Bộ giáo dục và đào tạo Viện Khoa học x hội Việt Nam
Viện Ngôn ngữ học
Phùng thị thanh Phân tích đối chiếu hệ thống
ngữ âm - âm vị học tiếng Việt với tiếng Hmông
và các lỗi phát âm tiếng Việt
của Học sinh Hmông
Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ
M số : 62.22.01.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn
Hà Nội - 2007
Luận án đợc hoàn thành tại
Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam Ngời hớng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Nguyễn Văn Lợi
2. TS. Nguyễn Hữu Hoành
Phản biện 1: PGS. TS. Đặng Thị Lanh
Tiếng Việt và tiếng Hmông đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập - âm tiết tính nhng
có rất nhiều điểm khác nhau. Đây là vấn đề khó khăn nhất đối với ngời học các ngôn ngữ
này. Là một giáo viên đã giảng dạy nhiều năm ở vùng dân tộc Hmông, tôi nhận thấy rằng:
HS Hmông khi học tiếng Việt thờng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là ở khía cạnh phát âm.
Vì thế, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa tiếng
Việt và tiếng Hmông đã tác động trực tiếp, gây nên các giao thoa ngữ âm - âm vị học cũng
nh các lỗi phát âm tiếng Việt của các cá thể song ngữ Hmông - Việt và tìm giải pháp khắc
phục. Đề tài: "Phân tích đối chiếu hệ thống ngữ âm - âm vị học tiếng Việt với tiếng Hmông
và các lỗi phát âm tiếng Việt của Học sinh Hmông" xuất phát từ nhu cầu cấp bách này.
2. Lịch sử vấn đề
Hệ thống ngữ âm - âm vị học tiếng Việt đã đợc nhiều nghiên cứu miêu tả ngôn
ngữ học quan tâm từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau nh Haudricourt A.G (1954),
Thompson L. (1985), Đoàn Thiện Thuật (1976), Đinh Lê Th và Nguyễn Văn Huệ (1998),
Cao Xuân Hạo (2001) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công
nghệ thông tin, phơng pháp phân tích thực nghiệm sử dụng các phần mềm máy tính và
các thiết bị đo lờng âm học đã trợ giúp cho việc giải thích hệ thống ngữ âm - âm vị học
tiếng Việt ngày càng cụ thể, chính xác, rõ ràng hơn, nhất là những nghiên cứu về thanh
điệu: Vũ Thanh Phơng (1982, 1986), Nguyễn Văn Lợi và Edmondson (1997, 2002) v.v
Về tiếng Hmông, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ này khá phong phú, có thể kể
đến những công trình của các tác giả nh: F.M.Savina (1916), Chang Kun (1953), A.G
Haudricourt (1954), Nguyễn Văn Lợi (1972, 1983)
2
Việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Hmông cũng nh nghiên cứu đối chiếu hệ thống ngữ
âm - âm vị học của tiếng Việt và tiếng Hmông nhằm mục đích ứng dụng thực tiễn thì hiện
nay cha có nhiều. Luận án của chúng tôi, vì thế, có thể coi là thử nghiệm đầu tiên đáp
ứng những nhu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn của việc dạy tiếng Việt
cho ngời Hmông nói chung và cho HS Hmông nói riêng, ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích nghiên cứu: 1/ Phân tích miêu tả những đặc điểm cơ bản của hệ thống
Hmông, giúp ngời Hmông học tốt tiếng Việt cũng nh giúp ngời Việt học tốt tiếng Hmông.
Đồng thời, việc triển khai đề tài luận án còn góp phần thực hiện Chỉ thị 38/2004/CT-TTg của
Thủ tớng Chính phủ ngày 09 tháng 11 năm 2004 về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dỡng tiếng
dân tộc đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi.
5. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
5.1. Đối tợng nghiên cứu: Đối tợng nghiên cứu của luận án là hệ thống ngữ âm
tiếng Việt, tiếng Hmông và các lỗi phát âm tiếng Việt của học sinh Hmông.
5.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án gồm: 1/ Hệ thống ngữ âm
tiếng Việt (phơng ngữ Bắc Bộ). 2/ Hệ thống ngữ âm tiếng Hmông. 3/ Các lỗi phát âm âm tiết,
thanh điệu, âm đầu và vần của HS Hmông học tiếng Việt.
6. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận án, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp: 1/ Phơng pháp phân
tích miêu tả hệ thống ngữ âm - âm vị học bằng cảm thụ kết hợp với phơng pháp phân tích
miêu tả thực nghiệm các đặc trng ngữ âm - âm vị học tiếng Việt và tiếng Hmông, với sự trợ
giúp của các chơng trình phần mềm máy tính: Win CECIL, ASAP (Acoustic Speech
Analyzer Program). 2/ Phơng pháp phân tích đối chiếu trên cấp độ ngữ âm - âm vị học. 3/
Phơng pháp phân tích giao thoa trên cấp độ ngữ âm - âm vị học. 4/ Phơng pháp phân tích lỗi.
7. T liệu nghiên cứu
Để miêu tả các đặc điểm ngữ âm - âm vị học tiếng Việt và tiếng Hmông, chúng tôi sử dụng
t liệu nghiên cứu của các tác giả đi trớc và dựa vào 2 băng ghi âm ghi phát âm tiếng Hmông
Lềnh do 5 CTV ngời Hmông Lềnh (gồm 4 nam và 1 nữ, ở độ tuổi từ 40 - 50), c trú tại: thôn
Lồ, thôn Hàng, thôn Lý, xã Lao Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai và cha từng thay đổi chỗ ở.
- Để khảo sát, phát hiện và phân tích lỗi phát âm tiếng Việt của HS Hmông, chúng
tôi dựa vào 8 băng ghi âm, ghi các phát âm về âm tiết, thanh điệu, âm đầu và vần tiếng
Việt theo các bảng từ thử gồm các từ tách rời và trong ngữ cảnh (văn bản), do 41 HS ngời
Hmông (14 HS nữ và 27 HS nam, độ tuổi từ 7 đến 27) thuộc các khối lớp: lớp 1, lớp 5 và
lớp 9 tham gia phát âm. Trong đó có 11 HS lớp 1, 11 HS lớp 5 và 19 HS lớp 9. 41 HS này
4
đang học tập tại các trờng: Tr
/ tiếng Việt
với 5 thành tố: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu
Thanh điệu F
0
Âm đầu Âm đệm âm chính Âm cuối 5
* Cấu trúc âm tiết tiếng Hmông: Cũng nh âm tiết tiếng Việt, âm tiết tiếng Hmông đợc
phân chia thành các đơn vị, các yếu tố theo 2 bậc.
Âm tiết
I Thanh điệu Âm đầu Vần
II Âm chính Âm cuối 1.2.1.3. Kiểu loại âm tiết tiếng Việt và âm tiết tiếng Hmông
* Kiểu loại âm tiết tiếng Việt: Âm tiết tiếng Việt đợc chia ra thành 4 kiểu loại nh
sau: âm tiết mở, âm tiết nửa mở, âm tiết nửa khép, âm tiết khép.
* Kiểu loại âm tiết tiếng Hmông: Âm tiết tiếng Hmông có thể đợc chia thành 3 kiểu
loại nh sau: âm tiết mở, âm tiết nửa mở, âm tiết nửa khép.
1.2.2. Sự tơng đồng và khác biệt giữa âm tiết tiếng Việt và âm tiết tiếng Hmông
1.2.2.1. Những điểm tơng đồng giữa âm tiết tiếng Việt và âm tiết tiếng Hmông
Xét về mặt chức năng, âm tiết trong tiếng Việt và tiếng Hmông vừa là đơn vị ngữ âm
vừa là đơn vị hình thái. Xét về mặt cấu trúc, âm tiết tiếng Việt và âm tiết tiếng Hmông đều có
thể đợc phân chia thành các đơn vị, các yếu tố, theo hai bậc. Xét về mặt kiểu loại, tiếng Việt
và tiếng Hmông đều có các kiểu loại âm tiết: mở, nửa mở, nửa khép.
cùng tỷ lệ % số lần phát âm sai của HS trong nhóm rất cao.
1.4.1.2. Lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của HS Hmông lớp 5 - TLC: Khả năng phát
âm âm tiết tiếng Việt có chứa giới âm của nhóm HS lớp 5 - TLC còn rất kém và không khá
hơn là bao so với nhóm HS lớp 1 - TLC.
1.4.1.3. Lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - TLC: Khả năng phát
âm đúng âm tiết tiếng Việt có chứa giới âm của nhóm HS lớp 9 - TLC cha khá hơn nhiều so
với các HS lớp 1 và lớp 5 cùng trờng.
1.4.2. Lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - TTGDTX Sa Pa
Khả năng phát âm âm tiết tiếng Việt có giới âm của HS Hmông lớp 9 - TTGDTX Sa Pa
đã khá hơn rất nhiều so với nhóm HS TLC. Tuy nhiên, ở nhóm HS này vẫn mắc lỗi thể hiện
âm đệm trớc nguyên âm rộng /a/ ở âm tiết mở lẫn sang yếu tố đầu của nguyên âm đôi /u
è
o/ làm
âm chính trong âm tiết tiếng Việt cùng kiểu loại. Đây là điểm khác biệt rõ hơn cả trong cách
thể hiện âm tiết tiếng Việt của một số HS lớp 9 - TTGDTX Sa Pa so với các nhóm HS khác.
1.4.3. Lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - PTDTNT Sa Pa
Do đã đợc học tập và rèn luyện nhiều, nên kiểu âm tiết tiếng Việt này thực sự không còn là
trở ngại đáng kể đối với việc thụ đắc và phát âm tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - PTDTNT Sa Pa.
1.5. Lỗi phát âm âm tiết tiếng Việt và vấn đề giao thoa ngữ
âm - âm vị học âm tiết của học sinh Hmông
Việc tri nhận và phát âm thiếu/thể hiện không chính xác giới âm trong âm tiết tiếng
Việt của HS Hmông nh đã trình bày có nguyên nhân từ kiểu giao thoa dới mức khu biệt.
1.6. Một số giải pháp khắc phục các lỗi phát âm âm tiết tiếng
Việt cho học sinh ngời Hmông
1.6.1. Giải pháp về công tác chuẩn hóa giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng Hmông
Giáo viên dạy tiếng phải phát âm tốt và nắm đợc chức năng, cấu trúc, kiểu loại âm tiết
tiếng Việt trong sự so sánh với âm tiết tiếng Hmông, giải thích cho HS Hmông hiểu đợc
nguyên nhân nảy sinh lỗi bằng việc phân tích kiểu giao thoa tác động trực tiếp gây ra lỗi.
7
8
2.1.2.2. Thanh điệu xét từ bình diện âm vị học: Các thanh vị trong một HTTĐ đối lập
nhau theo các tiêu chí khu biệt. Toàn bộ các nét khu biệt của thanh vị làm thành nội dung âm
vị học của thanh điệu.
2.2. Phân tích đối chiếu hệ thống thanh điệu tiếng Việt với hệ
thống thanh điệu tiếng Hmông
2.2.1. Hệ thống thanh điệu tiếng Việt
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu thanh điệu tiếng Việt: Lâu nay, thanh điệu tiếng Việt
và các đặc trng ngữ âm của thanh điệu tiếng Việt đã đợc quan tâm và miêu tả khá kĩ.
Chúng tôi sẽ dựa vào kết quả mà các công trình nghiên cứu ngữ âm trớc đây đã khẳng định
và kết quả phân tích ngữ liệu bằng phơng pháp phân tích thực nghiệm, để giải thích và miêu
tả đặc điểm ngữ âm - âm vị học của từng thanh, trong HTTĐ tiếng Việt hiện đại.
2.2.1.2. Đặc điểm ngữ âm - âm vị học của HTTĐ tiếng Việt: HTTĐ tiếng Việt (Bắc
Bộ) gồm 6 thanh: Ngang (Không dấu), Huyền (`), Hỏi (
), Ngã (
~
), Sắc ( ), Nặng (.), khu biệt
nhau theo tiêu chí về cao độ và chất giọng. Các đặc trng về cao độ của HTTĐ tiếng Việt
đợc biểu thị trong sơ đồ dới đây:
Thanh dieu Bac Bo (Nu )
38
40
42
44
46
48
50
52
54
đợc biểu thị trong sơ đồ dới đây:
Thanh dieu Hmong Lenh Sa Pa
31
33
35
37
39
41
43
45
0 100 200 300 400 500
Thoi gian Ms
F0 Semitone
Vỡ
Bằng
Búa
Bí
Cứng
Đậu
Lửa
Chân
Sơ đồ trên cho thấy đặc trng về cao độ (âm điệu và âm vực) của HTTĐ tiếng Hmông.
Giữa các thanh tiếng Hmông có sự đối lập về âm điệu theo các tiêu chí: đờng nét ngang
(Không dấu, K, S) vs. đờng nét xuống (X, L, Z) vs. đờng nét lên (R) vs. đờng nét xuống -
lên (V). Về âm vực, tiếng Hmông có sự khu biệt giữa các thanh theo ba bậc: cao (Không
dấu, X, Z) vs. trung bình (R, K) vs. thấp (V, L, S). Ngoài ra, ở hệ thanh tiếng Hmông còn có
đối lập về chất giọng giữa các thanh chất giọng thờng (Không dấu, X, R, K, Z) vs. chất
giọng thở (ký hiệu /
giọng TMH, trong khi ở tiếng Hmông lại vắng hiện tợng này.
2.3. Các kiểu giao thoa và những khó khăn trong việc thụ
đắc và phát âm thanh điệu tiếng Việt đối với Học sinh Hmông
2.3.1. Giao thoa dới mức khu biệt (Under - differentiation): xảy ra khi HS Hmông
phát âm thanh Ngã tiếng Việt lẫn sang thanh Sắc, lẫn lộn cách phát âm của thanh Huyền và
thanh Nặng tiếng Việt.
2.3.2. Giao thoa trên mức khu biệt (Over - differentiation): xảy ra khi HS Hmông
có xu hớng lấy sự khu biệt 3 bậc về âm vực, tiêu chí chất giọng thở (chỉ khu biệt trong HTTĐ
tiếng Hmông) để nhận biết và thể hiện các thanh tiếng Việt nh: phát âm thanh Huyền, thanh
Ngang tiếng Việt tơng tự thanh Kuôk (với đờng nét ngang và âm vực trung), thể hiện
thanh Huyền tiếng Việt với chất giọng thở (tơng tự thanh Lul, thanh Sơs tiếng Hmông).
2.3.3. Giao thoa tái thuyết sự khu biệt (Re - interpretation): xảy ra khi HS Hmông
gán cách phát âm của thanh Lul tiếng Hmông cho thanh Nặng và thanh Hỏi tiếng Việt, lẫn
lộn đặc trng của thanh Sắc /35// với thanh Ngã /4305/ tiếng Việt.
11
2.3.4. Giao thoa thay thế âm tố (Phone substitution): xảy ra khi HS Hmông phát âm
thanh Hỏi /3102/ tiếng Việt lẫn sang biến thể của thanh Vuv /31// tiếng Hmông hoặc phát âm
thanh Nặng /32// thành thanh Hỏi /3102/ tiếng Việt; thể hiện thanh Hỏi thành thanh Huyền tiếng
Việt. Có thể có trờng hợp thanh Ngang tiếng Việt /33/ đợc HS Hmông thể hiện hoặc nh thanh
cao ngang - Không dấu /44/, hoặc nh một thanh trung ngang - Kuôk /22/ trong tiếng Hmông.
2.4. Lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của học sinh Hmông
2.4.1. Lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của HS Hmông TLC
2.4.1.1. Lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của HS Hmông lớp 1 - TLC
Khả năng phát âm thanh điệu tiếng Việt của HS Hmông lớp 1 - TLC cha thật tốt: các lỗi phát
âm thờng là thể hiện thanh Ngã thành thanh Sắc, thanh Hỏi thành thanh Nặng và thanh Nặng thành
thanh Huyền. Các thanh còn lại nh thanh Ngang, thanh Huyền và thanh Sắc ít bị mắc lỗi hơn.
2.4.1.2. Lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của HS lớp 5 - TLC
ở TLC, HS Hmông lớp 5 phát âm thanh điệu tiếng Việt không tốt hơn so với HS Hmông
lớp 1: Khó khăn lớn nhất đối với nhóm này là phát âm thanh Ngã và thanh Hỏi. HS nhóm này ít
Nặng và phát âm thanh Nặng thành thanh Hỏi có nguyên nhân từ kiểu giao thoa thay thế âm tố.
Ngoài ra, có một số HS Hmông đã tri nhận và phát âm thanh Nặng nh thanh Huyền. Lỗi này
có nguyên nhân từ kiểu giao thoa tái thuyết sự khu biệt.
2.6. Một số giải pháp khắc phục các lỗi phát âm thanh điệu
tiếng Việt của Học sinh Hmông
2.6.1. Giải pháp về công tác chuẩn hóa giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng Hmông
Cần quan tâm hơn nữa đến công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng
Hmông. Đội ngũ này không chỉ phát âm tốt tiếng Việt, mà còn phải có những hiểu biết cần
yếu về những đặc điểm ngữ âm - âm vị học của từng thanh tiếng Việt, trong sự so sánh với
các thanh tiếng Hmông, quan tâm nhiều hơn tới những lỗi phát âm thờng gặp ở HS Hmông
(nh lỗi phát âm thanh Ngã, thanh Hỏi và thanh Nặng) và phân tích chúng bằng giao thoa.
2.6.2. Giải pháp khắc phục lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt cho HS Hmông học
tiếng Việt
Giáo viên dạy tiếng Việt cần giúp HS Hmông biết phân biệt thanh Ngã với các thanh khác
trong cùng hệ thống và so sánh với các thanh tiếng Hmông; nên tăng cờng cho HS Hmông luyện
tập phát âm đúng thanh Ngã: lu ý hớng dẫn các em thể hiện TQH mạnh ở giữa âm tiết.
2.6.3. Giải pháp về công tác biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng Việt cho ngời Hmông
Cần chú ý nhiều hơn nữa đến việc tăng thời lợng cho các bài luyện tập, dạy phát âm
các thanh tiếng Việt khó phát âm đối với HS Hmông.
13
2.7. Tiểu kết chơng 2
Thanh điệu là tổng hòa các đặc trng về cao độ và chất giọng, cũng có chức năng khu
biệt từ giống nh các âm vị đoạn tính (phụ âm, nguyên âm).
Những điểm tơng đồng và khác biệt giữa HTTĐ tiếng Việt và tiếng Hmông dẫn tới
các kiểu giao thoa, gây các lỗi phát âm thanh điệu của HS Hmông: giao thoa dới mức khu
biệt, giao thoa tái thuyết sự khu biệt và giao thoa thay thế âm tố. Những thanh điệu tiếng Việt
khó thụ đắc và hay mắc lỗi đối với HS Hmông là thanh Ngã, thanh Hỏi, thanh Nặng.
Để khắc phục những lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của HS Hmông, chúng ta cần quan tâm
hơn nữa tới công tác chuẩn hoá đội ngũ giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng dân tộc Hmông, tăng
đợc khu biệt bởi tiêu chí tơng liên môi/lỡi/thanh hầu.
3.2.3. Sự tơng đồng và khác biệt về mặt ngữ âm - âm vị học giữa HTÂĐ tiếng
Việt và HTÂĐ tiếng Hmông
3.2.3.1. Sự tơng đồng giữa HTÂĐ tiếng Việt và HTÂĐ tiếng Hmông: Hầu hết các
âm vị phụ âm đầu tiếng Việt đều có các âm vị tơng ứng trong tiếng Hmông.
3.2.3.2. Sự khác biệt giữa HTÂĐ tiếng Việt và HTÂĐ tiếng Hmông: Sự khác biệt về
số lợng: HTÂĐ tiếng Việt có 22 âm vị phụ âm, còn HTÂĐ tiếng Hmông có 56 âm vị phụ âm.
Sự khác biệt về ph
ơng thức cấu âm: HTÂĐ tiếng Việt hoàn toàn không có các âm vị đợc
phân biệt theo các tiêu chí tắc - xát và tắc - bên nh trong tiếng Hmông. Tiếng Việt có các phụ
âm tắc, hữu thanh, đầu lỡi bẹt /d-/, môi /b-/ là các phụ âm hút vào; các phụ âm xát, ồn, gốc lỡi
/X-, -/; phụ âm tắc, vô thanh, không bật hơi, mặt lỡi /c-/. Tiếng Hmông trái lại, không có các
phụ âm tơng ứng nh vậy. Sự khác biệt về vị trí cấu âm: ở HTÂĐ tiếng Việt không có các
phụ âm lỡi con và các phụ âm "tiền - mũi" nh ở tiếng Hmông. Nh vậy, về vị trí cấu âm,
HTÂĐ tiếng Hmông có nhiều loạt định vị hơn so với HTÂĐ tiếng Việt.
3.3. Các kiểu giao thoa và những khó khăn trong việc thụ
đắc và phát âm phụ âm đầu tiếng việt đối với Học sinh Hmông
3.3.1. Giao thoa dới mức khu biệt xảy ra ở trờng hợp HS Hmông gặp khó khăn
trong việc thể hiện đúng đặc trng của các phụ âm /b-, X-, -/ tiếng Việt, vì đây là các phụ
âm mà trong tiếng Hmông không có các phụ âm tơng ứng.
3.3.2. Giao thoa trên mức khu biệt xảy ra trong trờng hợp HS Hmông có xu hớng
lấy sự khu biệt về phơng thức cấu âm theo 4 kiểu: tắc, tắc - xát, tắc - bên, xát, để tri nhận và
thể hiện các phụ âm đầu tiếng Việt.
15
3.3.3. Giao thoa tái thuyết sự khu biệt xảy ra khi HS Hmông phân biệt các phụ âm tắc và
xát khu biệt bởi các tiêu chí đối lập vô thanh/hữu thanh trong tiếng Việt theo tiêu chí tiền
mũi/không tiền mũi khu biệt các phụ âm tắc, tắc - xát, tắc - bên, đặc trng cho tiếng Hmông.
3.3.4. Giao thoa thay thế âm tố xảy ra trong trờng hợp HS Hmông cảm nhận và phát âm
phụ âm tắc, hữu thanh, hút vào /d-/ tiếng Việt nh phụ âm tắc, hữu thanh, bật hơi /dH-/ tiếng Hmông.
tiếng Việt thành phụ âm tắc - xát /t-/ tiếng Hmông có nguyên nhân từ kiểu giao thoa trên
mức khu biệt. Lỗi do HS Hmông thể hiện yếu tố hút vào của phụ âm /d-/ tiếng Việt thành
yếu tố bật hơi có trong phụ âm /d
h
/ tiếng Hmông là do hiện tợng giao thoa thay thế âm tố.
3.6. Một số giải pháp khắc phục các lỗi phát âm phụ âm đầu
tiếng Việt của học sinh Hmông
3.6.1. Giải pháp về công tác chuẩn hóa giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng Hmông:
Giáo viên dạy tiếng Việt phải phát âm tốt và có hiểu biết tối thiểu nhất về những đặc điểm
ngữ âm - âm vị học của từng phụ âm đầu tiếng Việt, trong sự so sánh với các phụ âm đầu
tiếng Hmông. Cần chú ý đến những lỗi phát âm thờng gặp và giải thích nguyên nhân làm
nảy sinh lỗi, bằng việc phân tích các kiểu giao thoa.
3.6.2. Giải pháp khắc phục lỗi phát âm phụ âm đầu tiếng Việt cho HS Hmông
học tiếng Việt: Giáo viên cần lu ý các em: phát âm phụ âm /b-/ tiếng Việt bằng phơng
thức cấu âm tắc, hữu thanh; phát âm phụ âm /d-/ tiếng Việt bằng phơng thức cấu âm hữu
thanh, hút vào; phát âm phụ âm /c-/ tiếng Việt bằng phơng thức cấu âm tắc và vị trí cấu âm
mặt lỡi; phát âm phụ âm /X-/ tiếng Việt bằng phơng thức cấu âm xát, không bật hơi; phát
âm phụ âm /-/ tiếng Việt bằng phơng thức cấu âm xát và vị trí cấu âm gốc lỡi.
3.6.3. Giải pháp về công tác biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng Việt cho ngời
Hmông: Cần chú ý hơn nữa đến vấn đề phân phối chơng trình, để có thể tăng thời lợng
luyện tập, dạy phát âm các phụ âm đầu tiếng Việt khó phát âm đối với HS Hmông.
3.7. Tiểu kết chơng 3
HTÂĐ tiếng Việt và tiếng Hmông có nhiều điểm dị - đồng về phơng thức cấu âm và
vị trí cấu âm, tạo nên những kiểu giao thoa khác nhau trong quá trình thụ đắc và phát âm phụ
âm đầu tiếng Việt của HS Hmông: Giao thoa dới mức khu biệt, giao thoa trên mức khu biệt,
giao thoa tái thuyết sự khu biệt, giao thoa thay thế âm tố.
Những kiểu giao thoa trên là nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn và những lỗi
phát âm phụ âm đầu /b-, d-, c-, X-, -/ tiếng Việt ở những HS Hmông học tiếng Việt.
Để khắc phục lỗi phát âm phụ âm đầu tiếng Việt của HS Hmông, chúng ta cần quan
tâm hơn nữa đến việc chuẩn hoá đội ngũ giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng dân tộc Hmông;
o, o, ỗ/
4.2.2.2. Hệ thống vần nửa mở (vần phức nửa mở) tiếng Việt: Hệ thống vần nửa mở
(HTVNM) tiếng Việt gồm 20 vần: /iu9, i
è
eu9, eu9, Eu9, àu9, à
è
Fu9, F(u9, Fu9, a(u9, au9, àiê, à
è
Fiê, F(iê, Fiê,
a(iê, aiê, uiê, u
è
oiê, oiê, ỗiê /.
4.2.2.3. Hệ thống vần nửa khép (vần phức nửa khép) tiếng Việt: Hệ thống vần nửa
khép (HTVNK) tiếng Việt gồm 46 vần sau đây: /im, i
è
em, em, Em, in, i
è
en, en, En, i, i
è
eN, e,
eN, E(, EN, àm, à
è
Fm, F(m, Fm, a(m, am, àn, à
è
Fn, F(n, Fn, a(n, an, àN, à
è
FN, F(N, FN, ăN,
aN, um, u
è
om, om, ỗm, un, u
op, op, ỗp, ut, u
è
ot, ot, ỗt, uk
o
, u
è
ok, ok
o
, o
o
k, ỗ(k
o
, ỗ
o
k/.
18
4.3. Hệ thống vần cái tiếng Hmông
4.3.1. Số lợng vần trong hệ thống vần cái tiếng Hmông
Trong tiếng Hmông có 16 vần cái: /i, a, e, ă, U, , u
è
, i
è
, iê, aj
ê
, awê, aăê, owê, aN, eN, UN/
4.3.2. Các đặc trng ngữ âm của HTVC tiếng Hmông
Các vần cái tiếng Hmông khu biệt nhau bởi các đặc trng ngữ âm cả về đầu vần lẫn
4.4.2.1. Sự khác biệt về số lợng vần giữa HTVC tiếng Việt và HTVC tiếng Hmông
Trong 124 vần cái tiếng Việt, có tới 102 vần mà trong tiếng Hmông không có. Trong
HTVC tiếng Hmông có 4 vần mà ở HTVC tiếng Việt không có, đó là /ă, aăê, U, UN/.
19
4.4.2.2. Sự khác biệt về kiểu loại và đặc điểm cấu tạo vần cái tiếng Việt và vần cái tiếng
Hmông: Về kiểu loại, tiếng Việt có 4 kiểu loại vần: vần mở; vần nửa mở; vần nửa khép và vần khép.
Còn trong tiếng Hmông không có vần khép nh trong tiếng Việt. Trong tiếng Việt, tiêu chí trờng
độ tham gia vào đối lập các nguyên âm đầu vần; còn ở tiếng Hmông, các tiêu chí này bị triệt tiêu.
4.4.2.3. Sự khác biệt về đặc điểm ngữ âm - âm vị học giữa HTVC tiếng Việt và
HTVC tiếng Hmông: Các nguyên âm là các vần mở/âm đầu vần phức tiếng Việt và tiếng
Hmông đều khu biệt bởi độ nâng, dòng lỡi và hình môi, nhng mức độ tham gia khu biệt
của các tiêu chí này ở mỗi ngôn ngữ có sự khác nhau.
4.5. Các kiểu giao thoa và những khó khăn trong việc thụ
đắc và phát âm vần tiếng Việt đối với Học sinh Hmông
4.5.1. Giao thoa dới mức khu biệt
4.5.1.1. Giao thoa dới mức khu biệt đối với các vần đơn của HS Hmông học tiếng
Việt: xảy ra trong trờng hợp HS Hmông không phân biệt các vần mở /E, à, F, à
è
F, o, e/ tiếng Việt.
4.5.1.2. Giao thoa dới mức khu biệt đối với các vần phức của HS Hmông học tiếng Việt:
xảy ra trong trờng hợp các em không phân biệt trờng độ dài/ngắn của âm đầu vần tiếng Việt;
không phát âm đúng các vần phức có các nguyên âm đầu vần /E-, à-, F-, u-, o-, ỗ-, i
è
e-, à
è
F-, u
è
o-/
và các vần phức kết thúc bằng các phụ âm /-m, -n, -p, -t, -k/.
phát âm lẫn lộn vần nửa khép, phát âm vần khép thành vần nửa khép/nửa mở/mở/thành vần
kết thúc bằng hiện tợng tắc thanh môn.
4.6.2. Lỗi phát âm vần tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - TTGDTX Sa Pa
Khả năng phát âm vần tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - TTGDTX Sa Pa có khá hơn so
với nhóm HS TLC. Xu hớng chung vẫn là phát âm nguyên âm trờng độ ngắn ở đầu vần
tiếng Việt thành nguyên âm trờng độ dài; phát âm các nguyên âm cao/thấp thành nguyên
âm trung bình; lẫn lộn các nguyên âm trung bình, thể hiện đặc trng của các nguyên âm
chuyển sắc từ cao đến trung bình thành nguyên âm cao. Nhóm HS lớp 9 - TTGDTX Sa Pa đã
có khả năng phát âm nhng còn lẫn lộn cách thể hiện đặc trng của các vần nửa mở/nửa
khép/khép và phát âm vần nửa khép thành vần nửa mở.
4.6.3. Lỗi phát âm vần tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - Trờng PTDTNT Sa Pa
Khả năng phát âm vần tiếng Việt của HS Hmông lớp 9 - Trờng PTDTNT Sa Pa khá
hơn rất nhiều so với HS thuộc các nhóm khác: phát âm khá tốt trờng độ ngắn của các
nguyên âm /à-, u-/ ở đầu vần khép - môi, của nguyên âm /o-/ ở đầu vần khép - gốc lỡi và
của nguyên âm thấp /a(/ ở đầu vần phức tiếng Việt.
ở kiểu lỗi II và III, nhóm HS này đã phát âm tốt đặc trng của nguyên âm thấp /E/ ở đầu vần
nửa khép - môi và nguyên âm chuyển sắc /i
è
e-, à
è
F-/ ở đầu vần nửa mở/khép - gốc lỡi tiếng Việt.
21
Khác với nhóm HS TLC và tơng tự nhóm HS lớp 9 - TTGDTX Sa Pa, HS nhóm này
cũng thể hiện lẫn lộn đặc trng của vần nửa mở/nửa khép/khép tiếng Việt. Ưu điểm dễ nhận
thấy của cả nhóm HS này là các em đã phát âm chính xác vần nửa khép - môi/vần khép - môi
tiếng Việt có nguyên âm đôi /u
è
o-/. ở các lỗi còn tồn tại, xu hớng chung trong cách phát âm
của HS lớp 9 - Trờng PTDTNT Sa Pa là thể hiện vần nửa mở thành vần mở; vần khép thành
nguyên âm /à/ là vần đơn/âm đầu vần phức tiếng Việt. Lỗi phát âm nh vậy là do ảnh hởng
của giao thoa thay thế âm tố.
4.8. Một số giải pháp khắc phục các lỗi phát âm vần tiếng Việt
cho học sinh Hmông
4.8.1. Giải pháp về công tác chuẩn hóa giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng Hmông
Giáo viên dạy tiếng phải phát âm tốt và có hiểu biết tối thiểu nhất về những đặc điểm
ngữ âm - âm vị học của HTVC tiếng Việt, trong sự so sánh với HTVC tiếng Hmông, hiểu
đợc nguyên nhân nảy sinh lỗi bằng việc phân tích các kiểu giao thoa.
22
4.8.2. Giải pháp khắc phục lỗi phát âm vần tiếng Việt cho HS Hmông học tiếng Việt
Giải thích cho HS Hmông hiểu đợc những đặc trng của các vần tiếng Việt khó phát
âm, hớng dẫn các em phân biệt các vần trong HTVC tiếng Việt và so sánh với các vần tiếng
Hmông, nhất là các vần mở, các vần khép và các vần nửa khép - môi/nửa khép - đầu lỡi,
các vần có âm đầu vần là nguyên âm chuyển sắc tiếng Việt.
4.8.3. Giải pháp về công tác biên soạn sách giáo khoa dạy tiếng Việt cho ngời Hmông
Cần chú ý hơn nữa đến vấn đề phân phối chơng trình, nhằm tăng thêm thời lợng cho
các bài dạy luyện đọc các vần tiếng Việt khó phát âm đối với HS Hmông.
4.9. Tiểu kết chơng 4
HTVC tiếng Việt và tiếng Hmông có điểm tơng đồng và khác biệt. Đó là nguyên
nhân dẫn đến các kiểu giao thoa làm nảy sinh lỗi phát âm vần tiếng Việt của HS Hmông.
Trong các nhóm HS Hmông (thuộc PVTLKS), kiểu giao thoa thờng gặp hơn cả khi
tiếp nhận HTVC tiếng Việt là giao thoa dới mức khu biệt. Kiểu giao thoa trên mức khu biệt,
giao thoa tái thuyết sự khu biệt và giao thoa thay thế âm tố là các kiểu giao thoa ít gặp hơn.
Để khắc phục lỗi phát âm vần tiếng Việt cho HS Hmông, cần quan tâm hơn nữa tới công tác
chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy tiếng Việt cho vùng Hmông. Ngời dạy nên tăng cờng hớng
dẫn HS Hmông luyện tập phát âm đúng các vần tiếng Việt khó phát âm, phân biệt các vần này với
vần khác trong HTVC tiếng Việt và so sánh với các vần tiếng Hmông. Phân phối chơng trình
giảng dạy tiếng Việt cho HS Hmông sao cho các em đợc luyện tập phát âm những vần tiếng Việt
khó với thờng lợng phù hợp, nhằm giúp HS Hmông phát âm vần tiếng Việt tốt hơn.
o/ làm âm chính trong âm tiết tiếng Việt.
3. Tiếng Việt và tiếng Hmông đều là các ngôn ngữ đa thanh (có HTTĐ phát triển). Tiếng Việt
tối đa chỉ có 6 thanh (Bắc Bộ), còn tiếng Hmông có tới 8 thanh (tiếng Hmông Lềnh, Hmông Si,
Hmông Sua): 1/ Các thanh tiếng Việt và tiếng Hmông đều đợc khu biệt về mặt cao độ (âm vực,
đờng nét) và chất giọng. Tuy nhiên, hệ các tiêu chí khu biệt của hai hệ thanh không tơng ứng
nhau hoàn toàn. 2/ Về cao độ, các thanh tiếng Hmông đợc khu biệt theo ba bậc về âm vực: cao vs.
trung bình vs. thấp, trong khi các thanh tiếng Việt chỉ khu biệt về âm vực theo hai bậc: cao vs. thấp.
3/ Về đờng nét, trong HTTĐ của cả hai ngôn ngữ đều có các thanh ngang, xuống, lên, xuống - lên
(uốn). Tuy nhiên, sự hiện thực hoá ngữ âm cũng nh giá trị âm vị học mỗi thanh trong từng hệ
thống của các thanh có cùng đờng nét trong tiếng Việt và tiếng Hmông không hoàn toàn giống
nhau. 4/ Về chất giọng, trong HTTĐ tiếng Việt có đối lập về chất giọng: chất giọng thờng vs.
chất giọng thanh quản hoá vs. chất giọng tắc thanh môn. Hệ thống thanh tiếng Hmông có đối lập
theo tiêu chí: chất giọng thờng vs. chất giọng thở vs. chất giọng thanh quản hoá. Thanh Ngã tiếng
Việt với đờng nét gãy, chất giọng thanh quản hoá, là hiện tợng khác lạ so với HTTĐ tiếng Hmông.
5/ Các kiểu giao thoa chủ yếu trong quá trình HS ngời Hmông thụ đắc hệ thanh điệu Việt là các
kiểu: giao thoa dới mức khu biệt, giao thoa tái thuyết sự khu biệt. Những lỗi phát âm thanh điệu
Việt HS Hmông thờng mắc là: phát âm Ngã thành Sắc, Hỏi thành Huyền, đôi khi thành Nặng.
4. Tiếng Việt hiện đại có 22 phụ âm đầu, còn ở tiếng Hmông có tới 56 âm vị. Sự tồn tại loạt
định vị phụ âm lỡi con; sự đối lập đều đặn phụ âm tắc vs. tắc - xát vs. tắc - bên vs. xát; sự tham
gia của tiêu chí tiền mũi vào đối lập các phụ âm tắc, tắc - xát, tắc - bên; tiêu chí bật hơi
vào đối
24
lập phụ âm tắc, tắc - xát, tắc - bên trong tiếng Hmông không chỉ làm tăng số lợng đáng kể các
âm vị phụ âm mà còn tạo cho ngôn ngữ này những đặc điểm ngữ âm xa lạ với những ngời nói
các ngôn ngữ nh tiếng Việt, Tày, Thái, Dao. Những khác biệt này chính là nguyên nhân gây
nên các kiểu giao thoa, mà kiểu phổ biến hơn cả là giao thoa trên mức khu biệt và giao thoa
dới mức khu biệt, trong quá trình HS Hmông thụ đắc, phát âm hệ thống âm đầu tiếng Việt.
Những lỗi phát âm phụ âm đầu tiếng Việt các em HS Hmông thờng mắc là: phát âm phụ
âm tắc hữu thanh /b-/ tiếng Việt thành phụ âm tiền mũi /mp-/ tiếng Hmông; phụ âm xát /
những công trình đ công bố của tác giả
có liên quan đến luận án
1. Phùng Thị Thanh (2005), "Hệ thống thanh điệu tiếng Hmông Lềnh vùng
Sa Pa - Lào Cai", Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Ngôn ngữ học liên á lần
VI, Nxb Khoa học xã hội, tr. 249 - 258.
2. Phùng Thị Thanh (2005), "Phân tích đối chiếu hệ thống thanh điệu tiếng
Việt và tiếng Hmông Lềnh", Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Sở Giáo
dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế, Ngữ học trẻ 2005 - Diễn đàn học
tập và nghiên cứu, Hà Nội, tr. 192 - 199.
3. Phùng Thị Thanh (2006), "Phân tích đối chiếu âm tiết tiếng Việt và
tiếng Hmông", Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Viện Đại học Mở Hà
Nội, Ngữ học trẻ 2006 - Diễn đàn học tập và nghiên cứu, Nxb Đại
học S phạm, Hà Nội, tr. 250 - 256.