Góp phần tìm hiểu thành ngữ có thành tố chỉ tên gọi động vật trong tiếng Anh - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THU HÒA

GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÀNH NGỮ CÓ THÀNH TỐ
CHỈ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG ANH LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

Mã số: 5 04 08
Người hướng dẫn: GS.TS. Lê Quang Thiêm

HÀ NỘI - 2004

MỤC LỤC


2.1.5. Cặp danh từ: Error! Bookmark not defined.
2.1.6. Cấu trúc hoàn chỉnh: (S-V) Error! Bookmark not defined.
2.2. Biến thể của TN Error! Bookmark not defined.
2.3. Một số TN thuộc nhóm đặc biệt: Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGỮ
NGHĨA Error! Bookmark not defined.
VÀ TRƯỜNG NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ CÓ THÀNH
TỐ Error! Bookmark not defined.
CHỈ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT Error! Bookmark not defined.
3.0. Cách hiểu về nghĩa thành ngữ: Error! Bookmark not defined.
3.1. Một số đặc điểm cấu tạo nghĩa TN tiếng Anh có yếu
tố chỉ tên gọi loài vật.
3.1.1. Nghĩa hình tượng của TN được hiểu dựa vào
nghĩa đen: Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Nghĩa của TN được hiểu qua việc biểu trưng
hoá mang tính tư duy dân tộc: Error! Bookmark not defined.
3.1.3. Nghĩa của TN được hiểu qua việc so sánh trực
tiếp các đặc điểm, tính chất, tính cách… (sử dụng tính
từ) Error! Bookmark not defined.
3.1.4. Nghĩa của TN được hiểu qua ý nghĩa ẩn dụ (ví
von ngầm) Error! Bookmark not defined.
3.1.5. Nghĩa của TN được hiểu qua hàm ý, hàm ngôn
(nghĩa bóng): Error! Bookmark not defined.
3.1.6. Nghĩa của TN được hiểu thông qua sự liên
tưởng, liên hội với một câu chuyện, tri thức nền mang
đặc trưng văn hoá dân tộc Error! Bookmark not defined.
3.2. Thế giới động vật trong mối quan hệ với đời sống
của người Anh: Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Động vật, con vật trong đời sống hàng ngày của
người Anh Error! Bookmark not defined.


1
M U
0.1. Tớnh cp thit v lý do chn ti:
Thành ngữ là một đơn vị từ vng m ngụn ng no cng cú. Nhng nú
luụn luụn l mt ti hp dn i vi cỏc nh nghiờn cu bi thnh ng có
cấu tạo phức tạp về mặt cấu trúc cũng nh- về mặt nghĩa. Không những thế nó
còn liên quan đến đặc điểm văn hoá và cách nói năng có tính chất ví von của
từng dân tộc hay núi cỏch khỏc l t duy dõn tc c phn chiu rừ nột
trong cỏc thnh ng. Thnh ng to cho ngụn ng dõn tc nhng sc mu.
Ting Anh vi nhng c im u vit ang tr thnh mt trong nhng ngụn
ng c s dng rng rói trờn th gii v Vit Nam hin nay. Ngụn ng
ny ngy cng c nhiu ngi hc v s dng. Vi t cỏch l mt ngi
hc v s dng ngoi ng, ch khụng phi l ngi bn ng tỡm hiu ting
m , chỳng tụi trc ht mong mun trang b thờm cho mỡnh nhng hiu
bit v thnh ng ting Anh, xem chỳng c cu to nh th no v thụng
qua ú tỡm hiu nhng giỏ tr vn hoỏ n sõu trong lp v ngụn ng. Ngoi
nhng mc tiờu ú, chỳng tụi hy vng ti mỡnh la chn i vo nhng
khớa cnh mi v cú nhng úng gúp lý lun, thc tin phm vi liờn quan
nht l khi ting Anh cú nhiu ngi hc v s dng nh hin nay.
Thành ngữ tiếng Anh có số l-ợng rất lớn nên trong khuụn kh của một
luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ s ch tp trung tỡm hiu những thành ngữ có
thành tố chỉ tên gọi động vật. Theo chúng tôi, nhng thnh ng n y có đặc
tr-ng riêng thể hiện t- duy ng-ời Anh và văn hoá ph-ơng Tây liên quan đến
giá trị biểu tr-ng về động vật.

2
0.2. i tng v phm vi nghiờn cu ca ti:
Tờn ti cho thy ch cú nhng thnh ng cú thnh t ch tờn gi loi
vt, ví dụ nh- put on dog, smell a rat mi là đối t-ợng nghiên cứu.

l-ợng, ph-ơng pháp miờu t, phân tích cấu trúc, ph-ơng pháp phân tích ngữ
nghĩa.
Cựng vi vic quan sỏt cỏch s dng thnh ng trong giao tip cng
nh trong sỏch, bỏo ting Anh hng ngy, chỳng tụi tp hp t liu ch yu
t nhng quyn t in thnh ng mi nht nh ó dn trờn.
0.5. í ngha lớ lun v thc tin:
Vic nghiờn cu thnh ng ting Anh Vit Nam khụng phi l mi.
Tuy nhiờn cha cú nhiu nghiờn cu theo hng ny v cỏc nghiờn cu cũn
cha i sõu miờu t cu to v cu trỳc ng ngha ca cỏc n v thnh ng
tp trung vo mt ch , c bit l cú thnh t ch con vt. Cỏc thnh t
ny úng vai trũ nh th no trong vic to nờn ng ngha thnh ng, v trớ
ca cỏc thnh t v chc nng ng phỏp ca nú cú nh hng ti ngha thnh
ng nh th no? V mt iu quan trng na l da trờn nhng phõn tớch cú
tớnh cht miờu t nh vy ta rỳt ra c nhng c im gỡ v t duy dõn tc,
quan im thm m to nờn bn sc ca ngụn ng v vn hoỏ Anh. ú chớnh
l ý ngha lớ lun ca lun vn.

4
Vi cỏch chn mt nhúm thnh ng cú thnh t ch tờn gi con vt
lm i tng nghiờn cu, chỳng tụi mong mun lp c mt danh sỏch
cỏc thnh ng theo tiờu chớ la chn trờn v phõn loi theo trng ng ngha
to nờn mt ti liu tra cu cho nhng nh nghiờn cu sau ny cng nh cho
nhng ai s dng ting Anh. Ngoi ra chỳng tụi hy vng s tỡm ra nhng c
im biu trng ca tng con vt m ngi Anh hay dựng. ú l mt úng
gúp nh ngi hc ting Anh qua ú d hiu, d nh v s dng cỏc
thnh ng ting Anh tt hn v c bit vn dng mt cỏch hiu qu trong
giao tip. Vic s dng thnh ng ỳng lỳc s to nờn u th trong ngoi
giao v giao dch, mt iu rt cn thit trong xu hng phỏt trin giao tip
xó hi v hi nhp quc t hin nay. õy chớnh l ý ngha thc tin ca lun
vn m chỳng tụi mun hng ti.

1.1.1. Các định nghĩa:
Theo Jenniffer Seidl 42;13 “Một thành ngữ có thể được định nghĩa là
một nhóm từ khi xuất hiện cùng nhau mang một ý nghĩa khác những nghĩa
của mỗi từ đơn”. Đây là một định nghĩa hết sức dễ hiểu hay nói một cách
khác là một cách giải thích nôm na đã đưa ra những nét cơ bản về hình thức

6
cũng như nội dung của thành ngữ. “Nhóm từ”(number of words) là để chỉ
hình thức của thành ngữ, không phải là một từ. Ta có thể hiểu “khi xuất hiện
cùng nhau mang nghĩa khác nghĩa của mỗi từ đơn” có nghĩa là “nhóm từ”
ấy khi đi cùng nhau sẽ làm xuất hiện một nghĩa mới không phải là phép cộng
đơn thuần nghĩa của từng từ. Sự kết hợp của các từ ấy (theo chúng tôi hiểu
chính là tính cố định) đã tạo nên nghĩa mới, nghĩa tổng thể (tính hoàn chỉnh
về nghĩa).
Về cơ bản cách định nghĩa này đã giúp chúng ta hình dung được thành
ngữ là gì và cách định nghĩa này gần như tương đương với định nghĩa của
Nguyễn Thiện Giáp 16; 77: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có
tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”. Chúng tôi nói gần tương
đương vì ở đây, Nguyễn Thiện Giáp có nói đến tính gợi cảm. Đây là một đặc
điểm mà chúng tôi cho rằng không thể thiếu được khi nói tới thành ngữ
(chúng tôi sẽ nói kỹ về đặc điểm này phần sau).
Một định nghĩa khác nữa của Rosalind Ferguson giải thích rõ như sau:
“Một thành ngữ có thể được định nghĩa là một “cụm từ” hoặc ngữ mà nghĩa
của nó không thể hiểu ngay được từ nghĩa những thành tố cấu tạo nó.”
45;viii. Cấp độ (tính chất) thành ngữ của những ngữ này rất khác nhau. Ví
dụ tính thành ngữ thể hiện trong câu tục ngữ “too many cooks spoil the
broth” (nhiều đầu bếp sẽ làm hỏng món canh) mà cách hiểu nó hoàn toàn ẩn
dụ và nghĩa sử dụng của nó chẳng hề liên quan đến việc nấu canh và để hiểu
nó thì phải thông qua những yếu tố có chứa tính thành ngữ cũng như không
chứa tính thành ngữ. Ví dụ “dead duck”, rõ ràng đề cập đến một cái gì đó

donkey mới có cách dịch như vậy). Điều kiện này là cần thiết để tách
tổ hợp thành ngữ tính ra khỏi những đơn vị phức tạp hơn mà tổ hợp đó
là một thành phần. Ví dụ: từ như trong như nước đổ lá khoai
3. Từ có cách dịch duy nhất nằm trong tổ hợp thành ngữ tính phải được
gặp ở ngoài tổ hợp đó, và khi ấy nó có cách dịch khác. Ví dụ:
donkey‟s year (donkey khi kết hợp với year có ý nghĩa là lâu, còn với
các kết hợp khác, nó không có nghĩa này. Ví dụ: Jane‟s donkey (con
lừa của Jane).
1.1.3. Tính hình tƣợng:
Ngoài những đặc điểm về tính cố định, tính thành ngữ (hay tính nhất
thể về nghĩa), hầu hết các định nghĩa đều nhấn mạnh thành ngữ là những
cụm từ (ngữ) có tính gợi tả, giàu hình ảnh, màu sắc. Có thể nói thành ngữ là
những cụm từ đã được tu từ và thường có hình ảnh dùng để thay thế những
từ ngữ thông thường nhằm làm tăng hiệu quả diễn đạt của câu văn, lời nói.
TS. Nguyễn Xuân Hoà trong luận án của mình có nhấn mạnh lại quan điểm
của Nguyễn Thiện Giáp “Thực ra nói đến thành ngữ là nói tới đơn vị định
danh hình tượng. Cần phải dựa vào tính hình tượng để xác định thành ngữ”
18;16. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu
thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể. Tính
hình tượng của thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng so sánh

9
và ẩn dụ. Để hiểu rõ hơn tính hình tượng của thành ngữ ta phải phân biệt
thành ngữ với ngữ định danh.
Về mặt nội dung, thành ngữ khác ngữ định danh ở các điểm sau đây:
a1) Ngữ định danh là tên gọi thuần tuý của sự vật, còn thành ngữ là
tên gọi gợi cảm của hiện tượng nào đó. Giá trị gợi cảm của thành ngữ được
tạo ra nhờ sự tồn tại song song của hai phương diện nghĩa: nghĩa từ nguyên,
là nghĩa hình thành từ nghĩa riêng của các thành tố theo quy tắc cú pháp và
nghĩa thực tại của thành ngữ.

hỏi cần có sự bình giá và biểu cảm.
1.1.4. Phân biệt thành ngữ và cụm từ tự do
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của ThS. Lâm Thị Hoà Bình
về sự khác biệt giữa cụm từ tự do và thành ngữ. “Cụm từ tự do được hình
thành trong từng bối cảnh giao tiếp phục vụ một mục đích biểu đạt nhất định,
hay nói đúng hơn là do nhu cầu diễn tả một ý tưởng nào đó hơn mức bình
thường. Cụm từ tự do tuy có thể tạo ra nghĩa biểu cảm không phải là phép
cộng đơn thuần của các nghĩa đơn lẻ nhưng chỉ có thể hiểu trong một bối
cảnh, tình huống phát ngôn nhất định. Nếu đặt trong bối cảnh khác, rất có thể
nghĩa của nó sẽ biến đổi hay được phân tích như đối với một cụm từ vựng-

11
ngữ pháp thông thường.” Trên thực tế, các tác giả nước ngoài cũng khẳng
định: “Thành ngữ là một biểu thức đa từ (multiword expression) với những
đặc điểm ngữ nghĩa khác hẳn với các cụm từ tự do. Cái khác đó là tính thành
ngữ (idiomaticity), hay còn gọi là tính nhất thể về nghĩa (semantic unity) và
tính cố định hoặc tương đối cố định của các từ thành phần. Thành ngữ hay
biểu ngữ đa từ có số lượng từ hạn chế, trong khi đó cụm từ tự do có số lượng
mở không hạn định.
1.1.5. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ:
Tục ngữ là biểu thức cố định, nhưng thường là một bộ phận của văn
học dân gian nên bản thân mỗi câu tục ngữ như là “một tác phẩm văn học”
hoàn chỉnh, chứ không phải là một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ như thành
ngữ. Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt đầy đủ một ý, một đúc kết,
một triết lý. Ý đó có thể là một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một
công lí hay một lời khuyên hoặc lời phê phán được rút ra từ trong kinh
nghiệm sống con người.
Khác với tục ngữ, thành ngữ là một bộ phận của từ vựng ngôn ngữ.
Đó là một cụm từ cố định tương đương với từ. Tự nó không diễn đạt trọn
vẹn được một ý, nên nó chỉ tương đương với đơn vị từ mà thôi. Thành ngữ

xấu, cái ác, cái thiện, cái đạo lí, cái phi đạo lí và những đặc tính gắn liền với

13
tư duy, lối sống, tính cách của dân tộc. Do đặc điểm này, từ lâu, dân tộc nào
cũng coi thành ngữ như tấm gương phản ánh đặc điểm văn hoá - tộc người
và là một di sản văn hoá tinh thần cần được sưu tập, bảo vệ, truyền bá rộng
rãi trong cộng đồng như là những bài học dân gian về đạo lí làm người.
Một điều quan trọng cần phải nhận thức là “thành ngữ” không chỉ là
cách “thể hiện thông tục” như mọi người thường nghĩ. Chúng có thể xuất
hiện trong một văn phong trang trọng, trong tiếng lóng, thơ ca, trong ngôn
ngữ của Shakespears (Sếchpia) và trong kinh thánh. (42;12)
1.2. Nhận diện thành ngữ tiếng Anh nói chung:
Tổng hợp từ những quan điểm và cách hiểu thành ngữ của các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ Việt, Anh chúng tôi cho rằng một thành ngữ phải thoả
mãn các tiêu chí dưới đây:
1.2.1. Về hình thức cấu tạo:
 Thành ngữ có cấu tạo như một tổ hợp từ (cụm từ, ngữ, có thể là một
cấu trúc câu hoàn chỉnh), cố định hoặc tương đối cố định. (Nói tương
đối cố định vì trong một số trường hợp có biến thể). Tuy nhiên thành
ngữ không dễ dàng chấp nhận việc tự do thêm bớt vào cấu trúc của
mình.
1.2.2. Về nội dung nghĩa:
 Nghĩa của thành ngữ là nghĩa tổng thể hoặc gần như tổng thể. Các từ
thành phần có mối liên hệ gần như hoà quyện vào nhau và làm mất đi
những nét nghĩa riêng của từng từ nếu chúng đứng độc lập trong bối
cảnh khác.

14
 Thành ngữ là biểu thức cố định mang tính hình tượng.
Các thành ngữ tiếng Anh có rất nhiều hình thức và cấu trúc. Một thành

Một số thành ngữ khác cho phép có nhiều biến thể
- to know one‟s onion/stuff ( nắm vững công việc của ai đó)
- a hard/tough nut to crack (khó nhằn, khó chơi)
- to take/ have/ enjoy forty winks (chợp mắt một chút)
- to come to a bad/ nasty/ sticky/ no good/ untimely end (kết thúc một
cách tồi tệ/…/…)
Thành ngữ tiếng Anh có một số đặc điểm ngữ pháp sau cho dù các thành tố
cấu tạo không có nghĩa hay các nghĩa đó hoạt động không độc lập:
1. Các yếu tố cấu tạo không cải biến được một cách độc lập mà không làm
mất đi nghĩa thành ngữ.

16
Ví dụ: pull someone‟s leg: trêu ghẹo ai đó. Nhưng trong một số trường
hợp thay đổi các thành tố cấu tạo dưới đây, nghĩa thành ngữ đã bị mất
đi.
 She pulled her brother‟s legs
 She pulled her brother‟s left leg
 She pulled her brother‟s leg with a sharp tug
Chỉ có thành ngữ trọn vẹn (cụm từ cố định) như một tổng thể mới có
thể cải biến được mà không làm mất tính thành ngữ:
 She pulled her brother‟s leg mercilessly (Cô ta trêu ghẹo anh ta
một cách nhẫn tâm)
2. Các yếu tố cấu tạo thành ngữ không phối hợp với các yếu tố ngữ nghĩa
đích thực
 She pulled and twisted her brother‟s leg (từ twist với nghĩa
“vặn” không hề phối hợp với nghĩa đen của từ pull nghĩa “kéo”
trong ngữ (cụm từ) trên)
 She pulled her brother‟s leg and arm (trường hợp này cũng vậy)
3. Các yếu tố không thể là sự nhấn mạnh tương phản (yếu tố chính đối
lập) hoặc là trọng tâm của việc chuyển nghĩa

chí về hình thức và nội dung ở trên, chúng tôi sẽ nhận diện các đơn vị thành
ngữ có thành tố chỉ tên gọi động vật.
Một số dạng thức TN mà các nhà nghiên cứu còn đang có sự tranh cãi,
chúng tôi xin không xét và đưa vào tư liệu. Đó chính là từ ghép (một số
trường hợp được sử dụng với nghĩa bóng), một số đơn vị tương đương với
một tục ngữ nhưng vẫn được liệt kê trong các quyển TN với biến thể bị cắt
bớt một vế. Các phrasal verbs vẫn được chúng tôi lựa chọn là TN vì riêng
đối với nhóm các TN có thành tố chỉ con vật thì các phrasal verbs vốn là
những danh từ chỉ con vật đã trở thành động từ và khi nó kết cấu làm thành
một phrasal verbs nó vẫn phản ánh đặc trưng của con vật đó. Đây là một
cách tư duy hết sức linh hoạt và hiệu quả của người Anh. Những phrasal
verbs này hoạt động một cách tích cực và hàm súc, đạt hiệu quả trong giao
tiếp mà lại tạo nên sắc thái riêng, đặc biệt của phong cách tiếng Anh.
1.3. Thành ngữ tiếng Anh có thành tố chỉ tên gọi động vật:
Thành ngữ tiếng Anh có rất nhiều kiểu cấu trúc ngữ pháp khác nhau.
Tuy nhiên dựa trên đặc điểm nhận dạng là có một thành tố chỉ tên gọi của
động vật nên chúng tôi đơn giản tập hợp lại, chưa quan tâm tới cấu trúc của
các thành tố. Trong tổng số 10.000 thành ngữ tiếng Anh chúng tôi đã chọn ra
được khoảng 540 thành ngữ có thành tố chỉ tên gọi động vật (trong đó 214 là
thành ngữ so sánh). Đây là cách để chúng tôi giới hạn, khoanh vùng khu vực
nghiên cứu cho luận văn của mình. Chúng tôi xin dẫn một số thí dụ thành
ngữ có thành tố chỉ động vật:
- look like a drowned rat

19
- see pink elephant
- as big as a whale
- golden calf
- to fish for complement
Chúng tôi tập hợp cả những thành ngữ so sánh có thành tố chỉ động

kê của chúng tôi, có chính xác là 103 tên gọi của các con vật, đa dạng về
chủng loại: từ động vật hoang dã to lớn như hổ, báo, sư tử… đến các con vật
nuôi đã được thuần hoá như ngựa, trâu, bò, lợn, gà… đến những loài sâu bọ,
côn trùng như kiến, mối, sâu, nhện và các loài chim trời hoang dã: diều hâu,
cú, dơi, … Điều này chứng tỏ người Anh có óc quan sát và và khả năng liên
hội cực kỳ phong phú. Đặc biệt là số lượng lớn các TN so sánh trực tiếp
(as…as…) có thành tố chỉ con vật, chiếm gần nửa (40%) trong tổng số các

21
TN đã chứng tỏ lối tư duy ưa ví von của người Anh. Để có được một cái
nhìn sâu hơn, khái quát hơn về con người Anh, đất nước Anh và những điều
thú vị của nền văn hoá này ẩn tàng trong các câu thành ngữ, chúng tôi trước
hết sẽ đi vào thống kê, phân tích một số đặc điểm về cấu tạo của nhóm thành
ngữ mà chúng tôi lựa chọn: thành ngữ có thành tố chỉ tên gọi loài vật.
Trong quá trình tiến hành các bước phân tích và lý giải cấu trúc và
một số cơ chế tạo nghĩa TN, chúng tôi chỉ dịch thô, diễn giải ý của TN và
tạm chuyển sang nghĩa bóng tương ứng chứ không tìm một cách dịch đắt
nhất, hàm súc nhất. Việc dịch từ ra từ để làm từ điển đã khó, thì việc chúng
tôi tách TN ra khỏi văn cảnh và có một cách chuyển dịch hàm súc, hiệu quả
nhất lại càng khó. Luận văn chúng tôi không đi sâu vào việc chuyển dịch TN
nên chúng tôi chỉ tạm dịch theo hướng trên để làm ví dụ minh hoạ trong quá
trình phân tích.
2.1. Các dạng thức cấu tạo:
Các cụm từ hay ngữ (phrases) rất phổ biến trong tiếng Anh. Tuỳ thuộc
vào chức năng hay hình thức mà người ta gọi chúng là danh ngữ (noun
phrase), tính ngữ (adjective phrase), ngữ phó từ (adverbial phrase), giới ngữ
(prepositional phrase), động ngữ (verb phrase) và phrasal verb (tạm để
nguyên). Trong tổng số 540 TN có thành tố chỉ con vật mà chúng tôi lựa
chọn nghiên cứu, về hình thức cấu tạo, phần lớn các TN có cấu tạo là các
ngữ (phrases) phổ biến trên. Ngoài ra, chúng tôi còn gặp các cụm từ có cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status