Một số lỗi phát âm tiếng việt của sinh viên học viện sư phạm quảng tây trung quốc - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LƢƠNG HIỂU HẠ

MỘT SỐ LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT
CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN SƢ PHẠM
QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LƢƠNG HIỂU HẠ

MỘT SỐ LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT
CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN SƢ PHẠM
QUẢNG TÂY TRUNG QUỐC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ


MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................... 5
5. Các phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
6. Đóng góp của luận văn ..................................................................................... 6
7. Cấu trúc của luận văn ....................................................................................... 7
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................. 8
1.1. Khái quát về ngữ âm ...................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm ngữ âm ...................................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm âm tiết và âm tiết tiếng Việt ...................................................... 8
1.2. Khái quát về lỗi sử dụng ngoại ngữ............................................................... 9
1.2.1. Khái niệm lỗi sử dụng ngoại ngữ ............................................................... 9
1.2.2. Một số quan niệm về lỗi sử dụng L2 ........................................................ 10
1.2.3. Các cách phân loại lỗi ............................................................................... 23
1.3. Sơ lược về lỗi phát âm ngôn ngữ ................................................................. 28
1.3.1. Khái niệm mắc lỗi phát âm ngôn ngữ ..................................................... 28
1.3.2. Quan điểm của luận văn về phát âm tiếng Việt mắc lỗi ........................... 28
1.4. Tiểu kết ........................................................................................................ 29
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG LỖI PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CỦA SINH
VIÊN HỌC VIỆN SƢ PHẠM QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC ................. 31
2.1. Trình độ phát âm tiếng Việt của sinh viên Học viện Sư phạm Quảng
Tây, Trung Quốc................................................................................................. 31
2.1.1. Nhận xét chung ......................................................................................... 31
2.1.2. Kết quả cụ thể ........................................................................................... 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


3.3. Tiểu kết ........................................................................................................ 81
KẾT LUẬN........................................................................................................ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ 85
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 90

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

iii




DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng kết trình độ phát âm tiếng Việt của sinh viên HVSP
Quảng Tây, Trung Quốc ...................................................................... 33
Bảng 2.2: Bảng phát âm phụ âm đầu mắc lỗi theo kiểu biến âm của sinh
viên HVSP Quảng Tây, TQ ................................................................. 38
Bảng 2.3: Bảng phát âm phụ âm đầu mắc lỗi theo kiểu lược bỏ phụ âm đầu
của sinh viên HVSP Quảng Tây, TQ .................................................. 39
Bảng 2.4 ............................................................................................................. 41
Bảng 2.5: Bảng tổng kết lỗi phát âm các nguyên âm đôi ................................... 43
Bảng 2.6: Bảng tổng kết lỗi phát âm các nguyên âm ngắn trong tiếng Việt
của sinh viên Học viện Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc................. 45
Bảng 2.7: Bảng tổng kết các âm vị nguyên âm đơn dài TV mà sinh viên
HVSP Quảng Tây phát âm không đúng .............................................. 47
Bảng 2.8: Bảng tổng kết các phụ âm cuối sinh viên Trung Quốc phát âm
mắc lỗi theo kiểu biến âm .................................................................... 51
Bảng 2.9: Bảng tổng kết các phụ âm cuối mắc lỗi theo kiểu lược bỏ âm
trong âm tiết ......................................................................................... 52
Bảng 2.10: Bảng tổng kết lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của sinh viên

cứ ai dạy hay học ngoại ngữ cũng cần phải nắm được để tìm cách tránh lỗi
cũng như sửa lỗi sử dụng L2.
Nếu đạt được mục tiêu đặt ra, ngoài những đóng góp về mặt lí luận là
củng cố lí thuyết về lỗi sử dụng L2, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo
cho những ai muốn tìm hiểu về lỗi sử dụng L2 nói chung, lỗi phát âm L2 nói
riêng khi dạy - học ngoại ngữ , ngôn ngữ thứ hai (L2) của người học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1




2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về việc nghiên cứu lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 của người học
- Trước khi ngành Phân tích đối chiếu ra đời (khoảng giữa thế kỉ XIX),
hướng nghiên cứu về lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 / ngoại ngữ (L2) của người
học (NH) ngoại ngữ chưa được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm một
cách thỏa đáng.
- Ngành phân tích đối chiếu ra đời và đã lấy trường tâm lí hành vi luận
làm căn cứ lí luận khi đưa ra quan điểm: lực cản duy nhất khiến người học
ngoại ngữ không đạt kết quả như mong muốn là sự can thiệp không nên có của
thói quen từ ngôn ngữ thứ nhất (L1) của người học; và tất cả lỗi trong quá trình
học ngoại ngữ là do sự khác biệt giữa L1 và L2. Sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ
(L1 và L2) chẳng những là nguyên nhân gây ra lỗi mà còn là bức rào tạo ra
những khó khăn cho người học. Chính vì vậy, việc đối chiếu L1 và L2, chỉ ra
được sự khác nhau giữa chúng sẽ là chìa khóa giải quyết vấn đề phát hiện lỗi và
sửa lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai.
- Vào đầu những năm 70 của thế kỉ trước đã có hàng loạt công trình
nghiên cứu lỗi L2 của người học tiếng ra đời. Dưới đây là một số công trình

+ Phạm Đăng Bình (2002), “Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người
học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hóa”, Ngôn
ngữ, số 9, 58-72).
+ Trần Kim Phượng (2005), “Những lỗi thường gặp về trật tự từ ở người
Việt học tiếng Anh”, Ngôn ngữ &Đời sống, số 10, 28-29.
+ Đỗ Minh Hùng (2007), “Lỗi ngữ pháp tiếng Anh thường gặp của người
Việt Nam”, Luận án TS Ngữ Văn, ĐHQG Tp HCM .
Tóm lại, việc nghiên cứu lỗi của người học ngoại ngữ đã được giới nghiên
cứu ngôn ngữ học quan tâm nhưng vẫn còn chưa hoàn toàn đồng nhất về quan
điểm nguyên nhân mắc lỗi của người học ngoại ngữ. Các công trình chủ yếu là
dành tìm hiểu những lỗi sử dụng L2 - ở đây là tiếng Anh - của người học từ
nhiều nguyên nhân. Kết quả nghiên cứu về lỗi ngữ pháp tiếng Anh ở các nước
nhìn chung đều thống nhất ở chỗ không cho ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay
việc chuyển di tiêu cực của L1 của người học là nguyên nhân duy nhất gây ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

3




lỗi sử dụng L2. Hơn nữa, mỗi công trình tuy đều cố gắng chỉ ra một vài kiểu lỗi
với những góc nhìn khác nhau nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tổng
kết các loại lỗi và nguyên nhân gây lỗi một cách đầy đủ, toàn diện.
Vận dụng kết quả nghiên cứu của những người đi trước, luận văn này tập
trung nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Việt của du học sinh Trung Quốc.
2.2. Về tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng tiếng Việt
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng tiếng Việt không
đúng. Đối tượng sử dụng tiếng Việt ở đây bao gồm cả người Việt với tư cách là
người sử dụng L1, lẫn người nước ngoài với tư cách là người sử dụng L2. Dưới

thường gặp của sinh viên Học viện Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát lỗi phát âm tiếng Việt là sinh
viên Học viện Sư phạm Quảng Tây,Trung Quốc.
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Việt của
sinh viên Trung Quốc, lấy đơn vị âm tiết TV làm cơ sở khảo sát và phân tích
lỗi. Việc luận văn chọn đơn vị âm tiết là đối tượng nghiên cứu lỗi phát âm là
bởi trong tiếng Việt, âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên, nhỏ nhất, đồng thời, nó
là đơn vị mang nghĩa, thường trùng với ranh giới của hình vị.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Củng cố thêm lí thuyết về lỗi sử dụng L2 của người học.
- Từ việc phân tích lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc, hy
vọng luận văn sẽ giúp người học ngoại ngữ nhận thức được rằng: việc mắc lỗi
sử dụng L2 là điều khó tránh, song vấn đề quan trọng là cần phải phát hiện ra
lỗi cũng như nguyên nhân mắc lỗi. Có như vậy thì người học mới có thể tránh
được lỗi và biết cách sửa lỗi.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, luận văn xác định một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu và lựa chọn một số lí thuyết liên quan được dùng làm căn cứ
lí luận cho đề tài: Lí thuyết về ngữ âm, cụ thể là lí thuyết về âm vị, lí thuyết về
âm tiết tiếng Việt; lí thuyết về lỗi sử dụng ngoại ngữ, v.v…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

5




- So sánh hệ thống âm vị tiếng Hán và hệ thống âm vị tiếng Việt để tìm ra



7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Thực trạng phát âm tiếng Việt mắc lỗi của sinh viên Học
viện Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc.
- Chương 3: Nguyên nhân sinh viên Học viện Sư phạm Quảng Tây, Trung
Quốc phát âm tiếng Việt mắc lỗi và hướng sửa lỗi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7




Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái quát về ngữ âm
1.1.1. Khái niệm ngữ âm
Theo tác giả Đoàn Thiện Thuật, “Ngữ âm là toàn bộ các âm, các thanh,
các kết hợp âm thanh và ngôn điệu nằm trong các kiểu loại đơn vị ngôn
ngữ”.[18, tr 45]
Các âm thanh và ngôn điệu kết hợp với nhau theo những qui tắc, qui luật
nhất định, tùy từng ngôn ngữ.
Các âm thanh trong một ngôn ngữ có quan hệ đồng nhất và đối lập với
nhau về mặt giá trị và lập thành hệ thống. Đó là hệ thống ngữ âm.
1.1.2. Khái niệm âm tiết và âm tiết tiếng Việt

làn khởi đầu phát âm bằng động tác đầu lưỡi đạt vào răng, lợi hàm trên.
- Âm chính là âm mang âm sắc chủ yếu của âm tiết. Đó là âm hạt nhân.
Khi phát âm một âm tiết, âm hưởng chủ yếu của âm tiết rơi vào âm chính. So
sánh hai âm tiết: suy và sui. Âm hưởng của âm tiết suy rơi vào yếu tố „y‟, còn
trong sui, âm hưởng lại rơi vào yếu tố „u‟.
- Âm cuối có tác dụng khu biệt âm tiết này với âm tiết kia về sự kết thúc
âm tiết. Chẳng hạn, âm tiết làm và âm tiết làn khác nhau ở cách kết thúc âm
tiết. Âm tiết „làm‟ kết thúc bằng động tác hai môi mím lại còn âm tiết „làn‟ lại
kết thúc bằng động tác đầu lưỡi chạm vào phần răng – lợi hàm trên.
Có thể mô hình khái quát cấu tạo của âm tiết tiếng Việt như sau:
Thanh điệu
Phụ âm đầu

Vần
Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

1.2. Khái quát về lỗi sử dụng ngoại ngữ
1.2.1. Khái niệm lỗi sử dụng ngoại ngữ
Đã có khá nhiều quan điểm về lỗi sử dụng ngoại ngữ - ngôn ngữ đích
(L2). Dưới đây là hai quan điểm tiêu biểu:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

9



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

10




- Thứ hai, thói quen có tính tự động, máy móc. Chính vì có tính tự động,
máy móc cho nên một thói quen nào đó đã được xác lập thì nó rất khó bị tiêu
diệt khi có môi trường tạo lập thói quen mới tương tự.
Thông thường, việc tạo lập thói quen có thể thực hiện bằng hai cách là thông
qua cơ chế bắt chước, mô phỏng và thông qua cơ chế khuyến khích, tăng cường.
Áp dụng hai nguyên lí này trong dạy - học ngoại ngữ, người dạy có thể
giúp người học tạo lập kích thích, phản ứng cho đến khi trở thành tự động. Ví
dụ, dạy và luyện phát âm chẳng hạn, người học thực hiện phản ứng khi được
nhận kích thích từ bên ngoài. Chẳng hạn như nghe được âm nào đó do giáo
viên phát ra, họ sẽ bắt chước đến khi âm được luyện trở thành kĩ năng, tức có
thể phát ra như một thói quen khi cần.
Lí thuyết hành vi là lí thuyết của việc học nói chung và học ngoại ngữ nói
riêng. Những người theo lí thuyết hành vi luận khẳng định rằng, việc học ngoại
ngữ (L2) là việc tạo lập những thói quen mới khi người học đã có sẵn những
thói quen cũ của tiếng mẹ đẻ (L1). Vì vậy, quá trình hình thành thói quen mới
khi sử dụng L2 tất yếu sẽ chịu sự tác động và ảnh hưởng của thói quen cũ từ L1
mà lí do đã nói ở trên (thói quen hay phản ứng cũ rất khó bị loại bỏ triệt để nếu
trong quá trình tạo thói quen mới có điều kiện tương tự).
Từ cách nhìn này, các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm của lí thuyết
hành vi luận đã cho nguyên nhân mắc lỗi của người học khi học ngoại ngữ
chính là do sự chuyển di thói quen trong sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ. Một điều
cực đoan của các nhà hành vi luận là đã xem lỗi sử dụng L2 của người học là
một cái xấu do người học thiếu tập trung, lơ đãng trong học tập và không biết

đối chiếu đã đứng trên cả bình diện tâm lí (lỗi của người học một phần do thói
quen) và bình diện ngôn ngữ (người học mắc lỗi một phần do sự khác biệt giữa
hai ngôn ngữ) để xem xét lỗi. Tuy nhiên, dường như các nhà ngôn ngữ học đối
chiếu có vẻ nghiêng về lí do thứ hai hơn, khi họ khẳng định “Tài liệu hiệu quả
nhất là các tài liệu xây dựng trên cơ sở miêu tả một cách khoa học ngôn ngữ
đích (tức L2 – Lương Hiểu Hạ), so sánh một cách chi tiết với hệ thống ngôn
ngữ mẹ đẻ của người học”. [31, tr. 85].
1.2.2.3. Lỗi theo quan điểm giao thoa văn hoá
Trước khi tìm hiểu lỗi trên quan điểm giao thoa văn hoá, cần hiểu khái
niệm Văn hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

12




Cần phải nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về Văn hoá.
Tác giả Lê Xảo Bình [3, tr.11] đã đưa ra con số là hơn 160. Xin dẫn ra dưới đây
một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, H. 2000, khái niệm văn
hoá được hiểu như sau:
- Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình lịch sử;
- Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần;
- Tri thức kiến thức khoa học;
- Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh;
- Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một
tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.
Tác giả Damen, L. đưa ra định nghĩa: Văn hoá (culture) là “những kiểu

trong những nguyên nhân dẫn đến lỗi sử dụng L2 của người học là sự khác biệt
về văn hoá mà ngay từ năm 1957, nhà ngôn ngữ học R. Lado đã tính đến sự
khác biệt về văn hoá khi so sánh các ngôn ngữ. Tác giả đã có lí khi khẳng định
rằng: “Nếu so sánh ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học, chỉ ra được sự
giống và khác nhau giữa hai ngôn ngữ và hai nền văn hoá thì giáo viên sẽ ý
thức được khó khăn thực sự của người học là gì và từ đó có thể dạy tốt hơn”.
[32, tr. 1]
Tác giả Lê Xảo Bình cũng đã nêu được 11 kiểu lỗi dùng từ mà người
Trung Quốc thường mắc do nguyên nhân khác biệt giữa văn hoá của người
Việt và văn hoá của người Hán. Đặc biệt, những lỗi dùng từ này được tác giả
phân loại khá chi tiết theo tiêu chí từ loại, ví dụ như lỗi sử dụng đại từ xưng hô,
lỗi sử dụng một số động từ, lỗi sử dụng một số danh từ, lỗi sử dụng giới từ, lỗi
sử dụng số từ, lỗi sử dụng cảm từ,…
Tóm lại, chỉ ra sự khác biệt về văn hoá và thấy được đây là một trong
những nguyên nhân sâu sa dẫn đến lỗi sử dụng L2 của người học là một bước
tiến của ngành ngôn ngữ học cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, khi dạy
ngoại ngữ không nên bỏ qua yếu tố văn hoá trong việc phát hiện và sửa lỗi cho
người học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

14




1.2.2.4. Lỗi theo quan điểm phương pháp giao tiếp
Nếu như quan điểm dạy tiếng theo phương pháp cổ điển (dựa trên lí
thuyết cấu trúc luận) chỉ coi trọng việc dạy người học nắm hệ thống cấu trúc
của ngôn ngữ thì quan điểm dạy tiếng theo phương pháp giao tiếp lại vừa chú ý
tới việc dạy người học nắm hệ thống cấu trúc ngôn ngữ,vừa chú ý tới việc rèn

- Về chiến lược chuyển dịch tương ứng 1-1: Tương ứng 1-1 ở đây bao
gồm cả số lượng và trật tự từ. Chiến lược chuyển dịch là chiến lược được sử
dụng nhiều nhất trong học ngoại ngữ bởi nó không gây khó khăn cho người
học. Song, chiến lược này trên thực tế chỉ giúp người học không mắc lỗi khi hai
ngôn ngữ (L1 và L2) có sự tương đồng trên cả ba bình diện: Kết học, nghĩa học
và dụng học. Điều đó cho ta thấy người Trung Quốc học tiếng Việt sử dụng
chiến lược chuyển dịch có nhiều bất lợi vì sự khác biệt khá lớn giữa hai ngôn
ngữ này, chẳng hạn như sự khác biệt về hệ thống ngữ âm, khác biệt về sự chia
cắt hiện thực khách quan của khá nhiều từ ngữ hay sự khác biệt về trật tự các
thành tố của câu…
- Về chiến lược thay thế / giải thích: Chiến lược này thường liên quan đến
vốn từ vựng của người học. Vì muốn nói bằng L2 nhưng không có từ chính
xác, người học phải chọn từ khác thay thế có nghĩa tương đương hoặc giải thích
dài dòng. Cả hai cách này đều sinh lỗi. Ví dụ, vì không nắm vững nghĩa và
cách sử dụng của từ giặt và từ rửa trong tiếng Việt là hai từ có nghĩa và cách sử
dụng chỉ tương đương với một từ trong tiếng Hán – từ xi . Từ „xi‟ vừa có nghĩa
là „rửa‟, vừa có nghĩa là „giặt‟: giặt quần áo, giặt chiếu, giặt chăn màn,…rửa
mặt, rửa rau, rửa bát,…cho nên người Trung Quốc thường bị mắc lỗi khi dùng
hai từ này. Có em đã dùng từ giặt thay vì phải dùng từ rửa, ví dụ một em sinh
viên đã nói: cô V giặt mặt (rửa mặt) rất cẩn thận. Từ các ví dụ vừa dẫn có thể
thấy rằng, chiến lược thay thế / giải thích lí giải vì sao người học phạm lỗi dùng
sai hay thừa từ khi sử dụng L2.
Tóm lại, theo quan điểm giao tiếp, lỗi sử dụng L2 của người học là một
nhân tố tích cực trong quá trình dạy tiếng. Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm
này là do quá chú trọng đến chức năng giao tiếp nên một số nhà ngôn ngữ học
theo quan điểm này chưa chỉ ra được đặc tính của các kiểu lỗi cũng như chưa
giải đáp một cách thoả đáng cơ chế mắc lỗi của người học L2.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16

trong suốt tiến trình thụ đắc L2 có thể phân thành bốn giai đoạn: lỗi ngẫu nhiên,
lỗi hình thành hệ thống, lỗi hệ thống và lỗi cố định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

17




Tóm lại, dưới góc nhìn của quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung gian,
lỗi có ý nghĩa trên ba bình diện: 1) Thông qua phân tích lỗi, giáo viên có thể
biết về tiến độ của người học; 2) Lỗi cung cấp cho người nghiên cứu những
hiểu biết về bản chất của quá trình học tập hay thụ đắc ngôn ngữ, những quá
trình hay hoạt động tâm lí ngôn ngữ nào đang được người học sử dụng; và 3)
Lỗi là điều tất yếu đối với chính bản thân người học.
Lỗi không chỉ là một bộ phận tất yếu của hệ thống ngôn ngữ được hình
thành trong quá trình tiếp nhận kiến thức L2 mà nó còn có tính chất hệ thống,
là kết quả của các quá trình ngôn ngữ tâm lí của người học và nó cung cấp
thông tin về trình độ, giai đoạn và mức độ thụ đắc hay năng lực giao tiếp L2
của người học.
Trái với quan điểm của các nhà hành vi luận, các nhà ngôn ngữ học theo
quan điểm này không coi lỗi là một cái “tội” của người học “cần kiên quyết
loại bỏ” mà “… lỗi là công cụ học tập, là cách để người học kiểm chứng những
giả thuyết của mình về ngôn ngữ đang học”. Tuy có đánh giá vai trò tích cực
của lỗi nhưng các nhà nghiên cứu theo quan điểm phân tích lỗi và hệ ngữ trung
gian cũng thấy hạn chế của lỗi là “lỗi có thể biến thành cố tật và là nguyên nhân
khiến cho hệ ngữ trung gian không thể tiếp cận được L2”. [2, tr. 43]
1.2.2.6. Lỗi theo quan điểm chiến lược học tiếng
Đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về chiến lược học tiếng, xin dẫn một
vài định nghĩa tiêu biểu [2, tr. 45, 46]

Tác giả Đỗ Minh Hùng [2, tr. 46] đã khẳng định rằng “…mọi người học
đều ít nhiều sử dụng các chiến lược học tiếng, nhưng không hoàn toàn đồng
nhất về số lượng chiến lược và mức độ hiệu quả”. Việc lựa chọn chiến lược học
tiếng có thể phụ thuộc vào tám yếu tố: 1) động cơ, 2) giới tính, 3) cơ sở văn
hoá, 4) thái độ và niềm tin, 5) loại hình công việc, 6) tuổi tác và giai đoạn học, 7)
cách thức học, và 8) khả năng chấp nhận sự mơ hồ.
Điều cần nói ở đây là vấn đề quan hệ giữa các chiến lược học tiếng và lỗi
của người học ngoại ngữ. Theo tác giả Đỗ Minh Hùng, “Có thể qui về hai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

19





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status