Sáng kiến kinh nghiệm: Hoàn thiện lỗi chính tả cho học sinh lớp 1 - Pdf 22

Mục lục
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề.
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
1. Giới thiệu về trường tiểu học Lê Quý Đôn .
2. Số liệu thống kê
3. Lỗi chính tả của học sinh.
3.1. Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn.
3.2. Lỗi do sai do quy tắc chính tả hiện hành.
3.3. Lỗi do ảnh hưởng của phát âm địa phương
4. Một số biện pháp khắc phục lỗi cho học sinh.
4.1. Giáo viên cần luyện đọc, phát âm đúng chuẩn
4.2. Cần chú ý nhắc nhở học sinh phân biệt chữ thường và chữ viết in.
4.3. Hạn chế lỗi viết sai phụ âm đầu.
4.4. Khắc phục lỗi phát âm địa phương cho học sinh.
5. Một số kiến nghị.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Khi ca ngợi về tiếng nói của của dân tộc, nhà thơ Lưu Quang Vũ đã viết:
“ Ôi Tiếng Việt suốt đời ta mắc nợ
Quên nỗi mình, quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá, môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi, Tiếng Việt ân tình”

Vì lẽ đó tôi muốn qua đề tài “lỗi chính tả của học sinh lớp 1B trường tiểu học
Lê Quý Đôn, Cư Jút –Đắk Nông” đúc rút những kinh nghiệm suy nghĩ của bản thân
trong dạy phân môn chính tả lớp 1 để có dịp nhìn nhận lại quá trình dạy học của
mình, từ đó sẽ tiếp tục hoàn thành tốt hơn những nhiệm vụ được giao trong những
năm học tiếp theo.
2. lịch sử vấn đề
Tiếng Việt hình thành và phát triển năng lực chính tả cho học sinh ở trường
tiểu học thực hiện trong các hình thức dạy cái đúng và sửa chữa khắc phục cái sai.
Học sinh được rèn kĩ năng viết qua các hình thức: Tập chép, nghe – viết, nhớ - viết.
Trường tiểu học Lê Quý Đôn của chúng tôi trong những năm qua đã đầu tư khá nhiều
cho việc dạy chính tả cho học sinh như tổ chức các chuyên đề, các cuộc thi viết về đề
tài nghiên cứu…Là một giáo viên có kinh nghiệm, tôi đã tích cực tham gia với khá
nhiều đề xuất, giải pháp cụ thể. Vì thế có thể xem các nội dung được nêu trong đề tài
này la kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc của tập thể giáo viên trường
tiểu học Lê Quý Đôn nói chung và bản thân tôi nói riêng.
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
3.1 đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mag chúng tôi chọn nghiên cứu là lỗi chính tả của học sinh lớp 1B
trường tiểu học Lê Quý Đôn, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông (năm học 2011- 2012)
3.2 Nhiệm vụ
Đề tài này thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu:
- Phát hiện và chỉ ra những lỗi mang tính phổ biến của học sinh (thuộc địa phương
giảng dạy), tìm ra nguyên nhân của những lỗi đó.
- Nêu một số hướng khắc phục đã và đang áp dụng trong việc giảng dạy và bước
đầu có hiệu quả, đồng thời đưa ra các đề xuất.
3.3 phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, Tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê.
Tôi thống kê tất cả lỗi chính tả của hóc sinh lớp 1B trong các bài chỉnh tả ở
học kì II năm học 2011- 2012

- Thứ hai: Học sinh dân tộc Êđê học tiếng Việt khó khăn hơn rất nhiều so với học
sinh các dân tộc khác (từ phát âm, diễn đạt, đến chữ viết,…). Nguyên nhân một phần
do ở gia đình hầu như người Êđê không dùng ngôn ngữ toàn dân mà họ giao tiếp
bằng thứ tiếng của dân tộc mình. Học sinh chỉ học tiếng Việt ở trên trường học hoặc
giao tiếp ngoài xã hội. Vì thế việc các em đọc không có thanh điệu, viết không có
dấu là chuyện bình thường và rất khó sửa.
- Thứ ba: Giáo viên cũng đến đây từ nhiều miền quê khác nhau, ngay từ giọng nói
giữa thầy và trò cũng có những khoảng cách nhất định, có khi giáo viên giảng mà
học sinh vẫn không nghe. Mặc dù mỗi giáo viên đều cố gắng khắc phục, hạn chế âm
sắc địa phương (nhất là tiếng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định…) nhưng
khó đạt đến trình độ chuẩn mực. Điều này cũng là một trở ngại rất lớn tác động vào
chất lượng viết chính tả của học sinh, nhất là khi đọc – viết.
Tất cả những trở ngại trên đã tác động trực tiếp vào quá trinh viết chính tả của học
sinh mà qua khảo sát tôi đã thu được.
2. Số liệu thống kê
Thống kê kết quả kháo sát tôi có số liệu như sau:
Tổng số bài khảo sát: 480 bài.
Số bài phạm lỗi: 424 bài (chiếm tỉ lệ 88,33%)
Số bài không phạm lỗi: 56 bài (chiếm tỉ lệ 11,66 %)
Thống kê theo từng loại cụ thể như sau:
T/T
Tên bài Tổng
số bài
Số bài
không
bị
phạm
lỗi
Số bài
phạm

18 Bác đưa thư 24 3 21 40 6 44
19 Loài cá thông minh 24 4 20 39 5 29
20 Ò… ó …o 24 1 21 27 5 32
3. Lỗi chính tả của học sinh
Từ thực tế giảng dạy tôi thấy rằng lỗi trong bài viết chính tả của học sinh hết
sức phức tạp, trong đó có các lỗi phố biến sau:
- Lỗi do học sinh chưa nắm vững mặt chữ.
- Lỗi do sai quy tắc hiện hành.
- Lỗi do ảnh hưởng của phát âm địa phương.
3.1 Lỗi chính tả do học sinh chưa nắm vững mặt chữ.
Lỗi này do học sinh chưa hình thành được một cách rõ ràng biểu tượng âm
thanh thính giác và chưa nắm vững quy tắc ghép chữ cái âm tiết.Vì các em mới bước
vào lớp 1 nên việc học tập viết chính tả là một việc làm vô cùng mới mẻ và bỡ ngỡ.
Nên đã dẫn đến việc viết sai chỉnh tả rất nhiều và lỗi các lỗi khác.
3.2 Lỗi do sai quy tắc chính tả hiện hành.
Lỗi do học sinh viết ẩu, cấu thả, lẫn lộn giữa chữ viết in và chữ viết thường, chữ
viết hoa và chữ không viết hoa.
3.3 Lỗi do ảnh hưởng của phát âm địa phương.
Như chúng ta đã nói ở trên, tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ nên bên
cạnh tính thống nhất cũng có những nét dị biệt khá rõ ràng trong cách phát âm,
dùng từ giữa các vùng, miền mà theo như các nhà nghiên cứu đã chia tách nó ra
thành ba kiểu: Phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ.
Như vậy mỗi vùng phương ngữ có những biến thế tiếng Việt khác nhau và
đương nhiên nó phần khác so với phát âm chuẩn của ngôn ngữ toàn dân. Điều đó có
ảnh hưởng rất lớn đến việc viết sai chính tả của học sinh.
Nguyên nhân dẫn đến lỗi này là do ảnh hưởng của việc “nói sao viết vậy” . Vì
giọng nói, cách phát âm của một số địa phương lệch so với hệ thống ngữ âm chuẩn
nên cùng một tiếng có nhiều sự phát âm khác nhau như: Nội/ lội; anh/ eng; đạp/
độp…
Ta có thể chia ra các loại viết sai với lần xuất hiện trên tần số và tỉ lệ theo

Tre/ che
Quà của bố
Nghìn/ ngìn
Hoa sen
Trong/ chong, xanh/sanh, trắng/chắng.
Mời vào
Xem/ sem
Chuyện ở lớp
Trêu/ chêu, nổi/ lổi.
Mèo con đi học
Kiếm/ ciếm
Kể cho bé nghe
Chăng/ trăng, quay/ cuay
Hồ Gươm
Lấp/ nấp, rễ/ dễ
Lũy tre
Sớm/ xớm, rì/ dì
Cây bàng
Sang/ xang, kẽ/ cé
Đi học
Trường/ chường,lặng/ nặng, giáo/ dáo.
Bác đưa thư
Trao/ chao, rồi/ dồi, quýnh/ kính
Loài cá thông minh
Dạy/ giạy, sống/xống.
Ò…ó…o
Tre/ che, nảy/ lảy
c) Lỗi về phần vần:
Học sinh hay viết lẫn lộn giữa vần mang nguyên âm đôi như iê và ê, uô và u,
ươ và ư, oa và ao, oe và eo ương và ươn,…

Cây bàng
Chít/ chíp.
Đi học
Dắt/ dắc
Bác đưa thư
Quýnh/ kính
Chia quà
Phương/ phươn, xin/ xinh.
Loài cá thông minh
Xiếc/ xiết.
Ò…ó…o
Tiếng/ tiến, hoắt/ hoắc.
d) Lỗi về thanh điệu:
Học sinh ở tiểu học nói chung và đặc biệt là hoc sinh lớp 1, tình trạng lẫn lộn về
thanh điệu xảy ra khá nhiều, nhất là thanh ngã và thanh hỏi, thanh sắc và thanh
huyền. Lỗi này chủ yếu do cách phát âm của một số vùng miền có thanh hỏi, thanh
ngã hoặc thanh sắc , thanh huyền tương đối gần nhau, khó phân biệt, từ đó dẫn đến
việc viết sai về thanh điệu nhiều.
Lỗi này có thể thống kê theo bài như sau:
Trường em
Giáo/ giảo.
Nhà bà ngoại
Rãi/ rái, thoáng/ thoảng
Hoa sen
Trắng/trẳng.
Mèo con đi học
Kiếm/ kiểm, chữa/ chứa
Ngưỡng cửa
Đã/ đá
Kể cho bé nghe

thấy sự ảnh hưởng của giáo viên đến từng học sinh là rất lớn, các em học và bắt
chước từ cử chỉ đến lời ăn tiếng nói. Vì thế, để rèn học sinh viết đẹp, viết đúng không
có cách nào khác là mỗi giáo viên phải tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ kiến
thức, chuyên môn nghiệp vụ. Yếu tố đầu tiên cần quan tâm đó là đọc rõ ràng, phát
âm chuẩn, hạn chế sự ảnh hưởng của âm sắc địa phương. Nhờ đó sẽ phần nào giảm
bớt sai sót về phụ âm, thanh điệu giúp cho học sinh có giọng đọc đúng.
Tuy nhiên, ta cũng thấy rằng: Đây là việc làm không dễ thực hiện, nó đòi hỏi
phải có sự kiên trì, nhất là với những giáo viên đã lớn tuổi thì càng khó khăn hơn.
Hai là: Cần chú ý nhắc nhở học sinh phân biệt chữ viết thường và chữ viết hoa.
Cụ thể hướng dẫn một số quy tắc sau:
- Viết hoa ở chữ cái đầu đoạn, sau dấu chấm, dấu chấm than, dấu hỏi chấm.
- Viết hoa tên riêng: Tên người, tên địa danh (đất nước, tỉnh, thành phố, núi, sông,
…)
Ba là: Hạn chế lỗi viết sai phụ âm đầu:
Khi dạy chính tả, giáo viên cần chú ý sử dụng các phương pháp dạy học chính
tả so sánh, phân tích kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không ý thức, giúp học
sinh rút ra cái đúng, cái sai trên cơ sở hiểu ý nghĩa của các từ để khắc phục tình trạng
viết sai phụ âm đầu. Trong đó chú ý khắc phục tình trạng lẫn lộn giữa các cặp phụ
âm như: l/ n, ch/ tr, s/ x, r/ d,…
Ví dụ: Phân biệt ch/ tr giáo viên đưa ra những nhận xét để học sinh dễ nhớ: Số tiếng
bắt đầu bằng “ch” chỉ tên các vật dụng trong nhà như: chăn, chiếu, chảo, chậu, chén,
…, các tiếng bắt đầu bằng “tr” như tranh, tráp…
Qua ví dụ ta thấy: Đây là một ảnh hưởng không nhỏ đến việc viết chỉnh tả của
học sinh. Vì vậy cần coi trọng luyện đọc, luyện phát âm, hướng dẫn học sinh đọc
đúng thì viết mới đúng. Thế nhưng, ta cũng có thể hình dung làm được điều này
không dễ. Bới vì khi bắt đầu tập nói, một số học sinh đã chịu ảnh hưởng một số âm
sắc của địa phương qua cách nói năng giao tiếp, qua sự hướng dẫn của những người
thân trong gia đình. Từ đó hình thành nên thói quen trong giao tiếp và khi đã trở
thành thói quen rồi thì việc sửa chữa, uốn nắn trở nên khó khăn hơn. Đó là chưa kể
đến một số học sinh do có giọng nói khác với các bạn bè trong lớp, bị trêu chọc trở

có những chữ viết sai cho các em phát hiện lỗi theo hướng loại bỏ cái sai, tìm cái
đúng.
- Nắm bắt được tâm lý của học sinh lớp 1 là thích được “học mà chơi”. Ngoài ra ta
còn có thể lồng ghép việc rèn viết chính tả cho học sinh qua các cuộc thi, các trò chơi
nhỏ như: Chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống, tìm phụ âm,vần; đọc diễn cảm,
viết chữ đúng, viết chữ đẹp.
- Bên cạnh đó chúng ta cũng không quên trang bị đầy dủ kiến thức về ngữ học, từ
vựng học tích lũy kinh nghiệm, tổng hợp được các từ hay viết sai để lưu ý, tăng
cường luyện tập liên quan đến các từ đó ở các lớp sau.
- Giáo viên cũng nên thường xuyên phối hợp với gia đình, cùng phụ huynh hướng
dẫn học sinh biết phát âm đúng, viết đẹp.
b) Đối với nhà trường:
- Lồng ghép trong các hoạt động của chuyên môn, đội thiếu niên,…các hoạt động
vui chơi bổ ích như: Thi viết chữ đẹp, đọc diễn cảm,…tìm từ có phụ âm đầu dễ lẫn
như: l/ n, ch/ tr, x/ s,…ngoài việc thi giữa học sinh với học sinh còn có thể tổ chức thi
giữa giáo viên với giáo viên như: Đọc, viết, dạy chính tả, mở chuyên đề,…
- Tổ chức điều tra lỗi sai chỉnh tả của học sinh ở các lớp. Qua đó thống kê các từ sai,
tần số sai sót và việc làm này phải được tổ chức thường xuyên.liên tục để có hệ thống
đánh giá, so sánh, cung cấp tư liệu cho trường, tổ chuyên môn và từng giáo viên để
giúp họ định hướng tốt hơn trong dạy học chính tả, hạn chế lỗi sai trong bài của học
sinh.
- Thư viện nhà trường cần bổ sung các tư liệu, tài liệu, cẩm nang phục vụ cho việc
nghiên cứu, giảng dạy cho từng bộ môn.
c) Đối với các cấp quản lý giáo dục:
Tôi có mấy đề xuất như sau:
- Cần có sự quy định thật cụ thể trong việc dạy một số âm mà còn tồn tại ở những
cách viết khác nhau như: i/ y, ng/ ngh, gi/ d (ví dụ: kĩ thuật/ kỹ thuật, vật lí/ vật lý,
giao/ dao,…)
- Nên tổ chức một số chuyên đề về hướng dẫn học sinh viết chính tả, trong đó
cung cấp những kiến thức cơ bản, thiết thực cho giáo viên, nhằm giúp mỗi người

cho tôi những việc nên làm và có sự đầu tư đúng mức.
Bước đầu nghiên cứu, khảo sát, thống kê, đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót,
rất mong được đón nhận những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô, đồng nghiệp.
Những góp ý đó sễ giúp tôi rât nhiều trong qúa trình giảng dạy của mình.
Tiếng Việt chúng ta giàu và đẹp. Sự giàu có, phong phú đó thể hiện rất sinh
động trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày, qua văn chương và qua những lời viết của
học sinh. Trách nhiệm của mỗi người là góp phần để gìn giữ cho tiếng Việt luôn giữ
được sự giàu có, vẻ đẹp của mình. Và với mỗi nhà giáo, trách nhiệm đó càng lớn lao
hơn bởi chúng ta không chỉ làm tốt bổn phận của một người dân yêu nước, yêu tiếng
mẹ đẻ của mình mà còn dẫn dắt gợi lên từ trong bao tâm hồn trẻ thơ tình yêu, sự gắn
bó, tự hào về tiếng Việt, hướng dẫn cho các em biết sử dụng ngôn ngữ dân tộc một
cách thành thạo, chuẩn xác, khéo léo, giữ cho tiếng Việt luôn trong sáng, có sức sống
trường tồn cùng với thời gian.
Tài liệu tham khảo
$1
$1 Lê A (chủ biên), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB ĐH Sư phạm Hà Nội,
năm 2003.
$2
$2 Bộ giáo dục và đào tạo, chương trình giáo dục phổ thông – bậc tiểu học, NXB
Giáo dục 2006.
$3
$3 Nguyễn Đức Dương, Vấn đề sửa lỗi chính tả cho học sinh phổ thông.
$4
$4 Lê Trung Hoa, mẹo luật chính tả, NXB trẻ, 1984.
$5
$5 Đỗ Đình Hoan, Một số vấn đè cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXB Giáo
dục, 2002.
$6
$6 Phan Ngọc, chữa lỗi chính tả cho học sinh (in lần thứ hai), NXB Giáo dục, 1997.
$7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status