các bài tập khác nhau
để giúp học sinh tập tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử
dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra
các qui tắc chính tả để ghi nhớ.
a) Bài tập điền vào chỗ trống: Với dạng bài tập này thường giúp học sinh
điền đúng âm đầu, vần vào chỗ chấm:
* Ví dụ: Bài tập 2 a) – TV3, Tập 1, tr. 22
Điền vào chỗ trống tr hay ch ?
- Cuộn …òn, …ân thật, chậm …ễ
* Bài tập 3a) –TV3, Tập 1, tr.48
Điền vào chỗ trống s hay x ?
Giàu đôi con mắt, đôi tay
Tay …iêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm
Hai con mắt mở, ta nhìn
Cho sâu, cho …áng mà tin cuộc đời.
* Dạy Chính tả (Nghe – viết) : Ông ngoại (đoạn 3) - TV3, Tập 1, tr. 35

16


Nội dung viết: Ông còn nhấc bổng tôi trên tay, cho gõ thử vào mặt da
loang lổ của chiếc trống trường.
Một số học sinh viết sai lỗi “da” viết là “gia”, cũng có em viết là “ra”. Tôi
phân biệt cho các em biết nghĩa của hai từ da và gia: da viết là d – với các
nghĩa có liên quan tới “da thịt”, trong “da diết”; còn gia viết là gi trong các
trường hợp còn lại, với các nghĩa là “nhà” (ví dụ: gia đình), chỉ người có học
vấn, chuyên môn (ví dụ: chuyên gia), nghĩa khác (gia vị, gia súc,…) Sau

- khăn: khăn tay, khăn quàng, cái khăn,…
- khăng: khăng khăng, khăng khít,…
d) Bài tập giải câu đố:
* Bài tập 2b) - TV3, Tập 1, tr. 22
Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã ? Giải câu đố sau:
Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp nhau ke chỉ, vạch đường thăng băng

17


(Là cái gì?)
Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại
bỏ cái sai. Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả,
hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập nhằm hình thành kĩ xảo chính tả,
cần đưa ra những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa
chữa rồi từ đó hướng học sinh đi đến cái đúng.
e) Bài tập lựa chọn:
* Bài tập 3b) - TV3, Tập 1, tr. 132
Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:
- (bão, bảo) : Mọi người ….. nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …..
- (vẽ, vẻ) : Em ….. mấy bạn …..mặt tươi vui đang trò chuyện.
- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống ….. rồi …..soạn đi làm.
g) Bài tập đặt câu (Bài tập phân biệt):
Với dạng bài tập này sang HKII, học sinh làm quen với bài tập: tập đặt
câu để phân biệt hai từ trong từng cặp từ để hiểu nghĩa của từng cặp từ.
* Bài tập 3b) - TV3, Tập 2, trang 48 (Tuần 23).
Đặt câu phân biệt hai từ trong từng cặp từ sau:
+ trút – trúc; lụt – lục
* Ví dụ: + trút: Trời mưa như trút nước.

c. cuộn
muốn (3)
d. khuôn
cau
(4)
e. buồng
muống (5)
Đáp án: a - 3 ; b - 5 ; c - 1; d - 2 ; e - 4
● Bài tập phát hiện:

18


Tìm từ sai chính tả trong các câu sau và sửa lại cho đúng:
- Dẫu các cháu không dúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
- Một ngôi xao chẳng sáng đêm.
- Chỉ có vần trăng vẫn thao thức như canh gát trong đêm.
- Anh cảm thấy dễ chiệu và đầu óc bớt căng thẳng.
- Hôm đó, ông lão đang ngồi sưỡi lửa thì con đem tiền về.
1.5. Giúp học sinh viết đúng chính tả qua các môn học khác:
Không những giúp học sinh viết đúng chính tả ở các giờ học chính tả mà
chúng ta còn giúp học sinh viết đúng chính tả trong các môn học khác như:
Tập làm văn, Luyện từ và câu, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Toán, Thủ
công,… Đối với các môn học ghi bài vào vở, học sinh thường ghi đề sai,
giáo viên thường xuyên theo dõi vở học hằng ngày để phát hiện lỗi sai và
sửa chữa kịp thời.
* Ví dụ: + Đạo đức: Tự làm lấy việc của mình
Học sinh lại viết: Tự làm lấy việt của mình
+ Tự nhiên và xã hội: Hoạt động nông nghiệp
Có học sinh viết: Hoạt động nông ngiệp

phần quan trọng thường giáo viên thu tất cả vở học sinh để tự mình
chấm.Như vậy giáo viên đã bỏ qua bước cho học sinh tự sửa lỗi trên vở của
mình hoặc của bạn ( học sinh đổi vở cho nhau để bắt lỗi). Bằng cách này
giáo viên chỉ có một điểm lợi là giảm bớt thời gian trên tiết dạy. Nhưng có
điểm bất lợi rất lớn là học sinh không được tiếp xúc với bài mình vừa viết,
không tự phát hiện ra những lỗi viết sai với sự hướng dẫn sữa chửa của giáo
viên. Như vậy việc tự bản thân học sinh sửa lỗi chính tả cho mình hoặc sửa
lỗi cho bạn sẽ giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu hơn những lỗi chính tả mà
mình mắc phải.
+Bản thân giáo viên luôn luôn phát âm chuẩn ở mọi lúc, mọi nơi, trong lớp,
trong trường tạo thành một thói quen để cho học sinh có ý thức viết đúng

20


chính tả. Ngoài việc phát âm chuẩn tôi còn kết hợp giải nghĩa từ giúp học
sinh hiểu nghĩa từ và phân biệt nghĩa từ của các chữ cần viết.
Ví dụ:
Cháu (cháu nội, cháu ngoại) cháu có nghĩa là người thuộc thế hệ sau không
phải là con.
Cháo (cháo gà, cháo lòng) cháo có nghĩa là thức ăn lỏng.
+Đối với học sinh thường viết sai thanh hỏi, thanh ngã tôi thường hướng
dẫn các em phân biệt cách phát âm hai dấu thanh này. Ngoài ra tôi còn cho
học sinh học thuộc luật chính tả với thanh hỏi, thanh ngã là: ngang-sắc-hỏi
( có nghĩa là tiếng không có dấu thanh hoặc có thanh sắc thì thường đi với
tiếng có thanh hỏi) huyền-ngã -nặng( có nghĩa là tiếng có thanh huyền hoặc
thanh nặng thường đi chung với tiếng có thanh ngã). Nhưng luật trên chỉ
tương đối thôi chứ không tuyệt đối.
Ví dụ:
Vất vả, chăm chỉ, sư tử, số lẻ.

Vì thời gian không cho phép nên khả năng áp dụng vào thực tế chưa đạt
được chưa được như mong muốn. Sau đây là kết quả đạt được sau khi áp
dụng tại lớp thực tập qua một bài chính tả:

Viết hoa
Số lượng
TL
lối viếtSL
(%)
sai
9
18
50

Âm cuối

Phụ âm đầu Âm chính Thanh
TL
SL TL (%) SL TL (%) SL
SL TL (%)
(%)
5
10
12
24
9
18
15 30

Điều này chứng tỏ khi dạy chính tả cần nắm vững trọng điểm chính tả của

- Tập cho học sinh có thói quen ghi chép những điều cần lưu ý vào sổ tay.
- Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Tạo không khí sôi nổi trong giờ học phát huy tính tích cực của học sinh.
2.Kết luận:
Thực tế hiện nay, học sinh chúng ta kể cả học sinh Trung học trong quá trình
tạo lập văn bản còn viết sai nhiều lỗi chính tả. Vì vậy người giáo viên cần
thấy được vai trò và vị trí quan trọng của phân môn Chính tả. Cần sử dụng
quỹ thời gian dành cho môn Chính tả một cách triệt để và có hiệu quả
Tiến hành soạn giảng có đổi mới nội dung và lựa chọn phương pháp sát hợp
với trọng điểm chính tả của lớp và bổ sung thêm các dạng bài tập nhằm
nâng cao hiệu quả dạy phân môn chính tả. Vận dụng linh hoạt các phương
pháp giảng dạy của phân môn. Chú trọng phương pháp dạy học có ý thức sẽ

23


rèn cho các em kĩ xảo viết đúng tạo tiền đề cho HS học tốt các môn học khác
và đặc biệt là trong giao tiếp bằng văn bản được chính xác hơn.
Giáo viên tiểu học cần trang bị cho bản thân các kiến thức về ngôn ngữ học,
ngữ âm học, ngữ nghĩa học, chuẩn chính tả, các mẹo luật, các ngoại lệ của
việc viết chính tả. Ngoài ra giáo viên còn phải là người nắm vững cơ sở tâm
lí học trong giảng dạy chính tả.
Đề tài này được thực hiện ở địa bàn nông thôn vùng sâu vừng xa nhưng đã
thu được kết quả khả quan. Vì vậy việc xác định trọng điểm chính tả theo
ngôn ngữ vùng để xây dựng bài giảng là việc cần thiết cần được vận dụng và
nhân rộng ở một số nơi khác.
3. Kiến nghị:
- Các cấp quản lí chuyên môn tạo mọi điều kiện, khuyến khích giáo viên chủ
động trong việc khai thác nội dung, sáng tạo và xây dựng các kiểu bài tập
phù hợp để giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả cho học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status