Lỗi sử dụng tiếng Việt do chuyển di từ ngôn ngữ thứ nhất của sinh viên Trung Quốc ở Đại học Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 53

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHÙNG THƯ ẤN (FĒNG SHU YÌN)

LỖI SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT
DO CHUYỂN DI TỪ NGÔN NGỮ THỨ NHẤT
CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC
Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHÙNG THƯ ẤN (FĒNG SHŪ YÌN)

LỖI SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT
DO CHUYỂN DI TỪ NGÔN NGỮ THỨ NHẤT
CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC
Ở ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 8 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM


Tác giả

Phùng Thư Ấn

ii


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu .................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 4
6. Bố cục của luận văn ......................................................................................... 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN ........ 5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................... 5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 của người học
ngoại ngữ ............................................................................................................. 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt ........................................... 11
1.2. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 13
1.2.1. Lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ ....................................................... 14
1.2.2. Khái niệm chuyển di ngôn ngữ, các kiểu chuyển di ngôn ngữ và lỗi
sử dụng ngoại ngữ do chuyển di ngôn ngữ ....................................................... 32
1.3. Tiểu kết ....................................................................................................... 39
Chương 2. THỰC TRẠNG SINH VIÊN TRUNG QUỐC Ở ĐẠI HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 106

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.a: Bảng tổng kết số lượt sử dụng tiếng Việt mắc lỗi do chuyển
di từ L1 của du học sinh TQ chia theo một người ....................... 42
Bảng 2.1.b: Bảng tổng kết lỗi sử dụng tiếng Việt do chuyển di từ L1 của
du học sinh Trung Quốc theo từng bình diện ngôn ngữ .............. 43
Bảng 2.2:

Bảng tổng kết lỗi về ngữ âm tiếng Việt của sinh viên Trung
Quốc ở Đại học Thái Nguyên....................................................... 44

Bảng 2.3.

Bảng tổng kết lỗi phát âm các thành tố âm tiết tiếng Việt của
du học sinh TQ ở ĐHTN .............................................................. 46

Bảng 2.4:

Bảng tổng kết lỗi phát âm các tổ hợp chữ trong tiếng Việt
của sinh viên TQ ở ĐH Thái Nguyên .......................................... 46

Bảng 2.5:

Bảng tổng kết các phụ âm đầu mà sinh viên Trung Quốc phát
âm mắc lỗi .................................................................................... 50


Bảng 3.2:

Bảng so sánh sự tương đồng và khác biệt của các âm vị
thuộc ba hệ thống cấu tạo âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm
chính trong TH và tiếng TV ......................................................... 81

Bảng 3.3:

Bảng ví dụ lỗi viết một số âm đầu tiếng Việt do chuyển di từ
cách viết âm đầu tiếng Hán .......................................................... 84

Bảng 3.4:

Bảng ví dụ lỗi viết một số âm đệm tiếng Việt do chuyển di từ
cách viết âm đệm tiếng Hán ......................................................... 85

Bảng 3.5:

Bảng ví dụ lỗi viết một số âm chính tiếng Việt do chuyển di
từ âm chính tiếng Hán .................................................................. 86

Bảng 3.6:

Bảng ví dụ lỗi viết một số thanh điệu tiếng Việt do chuyển di
từ thanh điệu tiếng Hán ................................................................ 88

Bảng 3.7:

Bảng ví dụ về một từ tiếng Hán tương đương nhiều từ tiếng Việt .... 92


người không mắc lỗi trong lớp học) vô hình chung tự cho rằng nói, viết như thế
là đúng và do vậy những lỗi đó có nhiều nguy cơ trở thành cố tật. Một khi lỗi
biến thành cố tật thì không những khó sửa mà còn trở thành nguyên nhân quan
trọng cản trở sự thành công của người học ngoại ngữ nói chung và của sinh
viên Trung Quốc khi học tiếng Việt nói riêng.

1


Vì lẽ đó, người dạy và người học ngoại ngữ cần phải phát hiện ra các lỗi
sử dụng ngôn ngữ thứ hai (L2) với tư cách là một ngoại ngữ, biết tìm ra nguyên
nhân cũng như cách khắc phục những lỗi đó.
1.3. Chọn đề tài “Lỗi sử dụng tiếng Việt do chuyển di từ ngôn ngữ thứ
nhất của sinh viên Trung Quốc ở Đại học Thái Nguyên” để nghiên cứu,
người viết hi vọng sẽ góp phần làm rõ thêm một số kiểu lỗi sử dụng tiếng Việt
do chuyển di từ L1 của người Trung Quốc nói riêng, của người nước ngoài nói
chung trên bình diện lí luận, đồng thời luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
cho giáo viên và học sinh Trung Quốc khi dạy - học tiếng Việt.
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số lỗi sử dụng tiếng Việt của
sinh viên Trung Quốc do chuyển di từ L1.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng khảo sát:
+ Đối tượng sinh viên chọn làm nguồn khảo sát: Là sinh viên Trung
Quốc học tại ba trường/ khoa thuộc ĐHTN là: Trường Đại học Nông Lâm
(ĐHNL), Trường Đại học Kinh Tế và Quản trị kinh doanh (ĐHKT&QTKD),
Khoa Ngoại ngữ (Khoa NN).
Để tiện ghi xuất xứ cho các ví dụ, chúng tôi tạm dùng kí hiệu thay cho
tên gọi các trường vừa nói, cụ thể:

dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiểu và khắc phục loại lỗi do chuyển di này.
- Làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu thêm về lỗi và
nguyên nhân mắc lỗi sử dụng L2 của người học.

3


4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu về lỗi sử dụng L2 của người học; nghiên
cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận cho việc xử lí đề tài;
(2) Khảo sát, thống kê những kiểu lỗi sử dụng tiếng Việt do chuyển di từ
L1 mà sinh viên TQ thuộc đối tượng nói ở mục 2.1 thường mắc;
(3) Phân loại, miêu tả, phân tích và tổng kết một số kiểu lỗi sử dụng TV
tiêu biểu do chuyển di từ L1 của sinh viên TQ theo từng tiêu chí đã định trước;
(4) Phân tích các dạng chuyển di từ L1 sang L2 khiến SV TQ sử dụng
tiếng Việt mắc lỗi.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đây:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thủ pháp nghiên cứu này được dùng để
thống kê các lỗi sử dụng tiếng Việt của SV TQ thuộc đối tượng nói trên.
- Phương pháp miêu tả, với các thủ pháp phân tích tổng hợp, phương
pháp nghiên cứu này được dùng để miêu tả, phân tích đối tượng khảo sát theo
các tiểu loại.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Được dùng để so sánh đối chiếu các
hiện tượng sử dụng tiếng Việt đúng và không đúng.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

thuyết ngành Phân tích đối chiếu đã gây ra sự hoài nghi về nguyên nhân gây lỗi
của người học L2 trong giới nghiên cứu ngôn ngữ. Sự hoài nghi đó đã khơi dậy,

5


thúc đẩy hàng loạt các công trình nghiên cứu lỗi L2 của người học tiếng Anh ra
đời vào đầu những năm 70, thế kỉ trước của các học giả nước ngoài. Có thể kể
ra một số công trình tiêu biểu, như:
- Công trình nghiên cứu các học viên người Đức mắc lỗi sử dụng L2
của tác giả Grauberg,W. (1971), mang tên “An error analysis in the German
of first-year univesity students” in Perren and Trim (eds) 1971 (Phân tích lỗi
trong tiếng Đức của sinh viên năm thứ nhất, Prren and Trim (và một số tác
giả), 1971).
- Công trình nghiên cứu sinh viên đại học từ nhiều nước khác nhau mắc
lỗi sử dụng L2 của tác giả George, H. (1972), mang tên “Common errors in
language learning: insights from English, Rowley maass: Newbury House”
(Lỗi thường gặp khi học ngôn ngữ: những thấu hiểu khi học tiếng Anh, Rowley
Maass: Nhà xuất bản Newbury).
- Công trình nghiên cứu trẻ em Tây Ban Nha mắc lỗi sử dụng L2 của
Dulay, H and M. Burt (1984), “You can”t learn without goofing, An
analysis of children”s second language errors”, in Error Analysis edited by
Jack C. Richards, London and New York: Longman, 95-123 (Bạn không
thể học mà không mắc lỗi, phân tích lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai của trẻ,
Phân tích lỗi, biên tập Jack C. Richards, Nhà xuất bản Longman tại London
và New York, 95-123).
- Công trình nghiên cứu sinh viên Trung Quốc mắc lỗi sử dụng L2 của
tác giả Tran Thi Chau (1974), “Error analysis, contrastive analysis and
students” perception: a study of difficulty in second language learning”,
International Review of applied Lingguistics 13, 43-119 (Phân tích lỗi, so

Ngoài quan điểm trên, S.P. Corder [53, 166 - 170] còn cho rằng tiến trình
phân tích lỗi gồm 6 công đoạn, là: chọn ngữ liệu phân tích, xác định câu có lỗi,
phân loại, mô tả lỗi, giải thích lỗi và đánh giá.
7


Gần đây, hướng nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu đi vào tìm hiểu lỗi
trong từng kĩ năng, nhất là kĩ năng viết của người học (trên cứ liệu nghiên cứu
lỗi của người học tiếng Anh).
Có thể dẫn ra một số tác giả tiêu biểu như:
- Cohen, A. (1987), "Student processing of feedback on their compositions”
in Wendon, A. and J. Rubin (eds), Learner strategies in learning, 57-69, UK:
Prentice Hall International (Cách xử lí của sinh viên đối với những nhận xét bài
luận của mình, Chiến lược của người học trong học tập, 57 - 69, Nhà xuất bản
quốc tế Prentice Hall International).
- Cumming, A. (1989), “Writing expertise and second language proficiency”,
Language learning, 39, 81-141 (Viết tinh thông và sự thông thạo ngôn ngữ thứ
hai, Học ngôn ngữ, 39,81 - 141).
- Ferris, D. (1995), “Student reactions to teacher response in
multiple-draft comprosition classrooms”, TESOL quarterly, 31,315-339
(Những phản ứng của học sinh đối với lời hồi đáp của giáo viên trong
những lớp học viết luận với phương pháp sửa bản thảo nhiều lần, TESOL
hàng quí, 31, 315-339).
- Sengupta, S. (2000), “An investigation into the effects of revision
strategy instruction on L2 secondary school learners”, System 28, 97-113
(Nghiên cứu hiệu quả của việc hướng dẫn học theo phương pháp ôn tập đối với
học sinh phổ thông học tiếng nước ngoài, System 28, 97 - 113).
- Myles, J. (2002), "Second language writing and research: the writing
process and error analysis in student texs”, TESL-EJ 6 (2), www. kyoto-su.ac,
retrieved on 6 October, 2005 (Viết ngôn ngữ thứ hai và nghiên cứu: quá trình

nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm nhưng vẫn còn chưa hoàn toàn đồng nhất
về quan điểm, nguyên nhân mắc lỗi của người học ngoại ngữ. Các công trình
chủ yếu là dành tìm hiểu những lỗi sử dụng L2 - ở đây là tiếng Anh - của người

10


học. Kết quả nghiên cứu về lỗi ngữ pháp tiếng Anh ở các nước nhìn chung đều
thống nhất ở chỗ không cho ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay việc chuyển di tiêu
cực của người học là nguyên nhân duy nhất gây ra lỗi sử dụng L2 nhưng phải
thừa nhận chuyển di từ L1 là một trong những nguyên nhân quan trọng. Như
chính Jack C. Richards đã khẳng định hiện tượng giao thoa ngôn ngữ của L1 và
L2 là nguyên nhân gây khó khăn cho NH L2. [dẫn theo 24]
Có thể nói, mỗi công trình tuy đều cố gắng chỉ ra một vài kiểu lỗi với
những góc nhìn khác nhau nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tổng kết
các loại lỗi và các nguyên nhân gây lỗi một cách đầy đủ, toàn diện.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt nói chung
Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về việc
sử dụng tiếng Việt không đúng. Đối tượng sử dụng tiếng Việt ở đây là những người
dùng tiếng Việt nói chung: đó có thể là người Việt nam với tư cách là người sử
dụng L1, có thể là người nước ngoài với tư cách là người sử dụng L2.
Đã có những công trình viết về lỗi sử dụng tiếng Việt của người Việt
được in thành sách và dùng làm giáo trình thực hành ở một số trường Đại học,
Cao đẳng, xin liệt kê một vài công trình tiêu biểu:
(1) Diệp Quang Ban (1976), Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng
câu tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 3 - 1976;
(2) Nguyễn Đức Dân (1995), Tiếng Việt (thực hành), Tp Hồ Chí Minh:
Đại học Tổng hợp, Tp HCM;
(3) Nguyễn Đức Dân, Trần Thị Ngọc Lang, 1992, 1993, Câu sai và câu

Việt Nam và Trung Quốc trong quá trình học tập văn hóa giao tiếp của sinh
viên TQ, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành tiếng Việt, Đại học SP Vân Nam, tỉnh
Vân Nam, TQ.
(7) Mã Á Lệ (2011), Thực trạng viết câu tiếng Việt mắc lỗi của sinh viên
Trung Quốc chuyên ngành Tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư
phạm, Đại học Thái Nguyên.
12


(8) Lí Tuyết Ninh (2008), Phân tích sự giống nhau và khác nhau về từ
Hán Việt và giảng dạy ngôn ngữ, Tung hoành Đông Nam Á. NO. 09, 136 -139.
Trong những công trình vừa dẫn, các tác giả đã trình bày về những loại
lỗi ngữ âm, từ vựng hoặc lỗi ngữ pháp mà sinh viên Trung Quốc hay người Lào
thường mắc khi sử dụng tiếng Việt, như: lỗi dùng từ, lỗi viết câu, lỗi phát âm
như: lỗi về phát âm thanh điệu, lỗi phát âm phụ âm đầu hay lỗi phát âm phần
vần trong âm tiết tiếng Việt, v.v…
Đặc biệt, luận văn của tác giả Hứa Thị Chính đã tập trung miêu tả lỗi sử
dụng hành vi khen trong tiếng Việt của học viên quân sự Lào qua các lỗi ngữ dụng
(lỗi dùng các biểu thức ngôn ngữ của hành vi khen, như lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp,
v.v…). Như vậy, luận văn này đã đi theo một hướng mới khi nghiên cứu về lỗi sử
dụng L2, đó là nghiên cứu lỗi sử dụng L2 do chuyển di từ ngôn ngữ thứ nhất.
Tóm lại, các công trình vừa dẫn đều ít nhiều nhắc đến các kiểu lỗi sử
dụng tiếng Việt của người Việt hoặc người nước ngoài.
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt do chuyển di từ tiếng Hán
Có thể nói, theo hiểu biết của chúng tôi, đến nay đã có khá nhiều công
trình nghiên cứu về lỗi sử dụng tiếng Việt, song chưa có một công trình nào
dành riêng nghiên cứu về lỗi sử dụng tiếng Việt của người Trung Quốc do
chuyển di từ ngôn ngữ thứ nhất (tiếng Hán) một cách toàn diện. Do đó, có
thể một lần nữa khẳng định, đến nay, vấn đề nghiên cứu những lỗi sử dụng
tiếng Việt thường gặp do chuyển di từ L1 của người Trung Quốc vẫn đang là

/phản xạ /đáp ứng (stimulus - response). Tức là, một kích thích khởi phát sẽ đi
kèm sau đó một phản ứng xác định, nghĩa là muốn có phản ứng, muốn có một
hiện tượng, hành vi nào đó xảy ra phải tạo lập kích thích trước/phải có điều
kiện. Một kiểu loại phản ứng có thể được lặp đi, lặp lại nhiều lần, giống nhau
nếu kích thích được tái lập. Đây chính là cơ sở để hình thành thói quen khi mối
quan hệ giữa kích thích và phản ứng với nó được cài lập.

14


Theo thuyết hành vi, thói quen có hai đặc tính cơ bản:
- Thứ nhất, thói quen thể hiện qua hành vi, cử chỉ, động tác và có thể
quan sát được giống như có thể quan sát những sự vật hiện hữu trong thế giới
khách quan.
- Thứ hai, thói quen có tính tự động, máy móc. Chính vì có tính tự động,
máy móc cho nên một thói quen nào đó đã được xác lập thì nó rất khó bị tiêu
diệt một cách triệt để khi có môi trường tạo lập thói quen mới tương tự.
Thông thường, việc tạo lập thói quen có thể thực hiện bằng hai cách
là thông qua cơ chế bắt chước, mô phỏng và thông qua cơ chế khuyến
khích, tăng cường.
Thông qua cơ chế bắt chước, mô phỏng, tức là người học tự tạo lập kích
thích và phản ứng cho đến khi trở thành tự động.
Thông qua cơ chế khuyến khích, tăng cường, tức là người học thực hiện
phản ứng khi được nhận kích thích (từ bên ngoài) và được nhận phản hồi từ kết
quả (cho biết thích hợp hay không thích hợp, tốt hay chưa tốt), sau đó tiếp tục
lặp lại phản ứng cho đến khi hình thành thói quen.
Áp dụng hai nguyên lí này trong dạy - học ngoại ngữ, người dạy có thể
giúp người học tạo lập kích thích, phản ứng cho đến khi trở thành tự động. Ví
dụ, dạy và luyện phát âm chẳng hạn, người học thực hiện phản ứng khi được
nhận kích thích từ bên ngoài (chẳng hạn như nghe được âm nào đó do giáo viên

nhà hành vi luận.
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm phân tích, đối chiếu cho rằng, không
nên mắc lỗi trong quá trình học ngoại ngữ. Cần phải nghiêm khắc sửa chữa lỗi
khi thụ đắc L2. Theo các nhà ngôn ngữ học phân tích đối chiếu, nguyên nhân
chính gây ra lỗi của người học ngoại ngữ là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tức
khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ 2 - ngoại ngữ mà người học đang
tiến hành thụ đắc. Vì thế, khi dạy - học ngôn ngữ thứ hai, cần phải so sánh, đối
16


chiếu hai ngôn ngữ để tìm ra sự khác biệt giữa chúng, trên cơ sở đó giải thích,
dự đoán các lỗi mà người học đã hoặc có thể mắc phải. Và một khi đã tìm ra
nguyên nhân mắc lỗi của người học thì người dạy có thể tìm ra hướng khắc
phục các lỗi cho họ.
Tóm lại, khác với các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm hành vi luận hầu
như chỉ quan tâm đến vai trò của thói quen khi phân tích nguyên nhân mắc lỗi
của người học, các nhà ngôn ngữ học đối chiếu đã có cái nhìn rộng hơn khi
xem xét lỗi của người học L2. Điều này thể hiện ở chỗ các nhà ngôn ngữ học
đối chiếu đã đứng trên cả bình diện tâm lí (lỗi của người học một phần do thói
quen) và bình diện ngôn ngữ (người học mắc lỗi một phần do sự khác biệt giữa
hai ngôn ngữ) để xem xét lỗi. Tuy nhiên, dường như các nhà ngôn ngữ học đối
chiếu có vẻ nghiêng về lí do thứ hai hơn, khi họ khẳng định “Tài liệu hiệu quả
nhất là các tài liệu xây dựng trên cơ sở miêu tả một cách khoa học ngôn ngữ
đích (tức L2 - Phùng Thư Ấn), so sánh một cách chi tiết với hệ thống ngôn ngữ
mẹ đẻ của người học”. [53, tr. 85].
(3) Lỗi theo quan điểm giao thoa văn hoá
Đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về Văn hoá.Tác giả Lê Xảo Bình [3,
tr.11] đã đưa ra con số là hơn 160. Xin dẫn ra dưới đây một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, H. 2000, khái niệm
văn hoá được hiểu như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status