Bước đầu tìm hiểu thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng việt và tiếng thái - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------

SONGPON BAOLOPET

BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU THÀNH NGỮ
CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------

SONGPON BAOLOPET

BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU THÀNH NGỮ
CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG THÁI

Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số :

60 22 01 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................... 3
2. Ý nghĩa đề tài .......................................................................................................... 4
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................. 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 5
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 5
6. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 5
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................ 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 8
1.1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt .............................................................. 8
1.2. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Thái ............................................................ 11
1.3. Khái niệm thành ngữ có từ chỉ động vật ........................................................ 14
1.4. Khái quát chung về văn hóa Việt Nam và Thái Lan ....................................... 16
1.4.1. Khái niệm về văn hóa ............................................................................... 16
1.4.2. Đặc điểm văn hóa Việt Nam ..................................................................... 17
1.4.3. Đặc điểm văn hóa Thái Lan ..................................................................... 20
1.5. Tiểu kết .......................................................................................................... 24
CHƢƠNG 2: THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT.... 25
2.1. Kết quả thống kê ............................................................................................. 25
2.2. Cấu trúc thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt ................................. 27
2.2.1. Cấu trúc của thành ngữ đối xứng ............................................................. 28
2.2.2. Cấu trúc của thành ngữ phi đối xứng so sánh ......................................... 30
2.2.3. Cấu trúc của thành ngữ phi đối xứng ẩn dụ............................................. 31
2.3. Ngữ nghĩa của các con vật trong thành ngữ tiếng Việt................................... 32
2.3.1. Thành ngữ liên quan đến nhóm động vật nuôi ......................................... 33
2.3.2. Thành ngữ liên quan đến nhóm động vật hoang dã ................................. 39
2.3.3. Thành ngữ liên quan đến nhóm côn trùng, sâu bọ ................................... 43
1


2.3.4. Thành ngữ liên quan đến con vật tưởng tượng - con rồng....................... 44


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất của con ngƣời trong việc giao tiếp
nhằm mục đích trao đổi thông tin, thể hiện tâm lý, tƣ duy, kiến thức, kinh nghiệm
cũng nhƣ tạo sự hiểu biết lẫn nhau.
Thông qua ngôn từ, ngoài việc sử dụng từ ngữ để truyền đạt thông tin, con
ngƣời còn có thể sử dụng nhiều hình thức hoặc cấu trúc ngôn ngữ khác nhau để
giao tiếp, trong đó có thành ngữ. Thành ngữ là một cấu trúc tạo nghĩa nhƣng
không thể hiện nghĩa trực tiếp của cụm từ ngữ đó mà thể hiện nghĩa ẩn sâu hoặc
nghĩa so sánh. Việc sử dụng thành ngữ không những giúp cho lời văn thêm biểu
cảm, sinh động, giàu hình tƣợng mà còn giúp chúng ta có thể diễn đạt ý tƣởng một
các sâu sắc, tế nhị.
Nghĩa của thành ngữ đƣợc xây dựng từ sự liên tƣởng dựa trên các yếu tố nhƣ:
hiện tƣợng tự nhiên, hoạt động trong cuộc sống, động vật, thực vật, con ngƣời, màu
sắc v.v. Thành ngữ còn có thể phản ánh đời sống, tƣ duy, văn hóa, xã hội, phong tục
tập quán, tín ngƣỡng,…
Qua khảo sát về thành ngữ tiếng Việt và tiếng Thái Lan, chúng tôi phát hiện
rằng thành ngữ có từ chỉ động vật chiếm tỷ lệ cao vì con vật có sự gắn bó mật thiết
với con ngƣời: con vật là thú nuôi làm bạn, là nguồn sức lao động trong nông
nghiệp, là nguồn thức ăn và là phƣơng tiện đi lại. Do đó con ngƣời có hiểu biết về
tự nhiên, tính cách của con vật và đem vào so sánh và liên tƣởng trong thành ngữ, ví
dụ: “nhanh như sóc”, “mèo mù vớ cá rán”, “quẳng xương cho chó cắn nhau”
trong tiếng Việt, “ไวเป็ นลิง” (nhanh nhƣ khỉ), “หมาเห่ าใบตองแห้ ง” (chó sủa lá chuối khô),
“เขียนเสื อให้ ววั กลัว” (Vẽ hổ để dọa bò) trong tiếng Thái.
Vấn đề thành ngữ nói chung và thành ngữ có từ chỉ động vật nói riêng trong
tiếng Việt và tiếng Thái đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhƣng cho
đến nay vẫn chƣa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách có hệ

3

4


từ chỉ động vật trong tiếng Việt.
- Tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa của các thành ngữ có
từ chỉ động vật trong tiếng Thái.
- So sánh sự tƣơng đồng và khác biệt giữa thành ngữ có từ chỉ động vật trong
tiếng Việt và tiếng Thái. Qua đó, làm sáng tỏ giá trị ngôn ngữ, văn hóa, lối tƣ duy,
điểm tƣơng đồng và điểm khác biệt giữa hai dân tộc Việt Nam- Thái Lan.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt đƣợc mục đích nghiên cứu nhƣ trên, trong luận văn này, chúng
tôi cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
- Thống kê, phân loại thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt
- Thống kê, phân loại thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Thái
- Phân tích nội dung thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt
- Phân tích nội dung thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Thái
- Só sánh nội dung thành ngữ có từ chỉ động vật giữa tiếng Việt và tiếng Thái
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài đƣợc xác định một cách cụ thể. Đó là
những thành ngữ có từ chỉ động vật trong cả tiếng Việt và tiếng Thái.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những thành ngữ có từ chỉ động vật
trong các cuốn từ điển thành ngữ tiếng Việt và tiếng Thái.
6. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Tư liệu
Tƣ liệu nghiên cứu của luận văn từ các nguồn chính sau:
Về phần thành ngữ tiếng Việt:
- Từ Điển Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực
- Từ Điển thành ngữ phổ thông do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên
Về Phần thành ngữ tiếng Thái:
- สานวนไทยของขุนวิจิตรมาตรา สง่ากาญจนาคพันธุ์, กรุ งเทพฯ: ส. เอเชียเพรศจากัด.2529 (Thành ngữ

CHƢƠNG 3: THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG THÁI:

6


thống kê các thành ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Thái, sau đó phân tích các
thành ngữ đó về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa.
CHƢƠNG 4: ĐẶC TRƢNG VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN QUA
THÀNH NGỮ CÓ CÓ TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT: so sánh các thành ngữ có từ chỉ động
vật trong tiếng Việt và tiếng Thái, từ đó chỉ ra sự tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt
trong đặc trƣng văn hóa Việt Nam và Thái Lan qua các thành ngữ đó.

7


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt
Tìm hiểu về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã đƣa
ra những quan điểm có nhiều nét tƣơng đồng. Dƣơng Quảng Hàm trong “Việt Nam
văn học sử yếu” định nghĩa: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà
diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè” [7, tr.15]. Cụ thể hơn,
Nguyễn Văn Mệnh diễn giải trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm
thành ngữ tiếng Việt”: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những
ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định
danh và được tái hiện trong giao tế” [14, tr.12]. Đồng quan điểm, Cù Đình Tú trong
“Góp ý kiến phân biệt về thành ngữ và tục ngữ” viết: “Thành ngữ là những đơn vị
có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất,
hành động” [25, tr.39].
Để làm rõ khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, trƣớc tiên tôi muốn đặt khái
niệm này trong so sánh với các khái niệm có đôi nét tƣơng đồng là từ ghép, quán

còn nói rõ thêm những sự vật và những hoạt động đó như thế nào, những tính chất
và trạng thái ấy đến mức độ nào” [14, tr.14].
Bàn về cụm từ cố định, có một khái niệm nữa ít nhiều đƣợc đem ra so sánh
với thành ngữ, đó là quán ngữ. Quán là thói quen, việc thƣờng xuyên lặp lại, theo
Hoàng Phê, quán ngữ là “Tổ hợp từ cố định dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy
ra từ nghĩa các yếu tố hợp thành” [19, tr.801], nói tóm lại, nói chung, một mặt thì,
mặt khác thì hay của đáng tội, khí không phải, đùng một cái là những ví dụ về quán
ngữ. Chiếu theo định nghĩa này, quán ngữ và thành ngữ có nét tƣơng đồng là đều
đƣợc hình thành từ thói quen giao tiếp, thƣờng xuyên sử dụng của nhân dân, tạo nên
những diễn đạt cố định trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Tuy nhiên, nếu ý nghĩa
của thành ngữ đứng độc lập với ý nghĩa các đơn vị từ cấu thành nên (con ong cái
kiến, được giỏ bỏ nơm) thì quán ngữ có thể đƣợc hiểu dựa theo các yếu tố hợp thành
(hèn nào, hoài của, khí vô phép). Thành ngữ nêu ra nhận định về sự vật, sự việc, có
chức năng định danh, còn quán ngữ chủ yếu đƣợc dùng để liên kết, đƣa đẩy, nhấn
9


mạnh nội dung nào đó cần truyền đạt. Ngoài ra về mặt cấu trúc, thành ngữ có cấu
tạo chặt chẽ hơn quán ngữ, là một diễn đạt hoàn chỉnh, ít hoặc khó thay đổi, trong
khi các thành tố tạo nên quán ngữ có thể thêm vào hoặc bớt đi mà không ảnh hƣởng
đến việc diễn đạt (nói ngắn gọn, nói một cách ngắn gọn, như sau, như dưới đây vv)
Song le, nếu hiểu thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc chặt chẽ, giàu
hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm thì ít nhiều có nét tƣơng đồng với tục ngữ. Bàn về
sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra
sự khác biệt khá rõ ràng giữa hai đơn vị ngôn ngữ này. Tuy cùng là một thể thống
nhất, giàu sắc thái biểu cảm, đều đƣợc sử dụng trong giao tiếp nhƣng căn cứ vào
hình thức, nội dung và chức năng của mỗi đơn vị, có thể phân biệt thành ngữ và tục
ngữ trong tiếng Việt. Vũ Ngọc Phan đã tổng kết trong Tục ngữ ca dao dân ca Việt
Nam [17,tr.27] “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà
nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn.Về

gần kề, là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu
hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc
lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, đƣợc dùng để định
danh, nêu lên sự vật, tính chất, hành động, làm tăng tính biểu cảm, bóng bẩy trong
giao tiếp.

1.2. Khái niệm thành ngữ trong tiếng Thái
Từ “thành ngữ” trong tiếng Việt, khi chuyển ngữ tƣơng đƣơng sang tiếng
Thái là từ “sẳm -nuôn”, Khunwichitmattra [33, tr.3] khi tìm hiểu ý nghĩa của từ
“sẳm -nuôn” nói rằng: Lời nói của con ngƣời cho dù ở quốc gia hay ngôn ngữ nào
thì đều có thể phân chia thành 2 nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là những ngôn từ đƣợc
hiểu với nghĩa đen, khi nói ra có thể hiểu ngay. Nhóm thứ hai là nhóm ngôn từ đƣợc
diễn đạt theo nghĩa bóng, ngƣời nghe có thể hiểu ngay nếu nhƣ những câu từ đó
đƣợc sử dụng một cách thƣờng xuyên, rộng rãi. Nhƣng nếu không đƣợc sử dụng
rộng rãi, ngƣời nghe không thể hiểu ngay mà phải suy nghĩ, tìm hiểu mới có thể
nắm đƣợc ý nghĩa sâu xa của những ngôn từ đó, thậm chí còn hiểu sang một ý nghĩa

11


khác, hoặc không thể hiểu đƣợc ý nghĩa của những ngôn từ đó. Ngƣời ta gọi những
ngôn từ thuộc nhóm thứ hai này là “sẳm- nuôn” hay chính là “thành ngữ”.
Trong cuốn từ điển của Viện Hàn lâm Quốc gia Thái Lan, xuất bản năm
2003, có đƣa ra định nghĩa về thành ngữ nhƣ sau: “thành ngữ” là những cụm từ cố
định đã quen dùng từ lâu đời mà nghĩa của nó thƣờng không thể giải thích đƣợc một
cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó [38, tr.1,187]. Ví dụ nhƣ
“สอนจระเข้ให้ว่ายน้า” (dạy cá sấu bơi) diễn đạt sự không cần thiết khi hƣớng dẫn một việc
gì cho ai mà ngƣời đó đã biết và thuần thục, hoặc “ราไม่ดีโทษปี ่ โทษกลอง” (múa dở chê kèn
chê trống) ám chỉ sự đổ thừa cho ngoại cảnh khi bản thân không thành công trong
một việc nào đó.

นา้ เชี่ ยวอย่ าเอาเรื อมาขวาง (nƣớc chảy xiết đừng chặn thuyền) nghĩa là đừng chống lại ngƣời
có thế lực, không mang lại lợi ích gì.
Sophana Srichampa trong cuốn “Tục ngữ, thành ngữ, cách ngôn Thái Lan”
cho rằng “tục ngữ” linh hoạt, mang tính giáo huấn thâm sâu về những hành vi ứng
xử liên quan đến phép tắc, lễ nghĩa và những hành vi, hành động khác nói chung”
[41, tr.1].
Tục ngữ bao gồm hai đặc điểm chính: là một câu nói ngắn gọn súc tích
nhƣng có ý nghĩa sâu sắc, và tục ngữ phải hàm chứa một bài học, truyền tải một
kinh nghiệm dựa trên logic sự thật
Nikhom Khaulat đã đƣa ra ý kiến về sự khác nhau giữa tục ngữ, thành ngữ:
Tục ngữ là những từ ngữ có nội dung khuyên răn, dạy bảo, nhắc nhở con ngƣời.
Còn thành ngữ là việc hành văn, diễn tả ý, phần lớn là những từ ngữ miêu tả hình
ảnh cụ thể hoặc có nghĩa bóng, có thể đƣợc hình thành từ thời xa xƣa hoặc mới
đƣợc hình thành từ một nhóm ngƣời nào đó [31, tr.7].
Có thể tổng kết lại, “sẳm-nuôn”(có nghĩa tƣơng đƣơng với “thành ngữ” trong
tiếng Việt) là những cụm từ cố định ngắn gọn, có hàm nghĩa bóng, không đƣợc hiểu
nhƣ nghĩa gốc của từ, có ẩn ý, hoặc có hàm ý so sánh. Thành ngữ phân biệt với tục
13


ngữ ở nội dung là tục ngữ có nội dung dạy bảo nhắc nhở dựa trên quy luật sống,
phật giáo và thƣờng ngạn ngữ và tục ngữ có vần điệu.

1.3. Khái niệm thành ngữ có từ chỉ động vật
Con ngƣời và loài vật vốn có một mối quan hệ gắn bó thân thiết từ thời xa
xƣa đến nay. Loài vật có mặt trong mọi hoạt động của đời sống con ngƣời, từ những
con trâu, con bò giúp các bác nông dân kéo cày ngoài đồng ruộng, đến những đàn
gà, đàn vịt, con tôm, con cá góp phần làm lợi cho kinh tế nhà nông. Hay là những
con vật nuôi nhƣ con chó, con mèo giúp chủ giữ nhà, bắt chuột. Không chỉ những
loài vật có ích ấy mà cả những con vật gây hại cho mùa màng nhƣ chuột, sâu, sên…

tiếng tăm (con tông gà nòi), ngƣời nhớ cội nguồn (gà cỏ trở mỏ về rừng), ngƣời gặp
may mắn (gà rơi nậm gạo), là một thức ăn ngon (cơm gà cá gỏi; quan họ thịt gà, giỗ
cha thịt ếch). Nhƣng gà cũng có nghĩa thiên về tiêu cực: ngƣời ƣa khoe khoang (gà
chết vì tiếng gáy), ngƣời có dáng đi vội vã (te tái như gà mái nhảy ổ), Gà còn chỉ bọn
xấu xa, hay ganh tỵ, tự làm hại mình (gà tức nhau tiếng gáy; chân gà lại bới ruột gà).
Với ngƣời Thái Lan khi nói đến gà, gà là hình ảnh của gái bán hoa , là phụ nữ không
đứng đắn, già đời nhiều mƣu mẹo (ไก่หลง- gà lạc, สมภารกิ นไก่วดั -sƣ trụ trì ăn gà chùa,
ไก่นาตาฟาง- gà đồng mắt quáng; ไก่แก่แม่ปลาช่อน -gà già mẹ cá lóc), ngƣời lờ đờ ngu đần
(งงเป็ นไก่ตาแตก- lơ ngơ nhƣ gà vỡ mắt; ปล่อยไก่ - thả gà), chỉ thời gian trong ngày đặc biệt
là sáng sớm (มาตัง้ แต่ไก่โห่ -đến từ lúc gà gáy, มาก่อนไก่ -đến trƣớc gà, ไก่ ขึน้ รั ง -gà lên
chuồng ), món ăn ngon và giá trị (หมูเห็ดเป็ ดไก่-lợn nấm vịt gà).
Trong tiếng Việt và trong tiếng Thái đều có thành ngữ ไก่ไข่กระต๊ากเอง (gà đẻ gà cục
tác) nhƣng lại có nghĩa khác nhau. Trong tiếng Việt, thành ngữ này nghĩa là: tìm cách
để mọi ngƣời biết thành tích của mình, còn trong tiếng Thái, thành ngữ trên chỉ kẻ xấu
tự làm lộ việc xấu của mình.
Đối với ngƣời Việt, kiến thƣờng để chỉ việc, ngƣời, vật rất nhỏ bé (bé bằng con
kiến; đan lồng nhốt kiến), kiến còn chỉ ngƣời đang gặp nguy hiểm (Kiến bò chảo
15


nóng), ngƣời mất phƣơng hƣớng (kiến phải lửa), ngƣời đông (đông như kiến). Với
ngƣời Thái, kiến lại là một con vật rất đƣợc ngợi khen về sức mạnh (แรงเหมื อนมด
อดเหมื อนกา – có sức nhƣ kiến, chịu đựng nhƣ quạ), sự nhanh nhạy về mùi (ตาแร้งจมูกมดmắt

kền

kền

mũi


Trên đây là quan niệm của chúng tôi về thành ngữ có từ chỉ động vật trong
tiếng Thái và tiếng Việt. Đây là căn cứ quan trọng để chúng tôi tiến hành các
chƣơng tiếp theo.

1.4. Khái quát chung về văn hóa Việt Nam và Thái Lan
1.4.1. Khái niệm về văn hóa
Ngoài việc đƣa ra khái niệm, để có cái nhìn rõ nét và tổng thể hơn về thành
16


ngữ, cần tìm hiểu phạm trù khái quát và có quan hệ mật thiết tới sự hình thành và
đặc điểm của thành ngữ, đó là đặc trƣng văn hóa của mỗi quốc gia, Việt Nam và
Thái Lan.
Trƣớc hết tôi xin đƣợc làm rõ khái niệm văn hóa nói chung.
Theo tổng kết của Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội”
[21, tr.10].
Chi tiết hơn, có thể dẫn ra đây định nghĩa của UNESCO trong Tuyên bố về những
chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 đến 6/8/1982 tại
Mexico: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những
quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín
ngƣỡng”.
Nhƣ vậy, có thể hiểu văn hóa là một phạm trù rộng lớn các giá trị vật chất và tinh
thần đƣợc tạo ra bởi con ngƣời và phục vụ cho đời sống con ngƣời, quy ƣớc nên
những đặc điểm xã hội, đặc trƣng nổi bật của một nhóm ngƣời, một quốc gia. Văn học
và các yếu tố cấu thành nên văn học là một bộ phận của văn hóa, thể hiện những đặc
điểm của văn hóa thuộc một lãnh thổ nhất định.

Trung Quốc đọc theo âm Việt, lớp từ vựng vẫn đƣợc sử dụng trên phạm vi rộng cho
đến ngày nay. Về tôn giáo, Việt Nam chịu ảnh hƣởng của Nho giáo Trung Quốc, phát
triển cực thịnh vào thời Hậu Lê, với những đóng góp trong việc phổ biến, phát triển
văn minh dân gian làng xã, các tƣ tƣởng đã ít nhiều mai một nhƣng vẫn có ảnh hƣởng
đến ngày nay nhƣ tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cƣới xin, các quy định về tôn ti
trật tự… Ngoài ra Phật giáo du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam cũng tạo nên
những nét khác biệt với Phật giáo tại các quốc gia khác, kiến trúc chùa tháp vẫn bảo
lƣu màu sắc của kiến trúc Trung Quốc, kinh điển Phật giáo cũng dùng Hán tự vv.
Từ năm 1945 đến nay, ngoài Trung Quốc, văn hóa Việt Nam còn mở rộng
giao lƣu với văn hóa Nga, Pháp, Mỹ, và nhiều nƣớc khác trên thế giới. Qúa trình
hội nhập đã tạo thêm sự phong phú trong văn hóa Việt Nam, nhƣng sự tiếp nhận này
18


là có chọn lọc và thích nghi với điều kiện sống tại Việt Nam. Chữ quốc ngữ là một
ví dụ điển hình về sự tiếp nhận văn hóa phƣơng Tây trên nền bản địa hóa. Tính hiếu
học, sự năng động, dễ thích nghi của con ngƣời Việt Nam thể hiện trong giai đoạn
này qua số lƣợng lớn ngày càng nhiều học sinh sinh viên học tập trau dồi kiến thức
tại nƣớc ngoài, tiếp nhận văn minh phƣơng Tây.
Nói về đặc điểm của văn hóa Việt Nam, tôi tập trung đi vào chi tiết với văn
hóa dân gian, vì văn hóa dân gian vẫn đƣợc coi là “cội nguồn của văn hóa dân
tộc” là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”. Việt Nam là một trong các quốc gia Đông
Nam Á có những nét văn hóa dân gian đặc trƣng. Đó là truyền thống văn hóa truyền
miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là truyền thống văn hóa chữ viết.
Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành, và phát triển từ rất lâu
đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy. Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra
đời và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình thì văn hóa dân
gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng nhƣ
xã hội Việt Nam, đặc biệt là với quần chúng lao động.
Văn hóa dân gian còn tồn tại rõ nét và tiêu biểu cho đến ngày nay là các phong

phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du là một ví dụ. Đại thi hào Nguyễn Du đã kết hợp
các quan niệm, triết lý và đặc biệt là ngôn ngữ ca dao dân ca vào tác phẩm, khiến
cho Truyện Kiều trở nên thân thuộc với ngƣời dân Việt Nam, ngƣời Việt Nam thuộc
Truyện Kiều, vận dụng những câu thơ trong Truyện Kiều trong đời sống hàng ngày.
1.4.3. Đặc điểm văn hóa Thái Lan
Cũng giống nhƣ Việt Nam, Thái Lan là quốc gia nằm tại khu vực Đông Nam Á,
tiếp giáp Campuchia, Lào Malaysia và Myanmar. Bởi vậy, văn hóa Thái Lan cũng mang
những đặc trƣng của Văn hóa bản địa cũng nhƣ chịu ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ và
Trung Quốc. Thức ăn chủ đạo trong bữa ăn của ngƣời Thái cũng là cơm, hay xôi nếp ở
khu vực Đông Bắc Thái Lan, ẩm thực Thái là sự kết hợp hài hòa năm vị chua, cay, mặn,
ngọt, đắng . Thái Lan có 4 phƣơng ngữ chính là tiếng Thái miền Trung, tiếng Isan (vùng
Đông Bắc), tiếng Kam mueang (miền Bắc) và Pak Tai (miền Nam), trong đó tiếng Thái
miền Trung đƣợc coi là phƣơng ngữ chính sử dụng rộng rãi trên toàn bộ lãnh thổ.
20


Phật giáo là tôn giáo chính tại Thái Lan với khoảng 95% dân số theo đạo Phật,
trƣờng phái Nam tông, giảng dạy đạo Phật đƣợc phổ cập và coi trọng trong hệ thống
giáo dục, hệ thống luật pháp có đạo luật về Phật giáo. Thái Lan vẫn sử dụng Phật
lịch( Buddhist Era) song song với Dương Lịch (Gregorian calendar). Nhà sƣ là
những ngƣời có địa vị xã hội cao ở Thái.
Phật giáo ở Thái Lan bị ảnh hƣởng lớn bởi các niềm tin truyền thống về tổ tiên
và các vị thần tự nhiên. Hầu hết ngƣời Thái xây một miếu thờ nhỏ trong nhà, một ngôi
nhà gỗ nhỏ nơi mà họ tin rằng là chỗ trú ngụ của các vị thần linh. Ngƣời Thái dâng
thức ăn và nƣớc uống cho các vị thần này để cho các thần hài lòng. Nếu các vị thần
không hài lòng, thần sẽ đi ra ngoài miếu thờ và trú ngụ trong nhà của gia chủ và quấy
nhiễu. Những miếu thờ này cũng đƣợc dựng lên ven đƣờng ở Thái Lan, nơi công
chúng thƣờng xuyên dâng lễ vật lên các vị thần. Ngoài ra ngƣời Thái cũng quan niệm
ở 3 bậc đầu tiên của cầu thang hay cửa ra vào cũng là nơi trú ngụ của các thần linh, thổ
công bảo vệ cho gia chủ.

tránh tối đa việc hƣớng lòng bàn chân vào ngƣời khác. Ngƣời Thái cũng tối kỵ việc
chỉ vào ngƣời khác, trong trƣờng hợp muốn giới thiệu hay nói về ai, ngƣời Thái sẽ
ngửa bàn tay và hƣớng về ngƣời muốn nói đến. Trong đời sống tinh thần của ngƣời
Thái, Đức Phật, Nhà Vua và hoàng gia đƣợc đặc biệt tôn sùng, kính trọng, hình ảnh
Ngài và Hoàng gia có thể đƣợc bắt gặp ở bất cứ đâu, trong bất cứ ngôi nhà nào. Ngoài
ra, văn hóa Thái cũng rất tôn trọng ngƣời già, những ngƣời lớn tuổi đƣợc xem là
những ngƣời có kinh nghiệm sống, có sức ảnh hƣởng và giáo dục thế hệ trẻ.
Nhắc đến văn hóa Thái Lan không thể không kể đến các lễ hội cổ truyền, mang
đậm màu sắc tín ngƣỡng nhƣ: Tết Té nƣớc (วันสงกรานต์), Lễ An cƣ Phật tử (เข้ าพรรษา),
Lễ hội Hoa đăng (วันลอยกระทง) và vô vàn các lễ hội khác ở từng địa phƣơng. Trong
khuôn khổ bài viết, tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn về ngày Tết cổ truyền của Thái Lan,
ngày Tết té nƣớc.
Tết Songkran hay còn gọi là Tết Năm Mới diễn ra vào ngày 13 tháng 4 hàng
năm và kéo dài đến ngày 15/4. Vào ngày này ngƣời dân Thái đi lễ chùa và cúng
cơm cho nhà sƣ. Một hoạt động điển hình trong dịp này là lễ tắm Phật, mang ý
nghĩa gột rửa mọi tội lỗi, vận hạn. Cũng giống nhƣ ngày Tết cổ truyền Việt Nam,

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status