Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
LỜI NÓI ĐẦU
Nói đến sản xuất kinh doanh, dù trong hình thái kinh tế xã hội nào, vấn
đề được quan tâm trước tiên là hiệu quả. Có thể nói, hiệu quả kinh tế là thước
đo trình độ phát triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng và của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung.
Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều phải lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện tập trung ở lợi
nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển song song của các
thành phần kinh tế tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ. Vì thế, các đơn vị sản xuất
kinh doanh phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phải kinh
doanh như thế nào cho hiệu quả thu được lợi nhuận cao, có như vậy các đơn
vị này mới có thể tồn tại phát triển được. Ngược lại, nếu đơn vị hoạt động
kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ thì đơn vị khó có thể đứng vững trên thương
trường. Lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế có hiệu lực
nhất, kích thích mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sản
xuất kinh doanh.
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng, sản xuất kinh doanh như thế nào
cho hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao là mục
tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc đi sâu nghiên cứu, tìm
hiểu nguồn gốc của lợi nhuận, các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và các
biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận doanh nghiệp là rất quan trọng và hữu ích.
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
1
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Xuất phát từ những lý do đó, trong quá trình học tập tại Học viện Tài
Chính, kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty in Báo Hà Nội Mới, tôi xin
1.1. LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Vậy là, cái mà chúng ta một thời không mấy coi trọng – lợi nhuận- đã
được chính pháp luật ngày nay thừa nhận, là mục tiêu chủ yếu và là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp.
1.1.2. Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.2.1. Khái niệm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Dưới góc độ doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó trong
một thời kỳ nhất định.
Lợi nhuận nói chung được xác định bởi công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
3
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Từ góc độ doanh nghiệp, doanh thu của doanh nghiệp là biểu hiện bằng
tiền của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm doanh thu về tiêu thụ sản phẩm,
doanh thu từ các hoạt động tài chính và doanh thu từ các hoạt động bất
thường.
- Trị giá vốn
hàng bán
- Chi phí
bán hàng
- Chi phí
QLDN
- Doanh thu thuần: là toàn bộ số tiền bán sản phẩm hàng hoá, cung ứng
dịch vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm
giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế gián thu.
- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ
dịch vụ xuất bán trong kỳ.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ như: chi phí bao gói sản phẩm, chi
phí bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển, tiếp thị, quảng cáo.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động
của toàn doanh nghiệp.
Trong các loại lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là
phần cơ bản nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, thường chiếm tỷ
trọng lớn. Do đó, để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp các nhà kinh tế chú ý đầu tiên đến lợi nhuận hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Trong tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp ngoài lợi nhuận từ
hoạt động sản xuất kinh doanh còn có lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi
nhuận hoạt động khác.
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
5
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
K40 – 11.03
6
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
- Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để giúp doanh nghiệp tái đầu tư,
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Vì vậy mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
1.2. TỶ SUẤT LỢI NHUẬN
Mặc dù, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh
nghiệp và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp. Nhưng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất đánh giá chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng không thể chỉ dùng nó để so
sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác
nhau, bởi vì:
- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều
nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố thuộc về
khách quan và có sự bù trừ lẫn nhau.
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường
tiêu thụ, thời điểm tiêu thụ khác nhau…thường làm cho lợi nhuận của các
doanh nghiệp cũng khác nhau cho dù các doanh nghiệp đó cùng quy mô sản
xuất.
- Các doanh nghiệp cùng loại, nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi
nhuận thu được cũng sẽ khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác
quản lý kém, nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý tốt hơn.
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
7
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hay thấp.
1.2.2. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
8
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với số vốn mà các chủ sở hữu
tự bỏ ra trong quá trình kinh doanh.
Công thức xác định:
T
vcsh
=
V
P
csh
st
x 100
Trong đó: T
vcsh
: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
P
st
: Lợi nhuận sau thuế.
V
csh
: Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ.
1.2.3. Tỷ suất lợi nhuận giá thành
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế của sản phẩm
tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ.
Công thức xác định:
T
st
=
T
P
x 100
Trong đó: T
st
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng.
P: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ (trước hoặc sau thuế).
T: Doanh thu bán hàng trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng doanh thu mà doanh nghiệp thu được
trong kỳ sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế.
1.3. VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHẤN ĐẤU TĂNG LỢI
NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
Một doanh nghiệp khi bắt tay vào sản xuất kinh doanh ở mỗi thời kỳ
khác nhau đều đặt cho mình những mục tiêu nhất định, tuy nhiên dù là mục
tiêu nào đi chăng nữa thì cái đích cuối cùng phải là lợi nhuận. Đó là điều mà
bất kì một doanh nghiệp nào, khi đã bước chân vào thương trường để kinh
doanh cũng đều muốn làm được và buộc phải làm thật tốt nếu muốn tồn tại và
phát triển. Tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà quản trị, bởi lẽ lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
10
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
ánh kết quả cuối cùng của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Lợi nhuận cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết
quỹ khen thưởng, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm… Đây chính là cơ sở để
từng bước đáp ứng được nhu cầu đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp. Tăng lợi nhuận sẽ góp phần làm cho đời sống
của người lao động từng bước được cải thiện.
Với những chính sách đãi ngộ hợp lý của doanh nghiệp sẽ kích thích
người lao động làm việc hết sức mình, góp phần tạo nên sự ổn định và thúc
đẩy các doanh nghiệp phát triển.
Đố i với nhà đầu tư:
Trước khi bỏ vốn cho một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó, các
nhà đầu tư luôn muốn biết đồng vốn của mình bỏ ra có sinh lời hay không.
Lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp có khả năng thu được chính là tương lai
mà họ kỳ vọng. Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận của doanh
nghiệp là một căn cứ giúp nhà đầu tư có thể cân nhắc để ra quyết định đúng
đắn. Nếu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không đạt hiệu quả như mong
muốn thì tất yếu sẽ có sự di chuyển vốn đầu tư sang lĩnh vực khác.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tiến hành hạch
toán kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của
mình. Không có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ không mở rộng được quy mô sản
xuất kinh doanh, không có điều kiện để thay đổi công nghệ sản xuất cũng như
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất. Thêm nữa,
sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường luôn buộc các doanh nghiệp phải
gồng mình lên để tồn tại. Để có thể lấy được thế chủ động của mình trong
cuộc cạnh tranh khốc liệt này, động lực chủ yếu để giúp các doanh nghiệp
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
12
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
chiến thắng không gì khác đó chính là lợi nhuận, chẳng thế mà các hãng nổi
tiếng như Sony, Cocacola, Toyota vẫn có thể đứng vững trên thị trường suốt
Sản lượng sản phẩm tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, tăng sản lượng
tiệu thụ sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc tăng lợi nhuận, ngược lại nếu sản
lượng tiêu thụ giảm sẽ làm cho tổng lợi nhuận của doanh nghiệp giảm theo.
Cần phải thấy rằng sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng hay giảm phụ
thuộc vào bản thân doanh nghiệp, vào trình độ trang bị máy móc thiết bị, trình
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
14
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
độ quản lý sản xuất của doanh nghiệp, quy mô sản xuất và công tác tổ chức
tiêu thụ sản phẩm.
Việc tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ phản ánh kết quả tích cực của
doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng không thể tăng khối lượng sản xuất và
tiêu thụ một cách tuỳ tiện mà phải dựa vào nhu cầu thị trường để đưa ra một
khối lượng sản phẩm thích hợp. Nếu như khối lượng sản phẩm đưa ra tiêu thụ
quá lớn vượt quá nhu cầu thị trường thì cho dù sản phẩm có phù hợp thị hiếu
người tiêu dùng, giá cả có hợp lý nhưng sức mua có hạn nên cũng không thể
tiêu thụ hết được, hàng hoá sẽ bị tồn đọng gây ứ đọng vốn, hiệu quả sản xuất
kinh doanh giảm sút. Ngược lại, nếu đưa ra thị trường một khối lượng sản
phẩm nhỏ hơn nhu cầu thì tất yếu doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ
giảm đi ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, mặt khác khách hàng do
không được đáp ứng nhu cầu sẽ phải tìm đến những mặt hàng cùng loại của
doanh nghiệp khác trên thị trường, như vậy doanh nghiệp sẽ mất đi một bộ
phận khách hàng.
Do vậy để quyết định đưa ra một khối lượng sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm doanh nghiệp cần phải đánh giá đúng nhu cầu thị trường và khả năng
sản xuất của mình để có một khối lượng sản phẩm thích hợp.
1.4.1.1.3. Giá bán đơn vị sản phẩm.
Trong điều kiện các nhân tố khác không biến động, giá bán đơn vị sản
phẩm tăng hay giảm sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng hay giảm
theo. Về nguyên lý, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và xoay
quanh giá trị hàng hoá. Việc tăng hay giảm giá bán sản phẩm do ảnh hưởng
bởi các nguyên nhân :
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
16
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Nguyên nhân từ phía thị trường: Do tác động của quan hệ cung cầu trên
thị trường làm cho giá bán sản phẩm thay đổi chẳng hạn như: lượng cung về
sản phẩm ít hơn lượng cầu về sản phẩm đó.
Nguyên nhân từ bản thân doanh nghiệp: doanh nghiệp đã chú trọng vào
cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm làm cho giá bán sản phẩm
tăng lên.
Với cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành tự phát trên thị
trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán, do đó doanh nghiệp
có thể sử dụng giá cả như một công cụ để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu đưa ra một mức giá cả phù hợp với chất
lượng sản phẩm được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận thì doanh nghiệp
sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình còn nếu như doanh nghiệp định giá cả
quá cao người tiêu dùng không chấp nhận thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ
bị ứ đọng.
Vì vậy, để có một chính sách giá cả hợp lý đòi hỏi doanh nghiệp phải
nắm bắt được nhu cầu thị trường từ đó có chính sách giá cả phù hợp với thị
trường.
1.4.1.1.4. Chất lượng sản phẩm.
Trong cơ chế hiện nay, chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng
thanh toán ngay(thông qua chiết khấu giảm giá) thì chắc chắn là khối lượng
sản phẩm tiêu thụ sẽ nhiều hơn so với khi doanh nghiệp chỉ áp dụng một hình
thức thanh toán.
1.4.1.2. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến giá thành tiêu thụ sản phẩm.
Về cơ bản, giá thành tiêu thụ sản phẩm được cấu thành như sau:
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
18
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Công thức:
Giá thành tiêu
thụ sản phẩm
= Giá thành sản
xuất sản phẩm
+ Chi phí
bán hàng
+ Chi phí quản lý
doanh nghiệp
1.4.1.2.1. Nhân tố giá thành sản xuất sản phẩm.
Giá thành sản xuất sản phẩm là toàn bộ chi phí bỏ ra cho khối lượng
công việc, sản phẩm hoàn thành.
Giá thành sản xuất bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: Chi phí nguyên vật liệu, nhiên
liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm. Đây là khoản chi phí chiếm tỷ
trọng lớn trong giá thành sản xuất vì thế muốn hạ giá thành sản phẩm để tăng
lợi nhuận, doanh nghiệp cần làm thế nào để tiết kiệm khoản chi phí này.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là khoản phải trả cho người lao động
trực tiếp tham gia sản xuất. Đây cũng là khoản chi phí ảnh hưởng rất lớn đến
giá thành sản xuất và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận doanh nghiệp, vì thế cần
cho doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất kinh doanh hiện nay.
Muốn nâng cao lợi nhuận thì doanh nghiệp phải có phương hướng và
biện pháp phù hợp. Phương hướng cơ bản và lâu dài hiện nay đó là tác động
trực tiếp vào hai nhóm nhân tố nói trên. Mỗi nhóm nhân tố có sự ảnh hưởng
đến lợi nhuận của doanh nghiệp khác nhau, cho nên doanh nghiệp phải đưa ra
được những phương hướng phù hợp với từng nhóm nhân tố. Và để thực hiện
được những phương hướng này doanh nghiệp cần phải xây dựng được các
biện pháp chủ yếu sau:
1.4.2.1. Phấn đấu giảm chi phí hoạt động kinh doanh hạ giá thành sản phẩm.
Giảm chi phí hoạt động kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm hàng hoá
dịch vụ là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận. Nếu như giá bán và mức thuế
đã được xác định thì lợi nhuận đơn vị sản phẩm tăng thêm hay giảm bớt là do
giá thành sản phẩm quyết định. Xuất phát từ việc nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến giá thành sản phẩm thì các doanh nghiệp cần phải làm từ các vấn
đề sau:
- Tăng năng suất lao động: nghĩa là cần phải giảm bớt thời gian hao phí
lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc là tăng số lượng sản xuất ra
trong một đơn vị thời gian. Để thực hiện được vấn đề này thì trước hết doanh
nghiệp cần phải biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
vào sản xuất. Đây là nhân tố cực kỳ quan trọng cho phép các doanh nghiệp hạ
thấp giá thành sản phẩm và thành công trong kinh doanh. Khoa học kỹ thuật
phát triển đã tạo ra những công nghệ chế tạo mới, đã làm thay đổi nhiều điều
kiện cơ bản của sản xuất như việc tiêu tốn nhiên vật liệu để sản xuất ra sản
phẩm ngày một ít.
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
21
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Việc tổ chức lao động và sử dụng con người cũng là một biện pháp cần
trình sản xuất liên tục.
+ Quản lý chặt chẽ nguồn hình thành nguyên vật liệu, không ngừng
giáo dục ý thức người lao động trong việc sử dụng vật tư. Nguyên vật liệu
được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn lại có một giá cả khác
nhau, do vậy đòi hỏi cán bộ thu mua nguyên vật liệu phải biết tìm kiếm những
nguồn cung cấp phù hợp, tổ chức tốt công tác thu mua, vận chuyển nguyên
vật liệu về tới doanh nghiệp tránh tình trạng để thiếu nguyên vật liệu cho sản
xuất gây ngừng sản xuất.
Việc giáo dục ý thức người lao động trong việc sử dụng nguyên vật liệu
cũng rất quan trọng, nó góp phần làm tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao từ đó
làm giảm chi phí sản xuất sản phẩm.
- Tiết kiệm chi phí gián tiếp: Đây là những khoản chi tiêu rất khó kiểm
tra, kiểm soát và dễ bị lạm dụng vì vậy phải xây dựng được định mức chi tiêu
cho từng hoạt động khi lập dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp và phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
- Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính: tổ chức quản lý tốt sản xuất
kinh doanh và quản lý tài chính là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc hạ giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức quản lý sản xuất đạt trình độ cao
có thể giúp cho doanh nghiệp xác định mức sản xuất tối ưu làm cho giá thành
sản phẩm hạ xuống. Nhờ vào việc bố trí các khâu sản xuất hợp lý có thể hạn
chế sự lãng phí nguyên liệu, giảm thấp tỷ lệ sản phẩm hỏng. Vai trò của quản
trị tài chính ngày càng tăng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp và tác động của nó đối với việc hạ giá thành, tăng lợi nhuận
ngày càng mạnh mẽ. Tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ, kịp thời
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
23
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
nhu cầu mua sắm vật tư sẽ tránh được những tổn thất cho sản xuất như việc
tăng cường cải tiến máy móc, thiết bị, nâng cấp mua sắm đổi mới, tăng công
suất của máy, áp dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nhằm mục đích
tăng năng suất lao động, tạo nên thế lực mới cho doanh nghiệp trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đồng thời doanh nghiệp cần làm tốt khâu tổ chức
quản lý và sử dụng lao động một cách hợp lý có hiệu quả, tổ chức tốt các hệ
thống ca kíp, có đầy đủ cơ sở và quy trình phục vụ sản xuất thuận lợi, đảm
bảo tận dụng mọi năng lực của người lao động cũng như của máy móc thiết
bị.
Song song với việc tăng thêm khối lượng sản phẩm sản xuất là việc
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm trên cơ sở đầu tư cho chiều rộng
bằng cách trang bị thêm máy móc thiết bị, tuyển thêm lao động có trình độ tay
nghề cao, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đầu tư theo chiều sâu như hiện đại
hoá máy móc thiết bị, mạnh dạn áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất ngoài ra doanh nghiệp cũng cần phải
luôn luôn quan tâm đến anh em công nhân lao động trong doanh nghiệp bằng
cách có chế độ khen thưởng, khuyến khích vật chất cụ thể nhằm động viên
người lao động gắn bó với công việc và có ý thức trách nhiệm quan tâm đến
chất lượng sản phẩm mà mình trực tiếp tạo ra.
- Để nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần phải có sự đầu
tư cải tiến máy móc thiết bị, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của máy móc khi sản
xuất sản phẩm, đồng thời cần phải đảm bảo chất lượng của nguyên vật liệu từ
khâu cung ứng cho đến khi được sử dụng vào sản xuất sản phẩm. Doanh
nghiệp cũng cần phải quan tâm tới công tác nâng cao tay nghề cho công nhân
sản xuất, tăng năng suất lao động… Để có được thế mạnh về chất lượng sản
phẩm đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ của các khâu trong quá trình hoạt
Khoa tài chính doanh nghiệp Nguyễn Thị Thanh
Hoa
K40 – 11.03
25