NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG PHÁT ÂM TIẾNG ANH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ - Pdf 28

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN
LUYỆN KỸ NĂNG PHÁT ÂM TIẾNG ANH CHO SINH
VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG DƯỢC PHÚ THỌ
-------------------------------------------------------------------
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh chung của thế giới, quan điểm của Đảng về giáo dục và đào
tạo (GD-ĐT): "Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu... đầu tư cho giáo dục
và đào tạo là đầu tư cho sự phát triển" (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp
hành Trung ương khóa VIII). Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX với những mục
tiêu chiến lược là: "Tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục;
thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; tiếp tục nâng cao chất lượng toàn
diện". Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết 40 của Quốc hội, ngành
giáo dục đã có nhiều cố gắng, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và
đào tạo bằng cuộc cải cách giáo dục từ năm 2000 về đổi mới chương trình cho tất
cả các môn học, trong đó có môn ngoại ngữ mà tiếng Anh là chủ yếu.
Để hội nhập với thế giới, việc trao đổi thông tin, tiếp cận với nền văn hóa của
các nước trên thế giới là một vấn đề rất quan trọng. Chính vì vậy, việc dạy và học
ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là rất cần thiết. Cùng với tin học, ngoại
ngữ được xếp vào một trong những lĩnh vực được ưu tiên phát triển, một mũi nhọn
đột phá trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và GD-ĐT
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu. Trong
các ngoại ngữ, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất. Hầu hết các giao dịch trên thế
giới đều sử dụng tiếng Anh. Vì vậy, trong xu thế hội nhập, rất nhiều quốc gia đã
đưa tiếng Anh vào trong chương trình giáo dục đào tạo. Kinh nghiệm của các nước
phát triển trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã chỉ
1
rõ: Ngoại ngữ là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội
nhập và phát triển.
Xu thế hội nhập toàn cầu và việc ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) đang lan tỏa và đi vào từng ngành, nghề của Việt Nam, tác động đến mọi

năng khác. Phát âm đúng, do đó, không chỉ tốt cho kỹ năng nói, mà còn giúp nghe
hiểu được tốt hơn. Tuy nhiên, phát âm cũng là một kỹ năng khó; nếu không có sự
hướng dẫn và luyện tập thường xuyên, tích cực thì việc tiến bộ sẽ hầu như là không
thể.
Bên cạnh đó, có rất nhiều các yếu tố khác nhau liên quan đến phương pháp
giảng dạy, phương pháp học tập, sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ hay điều kiện giao
lưu với người nói tiếng Anh bản địa không nhiều cũng ảnh hưởng đến quá trình
tiến bộ của người học.
Sau hai kỳ dạy tiếng Anh E1 cho sinh viên hệ Cao đẳng, chúng tôi nhận thấy
rằng sinh viên của trường gặp rất nhiều khó khăn với việc phát âm. Chúng tôi cũng
đã có nhiều cố gắng trong việc giúp đỡ các em cải thiện phát âm tiếng Anh của
mình. Nhưng theo đánh giá của bản thân giáo viên chúng tôi, thì hiệu quả vẫn chưa
cao. Khi sang chương trình tiếng Anh E2 thì chúng tôi nhận thấy rằng phát âm của
sinh viên tiến bộ không đáng kể. Các em vẫn thường xuyên mắc các lỗi phát âm
ngay cả của những từ đã sử dụng nhiều lần. Điều này giáo viên chúng tôi thấy cần
thiết phải có nghiên cứu sâu hơn về các lỗi phát âm thường gặp ở sinh viên của
trường, nhằm tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp giúp việc dạy và học phát
âm được hiệu quả hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
3
Đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng phát âm tiếng Anh cho sinh viên trường
Cao đẳng Dược Phú Thọ nhằm nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học phát âm
tiếng Anh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học bộ môn tiếng Anh của trường Cao đẳng Dược Phú Thọ
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Rèn luyện kỹ năng phát âm tiếng Anh cho sinh viên trường Cao đẳng Dược
Phú Thọ
4. Giả thuyết khoa học:

Tiến hành nghiên cứu tại các lớp CD2A15-16 trong học kỳ II năm thứ nhất
của hệ Cao đẳng trường Cao đẳng Dược Phú Thọ.
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Xuất phát từ quan niệm cho rằng, người học chỉ có thể tham gia vào hoạt
động học khi họ có những kỹ năng học tập cần thiết, nhiều nhà khoa học đã quan
tâm nghiên cứu các KNHT và dạy các KNHT đó cho sinh viên như Paul Trewer,
Craig Rusbult, Chris Jarvie,..........
Paul Trewer khi nghiên cứu về các KNHT có liên quan đến việc học ở đại
học, đã giới thiệu và phân tích các kỹ năng có liên quan đến việc học ở đại học như:
Quản lý thời gian, xác định mục tiêu, tập trung tư tưởng, nghe, ghi chép, đọc sách,
siêu nhận thức, nhớ, kiểm tra, giúp đỡ, kỹ năng học hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn
đề, kỹ năng tra cứu, kỹ năng quyết định, lầp sơ đồ khái niệm, tư duy phê phán [ 49]
Tác giả Craig Rusbult đã đưa ra danh mục các KNHT mà sinh viên cần luyện
tập và cách thực hiện từng kỹ năng cụ thể, đó là nhớ, tập trung tư tưởng, đọc và
nghe tích cực, chuẩn bị thi, sử dụng thời gian một cách có hiệu quả [131].
Theo Chris Jarvie để việc học thực sự là của người học thì phải thực hiện các
nguyên tắc sau: chịu trách nhiệm về việc học; nghĩ, làm, xem xét lại, phát hiện lại,
trải nghiệm; thu liên hệ ngược từ bạn; xây dựng tiêu chuẩn và mục tiêu cho sự phân
tích có cơ sở; luyện tập kỹ năng cần thiết; đảm bảo cho sự đánh giá có tác dụng hỗ
trợ cho việc học; nắm được các tiêu chí người khác dùng để đánh giá thành tích
học tập; gắn hoạt động học tập với kết quả mình mong muốn; nhận biết sự cố gắng,
tự tin, nhu cầu thời gian. Đồng thời tác giả cũng đưa ra các KNHT cần việc học có
hiệu quả như ghi chép, nghiên cứu, học nhóm, sử dụng tư liệu học qua bài giảng,
viết báo cáo, xemina đọc nhanh, nghiên cứu trường hợp, trình bày, phỏng vấn
[130].
6
Tác giả Denise Chalmer và Richard Fuller [129] đã đưa ra một hệ thống các

có kĩ năng [19, tr 78].
Khuynh hướng thứ hai: xem xét kĩ năng về mặt năng lực của con người.
Đại diện cho nhóm này là N.D. Levitop, K.K Platonop, G.G Coluvep, A.V
Petropxki.
Theo K.K Platonop và G.G Coluvep, kĩ năng là năng lực của con người thực
hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện và
trong khoảng thời gian tương ứng. Bất kỳ một kĩ năng nào cũng bao hàm trong nó
cả biểu tượng về khái niệm, vốn tri thức, kĩ xảo... cơ sở tâm lý của kĩ năng là sự
hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hoạt động, các điều kiện và phương
thức thực hiện [81, tr 77].
Như vậy, kĩ năng được xem xét theo khuynh hướng thứ hai vừa có tính ổn
định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích và được biểu
hiện ở ba dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất: kĩ năng là mặt kĩ thuật của thao tác hành động.
Thứ hai: kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động hay một nhóm
hành động dựa trên cơ sở của tri thức, của các điều kiện và phương tiện phù hợp
với mục đích đã xác định.
Thứ ba: sự hình thành và mức độ phát triển của các kĩ năng được xác định
trên cơ sở của tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp
nhàng của các động tác trong hành động.
Trong giáo dục học, kĩ năng được một số tác giả quan niệm như là khả năng
của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện
8
trong đó hành động xẩy ra [88], [98]. Một số tác giả khác lại quan niệm kĩ năng là
sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức hợp của hành
động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức, cách thức và qui trình đúng đắn [2],
[10].
Như vậy, kĩ năng được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng trong
quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi thấy kĩ năng không có sự mâu thuẫn nhau, mà
chỉ khác nhau ở thành phần của các kĩ năng mà thôi.

Edition).
Phát âm bao gồm các yếu tố sau:
- Khả năng sử dụng các bộ phận cấu âm như răng, lưỡi, môi, v.v. để phát âm.
- Trọng âm (trong cả từ và câu)
- Ngữ điệu
- Giọng điệu
Âm nối
1.2.3.2. Bảng ngữ âm
Bảng ngữ âm là hệ thống các ký hiệu tương ứng với các âm, mỗi ký hiệu chỉ
có thể tượng trưng cho 1 âm duy nhất.
Theo bảng ngữ âm quốc tế, có 44 âm trong tiếng Anh:
10
(Theo )
1.2.3.3. Âm vị trong tiếng Anh
Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng để
cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ. (Theo
)
Có 44 âm vị trong tiếng Anh, tương ứng với 44 ký hiệu âm trong bảng ngữ âm ở
phần trên.
Âm vị có thể được phân loại dựa trên phương cách phát âm như sau:
Hệ thống phụ âm:
11
(Từ
Hệ thống nguyên âm:

Nguyên âm đơn Nguyên âm
đôi
Trước Giữa Sau /a ɪ /
Vị trí phát âm
Môi-

Tắc
xát
Vô thanh
Hữu
thanh
. . . . /t∫/
/ ʒ/
. .
Xát Vô thanh
Hữu
thanh
. /f/
/v/
/θ/
/ð/
/s/
/z/
/∫/
/ dʒ/
/h/
Mũi /m/ . . /n/ . /ŋ/ .
Rung . . . /l/ /r/ . .
Bán nguyên âm /w/ . . . /j/ . .
12
Cao /i/
/ɪ /
/u/ /ʊ/ /a ʊ /
/ɔɪ/
Giữa /e/ /ε/ /Λ/ /o/ /ɔ/
Thấp /æ/ /ə/ /a/

- Động từ theo quy tắc của thì quá khứ đơn (past simple) và quá khứ phân từ
(past participle). Ex: Want – wanted, hope - hoped, etc.
- Tính từ có tận cùng là -ed. Ex: hot-blooded, naked, etc.
Âm cuối của từ nguyên thể Ví dụ pronounce
the -ed:
Vô thanh /t/ Want - wanted
Hữu thanh /d/ End - ended
Vô thanh /p/ Hope - hoped / t/
/f/ Laugh - laughed
/s/ Fax - faxed
/S/ Wash - washed
/tS/ Watch - watched
/k/ Like - liked
Hữu thanh All other
sounds,
Play - played / d/
1.2.4.1.4. Trọng âm của từ (Stress syllable)
Trọng âm của 1 từ là 1 vần (syllable) hay 1 âm tiết của từ đó được đọc mạnh
hơn, dài hơn, và cao hơn những những vần còn lại.
Một số quy tắc xác định trọng âm của từ
- Từ có 2 âm tiết
Nhóm từ Kiểu trọng âm Ví dụ
Danh từ Answer
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status