Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ hàn việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (nhìn từ góc độ ngôn ngữ văn hóa) - Pdf 62

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
======****======

Lê Thị Thương

Đề tài:

Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ
Hàn – việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật
(Nhìn từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: châu á học

Hà Nội - 2009


Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
======****======

Lê Thị Thương

Đề tài:

Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ
Hàn – việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật
(Nhìn từ góc độ ngôn ngữ - văn hoá)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: châu á học
Mã số: 60.31.50

c. Thành ngữ có tính từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ bị đảo lên trước danh từ đó: ...... 21
d. Thành ngữ có phương tiện thực hiện hành động được đảo lên trước động từ: .. 21
e. Thành ngữ có động từ vị ngữ được đảo lên đầu câu: ........................................ 21
TIỂU KẾT ........................................................................................................... 21
CHƢƠNG II: ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ HÀN - VIỆT
CÓ THÀNH TỐ CẤU TẠO LÀ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT .................................. 23
2.1. Khái quát chung về nghĩa của thành ngữ .................................................... 23
2.2. Đối chiếu cơ chế tạo nghĩa thành ngữ Hàn - Việt có thành tố cấu tạo là tên
gọi động vật .......................................................................................................... 24
2.2.1. Cơ chế tạo nghĩa của các thành ngữ có quan hệ chính phụ ..................... 25
2.2.1.1. Thành ngữ chính phụ có danh từ làm trung tâm .................................. 25
a. Thành tố là tên gọi động vật ở vị trí trung tâm ................................................... 25
b. Thành tố là tên gọi động vật ở vị trí của thành tố phụ ........................................ 26
2.2.1.2. Thành ngữ chính phụ có động từ và tính từ làm trung tâm ................. 27
a. Thành tố là tên gọi động vật chỉ xuất hiện trong phần phụ của thành ngữ. Còn trung

1


tâm của thành ngữ có thể là một hành động, một trạng thái, một tính chất nào đó. ........ 27
b. Về cơ chế tạo nghĩa, có 3 cơ chế sau đây được chúng tôi tìm thấy trong cả thành
ngữ Việt và thành ngữ Hàn: ................................................................................... 28
2.2.2. Thành ngữ trong đó các thành tố có quan hệ Chủ - Vị. ........................... 31
2.2.3. Thành ngữ có quan hệ đẳng lập ................................................................ 32
2.3. Ngữ nghĩa của thành ngữ Hàn có yếu tố chỉ tên gọi động vật .................... 33
2.3.1. Thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật nói về con ngƣời ..................... 34
2.3.1.1. Thành ngữ nói về hình thức của con người ............................................ 34
2.3.1.2. Thành ngữ nói về tính cách của con người ............................................. 36
a. Thành ngữ nói về tính cách tốt........................................................................... 36
b. Thành ngữ nói về tính cách xấu ......................................................................... 36

2


a. Ngựa biểu trưng cho của cải và sự dư dật ......................................................... 62
b. Ngựa biểu trưng cho sự nhanh nhẹn trong hành động ....................................... 63
c. Ngựa già biểu trưng cho trí tuệ và tài năng ....................................................... 64
3.3.1.4. Các biểu trưng của bò (bê)...................................................................... 65
a. Các biểu trưng chung của bò ............................................................................. 66
b. Biểu trưng của bò trong những tình thế, hành động cụ thể................................. 68
3.3.2. Biểu trƣng của nhóm động vật hoang dã .................................................. 69
3.3.2.1. Các biểu trưng của hổ ............................................................................. 69
3.3.2.2. Các biểu trưng của chim.......................................................................... 71
3.3.2.3. Các biểu trưng của cá .............................................................................. 75
a. Biểu trưng chung của cá nói chung ................................................................... 76
b. Biểu trưng của cá qua tình huống, hành động cụ thể ......................................... 77
3.3.2.4. Biểu trưng của thỏ ................................................................................... 78
3.3.2.5. Các biểu trưng của rắn ............................................................................ 78
a. Biểu trưng cho sự xấu xa, nguy hiểm, tai vạ....................................................... 78
b. Biểu trưng cho sự lươn lẹo ................................................................................ 79
3.3.2.6. Các biểu trưng của chuột........................................................................ 79
a. Chuột (hay Chuột chù) biểu trưng cho vật ít giá trị .......................................... 79
b. Chuột trong hũ gạo biểu trưng cho sự may mắn ................................................ 80
3.3.2.7. Biểu trưng của con vật tưởng tượng - con rồng ...................................... 81
a. Biểu trưng cho sự vinh quang và thành đạt ........................................................ 81
b. Biểu trưng cho vẻ đẹp hình thức và dũng khí của người đàn ông. ...................... 81
3.3.3. Biểu trƣng của các loài côn trùng, sâu bọ ................................................. 82
3.3.3.1. Biểu trưng của kiến ................................................................................. 82
3.3.3.2. Biểu trưng của muỗi. ............................................................................... 83
3.3.3.3. Biểu trưng của bọ ngựa ........................................................................... 84
3.3.3.4. Biểu trưng của giun ................................................................................ 84

vi nghiên cứu thú vị, hấp dẫn và nhận được sự chú ý đặc biệt của giới ngôn ngữ học
cũng như những người quan tâm, yêu mến ngôn ngữ.
Để có một cái nhìn toàn diện về thành ngữ, cần phải quan niệm rằng thành
ngữ là một sản phẩm tinh thần, là những lời ăn tiếng nói gắn liền với quá trình phát
triển của một dân tộc. Thành ngữ không chỉ bao gồm những yếu tố ngôn ngữ, bên
trong nó còn chứa đựng cả những yếu tố văn hoá, phong tục, tâm thức và hàng loạt

4


những quan niệm nhân sinh của chủ nhân sáng tạo. Vì vậy, để hiểu và sử dụng
thành ngữ một cách thành thạo cũng như để nghiên cứu thành ngữ một cách sâu sắc,
cách tiếp cận từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá là một trong những cách tiếp cận hiệu
quả. Để thực hiện việc nghiên cứu của mình, chúng tôi chọn một phạm vi thành ngữ
dựa trên một dấu hiệu hình thức là thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật.
Theo tiến sỹ Trịnh Cẩm Lan, đây là một trong những dấu hiệu được cho là làm cho
thành ngữ mang đậm những đặc trưng tâm lý, văn hoá và tư duy dân tộc.
Là người Việt sử dụng tiếng Hàn, chúng tôi chọn thành ngữ tiếng Hàn là đối
tượng nghiên cứu chính, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đối chiếu với kết
quả nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 với phạm vi thành ngữ tương đương
trong tiếng Việt để tìm ra những điểm giống và khác nhau trong cách cấu tạo, diễn
tả, liên hệ... của hai cộng đồng bản ngữ nhằm tìm hiểu những tương đồng và dị biệt
hệ thống biểu tượng, trong nền văn hoá dân tộc của hai cộng đồng này.
Trên thực tế, giới Việt ngữ học đã từng có nhiều công trình nghiên cứu thành
ngữ tiếng Việt. Họ là những người có công lớn trong việc khai phá những vấn đề
liên quan đến thành ngữ. Cùng với sự ra đời của hướng nghiên cứu đối chiếu ở Việt
Nam mà người đặt nền móng đầu tiên là tác giả Lê Quang Thiêm, vài thập kỷ gần
đây, nghiên cứu đối chiếu thành ngữ cũng trở thành mối quan tâm và sự lựa chọn
của nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Việt với
thành ngữ ở các ngôn ngữ khác như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung...

những tương đồng và dị biệt trong cách diễn tả, liên hệ... của hai cộng đồng là chủ
nhân sáng tạo thành ngữ, trên cơ sở đó tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa
hai nền văn hoá của người Hàn và người Việt.
03. Tƣ liệu nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu này, chúng tôi đã sưu tầm, lựa chọn được 387 câu
thành ngữ tiếng Hàn có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật từ các nguồn sau đây:

1. Lee Woo Young (2002), 대백과사전- Đại Bách khoa từ điển
thành ngữ, NXB Sholbitch, Hàn Quốc
2. Chon Chea Kuk, (2008), 네글자세상- Thế giới thành ngữ bốn
chữ NXB Cty CP Shee Kong Sha, Hàn Quốc
3. Choo Kang Hyun (2008), 100 가지 민족문화 상징 사전, 100
đặc trưng văn hoá dân tộc Hàn, NXB Hiệp hội xuất bản văn hoá
Đại Hàn, Hàn Quốc

6


4. Hong Chol Won (2006), 사자성어- Thành ngữ bốn chữ, NXB
Shan Kwa Bus, Hàn Quốc
5. LeeYongTal,(2008)수능,논술,취업,면접대비,승진,국가고시대
비 100%활용하는가자성어고사성어- Thành ngữ, cổ ngữ
thường tục về khả năng, luận thuật, nghề nghiệp, ứng xử, thăng
tiến, cai trị nước (2008), NXB Hengbok Maltunul Seshang,
Hàn Quốc
6. Lee Chan Kul (2000), 2000 thành ngữ của chúng tôi, NXB
TooSho, Hàn Quốc
Ngoài ra, để có cứ liệu đối chiếu, chúng tôi đã xin phép sử dụng kết quả
nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 với phạm vi thành ngữ tương đương trong
tiếng Việt làm cứ liệu đối chiếu. Việc sử dụng này đã được sử đồng ý của tác giả.

trong tiếng Việt.
Chƣơng 3: Đối chiếu những giá biểu trƣng của thế giới động vật liên quan đến
tƣ duy và văn hóa của hai dân tộc dân tộc Hàn - Việt qua thành ngữ
Chương này nghiên cứu hệ thống giá trị biểu trưng của thế giới động của
người Hàn qua thành ngữ, đối chiếu với những giá trị biểu trưng của thế giới động
vật của người Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy
và văn hóa dân tộc của hai cộng đồng là chủ nhân sáng tạo thành ngữ.

8


CHƢƠNG I
ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC CỦA THÀNH NGỮ HÀN - VIỆT
CÓ THÀNH TỐ CẤU TẠO LÀ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT
1.1. Phân loại thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật về mặt cấu trúc
1.1.1. Một số khuynh hƣớng phân loại về mặt cấu trúc và tiêu chí phân loại của
luận văn
Như một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, thành ngữ được chú ý trên
phương diện cấu trúc. Ở phương diện này có rất nhiều các nhà nghiên cứu tiến hành
việc phân loại và cho ra các kết quả như sau :
- Dựa trên quan hệ cú pháp, tác giả Đái Xuân Ninh chia thành ngữ thành ba loại:
Thành ngữ là một câu bình thường.(Ví dụ: Cá nằm trên thớt). Thành ngữ là một câu
đặc biệt (Ví dụ: Run như cầy sấy). Thành ngữ là một đoạn của lời nói (Ví dụ: Đầu
sóng ngọn gió).
- Dựa vào cơ chế cấu tạo, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng thành ngữ là những
cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Ông cũng
chia thành ngữ làm hai loại : Thành ngữ hợp kết (Ví dụ: Rách như tổ đỉa) và thành
ngữ hoà kết (Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi).
- Dựa vào kết cấu cú pháp gốc của thành ngữ, tác giả Đỗ Hữu Châu chia thành ngữ
làm hai loại: Thành ngữ có kết cấu câu (Ví dụ: Ma cũ bắt nạt ma mới) và Thành

có một nhóm thành ngữ không thuộc quan hệ nào trong ba quan hệ trên nên chúng
tôi xếp thành loại thứ tư gọi là Thành ngữ quan hệ đặc biệt.
Như vậy, về cấu trúc, có thể chia các thành ngữ tiếng Hàn là đối tượng
nghiên cứu thành 04 loại như sau:
+ Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ chính - phụ. Loại này có 215/
387 thành ngữ, chiếm khoảng 55%.
+ Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ chủ - vị. Loại này có 165/387
thành ngữ, chiếm khoảng 43%.
+ Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ đẳng lập. Loại này có 02/ 387
thành ngữ, chiếm 0.5%.
+ Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ đặc biệt. Loại này có 05/ 387
thành ngữ, chiếm 1.3%.
Kết quả phân loại về mặt cấu trúc của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 trên tư liệu
thành ngữ là 904 thành ngữ thì thành ngữ Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động
vật như sau: thành ngữ có quan hệ chính phụ (58,8%), thành ngữ có quan hệ chủ -

10


vị (39,8%), thành ngữ có quan hệ đẳng lập (0,3%) và thành ngữ có quan hệ đặc biệt
(4,5%).
Hai kết quả phân loại trên cho thấy có một sự tương ứng tương đối giữa
thành ngữ Hàn và thành ngữ Việt về mặt cấu trúc thể hiện ở tỉ lệ các tiểu loại trong
đó thành ngữ có quan hệ chính phụ ở cả hai ngôn ngữ đều chiếm tỉ lệ cao nhất: 55%
trong tiếng Hàn và 58,8% trong tiếng Việt; tiếp đến loại thành ngữ có quan hệ chủ
vị với 43% trong tiếng Hàn và 39,8% trong tiếng Việt. Loại thành ngữ có quan hệ
đẳng lập chiếm tỉ lệ thấp nhất trong cả hai ngôn ngữ, chỉ với 0,5% trong tiếng Hàn
và 0,3% trong tiếng Việt. Sự tương ứng này thể hiện một phương thức tư duy chung
trong cách diễn tả, cấu tạo thành ngữ ở nhiều ngôn ngữ. Về mặt cấu trúc, theo lý
thuyết đại cương, thành ngữ là một loại cụm từ cố định, vì thế, quan hệ ngữ pháp

Một dạng khác có số lượng phổ biến hơn ở cả hai ngôn ngữ là thành ngữ
chính phụ danh từ làm trung tâm trong đó yếu tố phụ là từ nhưng có hai trung tâm
như vậy ghép với nhau. Loại này có hình thức của thành ngữ đối trong đó mỗi vế
đối được cấu tạo theo mô hình từ ghép chính phụ. Có một số tiểu loại phổ biến sau
đây :
- Thành tố phụ là tên gọi động vật, thành tố chính chỉ một bộ phận nào đó của con
vật. Tiểu loại này rất phổ biến ở cả hai ngôn ngữ.
Ví dụ:

Tiếng Hàn:
1. 심원의 마 (心猿醫 馬) → Lòng vượn ý ngựa (Ông chẳng bà chuộc)
2. 토각귀모 (兔角龜毛) → Sừng thỏ, lông rùa (Rất hiếm)
3. 어두귀면→ Đầu cá mặt quỉ (Mặt người dạ thú)
Tiếng Việt:
1. Dạ cá lòng chim
2. Cổ trâu cổ bò
3. Lòng lang dạ sói

- Thành tố phụ chỉ môi trường sống của con vật, thành tố chính chỉ con vật. Tiểu
loại này khá phổ biến trong thành ngữ Việt nhưng không thấy xuất hiện trong thành
ngữ Hàn (trên phạm vi tư liệu của chúng tôi).
Ví dụ:

1. Chim trời cá nước
2. Mèo mả gà đồng
3. Cá bể chim rừng
Ở thành ngữ có danh từ từ làm trung tâm trong đó thành tố phụ là từ, về trật

tự của các thành tố, nếu trong thành ngữ Hàn, từ trung tâm đứng sau và thành tố phụ


1. Da trắng như trứng gà bóc
2. Mặt rỗ như tổ ong bầu
Có thể nói, ở cả hai ngôn ngữ, cấu trúc của thành ngữ chính phụ có danh từ

làm trung tâm hoàn toàn không có cấu trúc kiểu danh ngữ, ngoài một bộ phận trong
đó có cấu trúc kiểu cụm từ chính phụ thông thường. Bên cạnh thành tố chính là
danh từ, phần phụ có cấu tạo khá phong phú: có thể là một từ, một cụm từ, một kết
cấu C-V, có khi là một kết cấu so sánh... Những đặc điểm này làm cho thành ngữ có
diện mạo khác hẳn những tổ hợp tự do thông thường khác. Một đặc điểm nổi bật

13


trong thành ngữ Việt, khác hẳn với thành ngữ Hàn, là sự xuất hiện nổi trội của kết
cấu so sánh, dạng kết cấu xuất hiện ở hầu hết các tiểu loại thành ngữ chính phụ
danh từ làm trung tâm này.
b. Thành ngữ chính phụ có động từ làm trung tâm
Dựa vào chức năng ngữ pháp của thành tố phụ, có thể phân loại như sau :
b1. Thành tố phụ là một bổ ngữ trực tiếp
Ví dụ: Thành ngữ Hàn:
1. 주마간산 (走馬肝山) → Cưỡi ngựa xem núi (Cưỡi ngựa xem hoa)
2. 매검매우 (賣劍買牛) → Bán kiếm mua bò (Cuộc sống thanh bình không
cần đến vũ khí nữa)
3. 수주대토(守株待兎) → Ôm cây đợi thỏ (Há miệng chờ sung)
4. 이리를 내쫓고 양을 기른다 → Đuổi sói, nuôi cừu (Cứu thiện, trừ ác)
Thành ngữ Việt:
1. Chém rắn đuổi hươu
2. Bán hươu buôn sói
3. Cưa sừng làm nghé
Đây là dạng thành ngữ đối 4 thành tố khá phổ biến trong cả hai ngôn ngữ. Về

b4. Thành tố phụ là một trạng ngữ
Ở loại này, trạng ngữ có thể là một từ hoặc kết cấu (cụm từ, cụm C-V) chỉ
cách thức của động từ. Tổ chức ngữ của trạng ngữ phong phú hơn trong thành ngữ
Việt và kém phong phú hơn trong thành ngữ Hàn. Cụ thể, thành ngữ Việt có 3 tiểu
loại là: (1) Trạng ngữ chỉ cách thức không thông qua từ so sánh kiểu Sởn da gà,
Câm miêng hến, Ngủ gà ngủ vịt... ; (2) Trạng ngữ chỉ cách thức là một từ (cụm từ)
gọi tên động vật nối với trung tâm bằng một từ so sánh kiểu Chạy như vịt, Trốn như
chuột, Chửi như ó, Hót như khướu, Bám như đỉa... và (3) Trạng ngữ chỉ cách thức
là một kết cấu C-V nối với trung tâm bằng một từ so sánh kiểu Chạy như chó phải
pháo, Kêu như bò rồng, Rình như mèo rình chuột... Tuy vậy, thành ngữ Hàn trên tư
liệu của chúng tôi chỉ có tiểu loại thứ hai:
1. 망양지탄 (亡羊之歎) (Khóc như mất cừu)
2. 견마지로 (Làm như trâu ngựa)
3. 개같이 벌어서 정승 같이 산다 (Kiếm tiền như chó, sống như đại thần)
Thông thường, trong các kết hợp tự do, trạng ngữ chỉ cách thức thường có
bản chất từ loại là một tính từ (chạy nhanh, nói chậm, kêu to, khóc thảm thiết, làm
vất vả...) nhưng trong những thành ngữ trên đây, ở cả tiếng Việt và tiếng Hàn, và

15


cũng qua việc khảo sát tất cả những thành ngữ tương tự trong tư liệu của chúng tôi,
có thể rút ra mấy đặc điểm của trạng ngữ chỉ cách thức trong thành ngữ như sau:
- Không một thành ngữ nào có trạng ngữ chỉ cách thức của hành động có bản
chất từ loại là một tính từ.
- Vì đặc điểm trên nên các kết cấu chỉ cách thức không nói về cách thức một
cách trực tiếp mà chỉ nêu một cách gián tiếp thông qua đặc điểm, thuộc tính, hành
động, tình thế... của các con vật. Những cách thức đó chỉ có thể hiểu được khi người
sử dụng hiểu được những đặc điểm, thuộc tính, hành động, tình thế... điển hình đó
của các con vật trong sự đánh giá của chủ nhân sáng tạo.

vậy, số lượng các tiểu loại cũng ít hơn. Cũng như thành ngữ có động từ làm trung
tâm, ở loại này, thông tin liên quan đến các con vật tập trung ở phần phụ, vì vậy, để
hiểu và sử dụng đúng thành ngữ, cần có thêm những tri thức văn hoá dân tộc liên
quan đến những quan niệm của chủ nhân sáng tạo về những đặc điểm, tình thế điển
hình của con vật được sử dụng trong thành ngữ.
d. Thành ngữ có số từ làm trung tâm
Loại thành ngữ này số lượng không lớn và đều có hai trung tâm với bốn
thành tố đối nhau. Về mặt cấu trúc, thành ngữ loại này có yếu tố phụ đều là các
danh từ. Trong tiếng Hàn, đây đều là những thành ngữ gốc Hán, và vì vậy, trật tự
các thành tố được giữ nguyên trật tự Hán (giống trật tự trong thành ngữ Việt) nghĩa
là ngược cú pháp tiếng Hàn.
Ví dụ:

Thành ngữ Hàn:
1. 구우일모(九牛一毛) → Chín bò, một lông ( Không đáng kể như nhổ đi

một sợi lông của 9 con bò mà thôi)
2. 십양구목(十羊九牧) → Chín cừu, mười mục (Dân ít quan nhiều)
3. 일용일사(一龍一事) → Nhất long, nhất xà (Hoặc thành công hoặc
không thành công là do tu dưỡng)
Thành ngữ Việt:
1. Chín đụn mười trâu
2. Ba bò chín trâu
e. Thành ngữ chính phụ ẩn từ trung tâm
Các thành ngữ này, ở cả tiếng Hàn và tiếng Việt, có đặc điểm chung là đều
bắt đầu bằng các từ so sánh. Đó là các từ: “như – 듯/지, giống - 같다, bằng - 만큼”.
Về mặt cấu trúc, có lẽ đây chính là các yếu tố để xác định rằng chúng có đặc điểm
cấu trúc là thành ngữ chính phụ ẩn từ trung tâm. Và theo sự liên hệ về nghĩa, chúng
tôi thấy hoàn toàn có khả năng phục hồi lại từ trung tâm khi cần thiết. Cũng theo sự


Thành ngữ Việt:
1. Ngựa dập voi giày

18


2. Cua máy cáy đào
3. Diều tha quạ mổ
b. Thành ngữ có kết cấu C - V - B
Theo tư liệu của chúng tôi, đây là loại chiếm số lượng lớn nhất trong các
thành ngữ có kết cấu C-V ở cả tiếng Hàn và tiếng Việt
Ví dụ: Thành ngữ Hàn
1. 호가호위(狐假虎威) → Cáo mượn oai hùm
2. 학구소붕(鷽鳩笑鵬)→ Hạc, bồ câu cười phượng hoàng
3. 원숭이 곳수를 만났다 → Khỉ gặp cây xanh
Thành ngữ Việt:
1. Chó ăn trứng luộc
2. Cá mè đè cá chép
3. Cò gỗ mổ cò thịt
4. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã
c. Thành ngữ có cấu tạo kiểu C- V- Trạng ngữ
Ví dụ:

Thành ngữ Hàn:
1. 비둘기는 콩밭에 만 마음이 있다 → Bồ câu để tâm trí ngoài ruộng đậu
2. 고추밭에 말달리다 → Ngựa chạy trên ruộng ớt (Ném đá giấu tay)
3. 원숭이도 나무에서 떨어진다 → Khỉ cũng rơi từ trên cây xuống
4. 감정지와 → Ếch ngồi đáy giếng
Thành ngữ Việt:
1. Cá cả ở vực sâu

mà mô hình này trong thành ngữ Hàn chỉ có 2 tiểu loại, trong khi đó, theo kết quả
nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan, mô hình này trong tiếng Việt có tới 5 tiểu loại khác
nhau. Hai tiểu loại có mặt trong cả hai ngôn ngữ là:
a. Thành ngữ có trạng ngữ nơi chốn bị đảo lên trước động từ
Ví dụ: Tiếng Hàn:
1. 수리청즉무어→ Chỗ nước trong không bắt được cá
2. 중원축록→ Trong vườn đuổi nai
Tiếng Việt:
1. Cửa sổ ngựa qua
2. Thẳng cánh cò bay
b. Thành ngữ có bổ ngữ bị đảo lên trước động từ
Ví dụ: Tiếng Hàn:
1. 주마가편 → Ngựa chạy thêm roi
2. 머리검은 짐승은 구제를 → Thú đầu đen ngăn giúp đỡ
3.낮말이새가듣고 밤말이 →Lời ngày chim nghe, lời đêm chuột nghe

20


Tiếng Việt:
1. Chuối đút miệng voi
2. Chỉ buộc chân voi
3. Trạch bỏ giỏ cua
4. Trâu dắt ra bò dắt vào…
Mô thức chủ yếu của loại này là có một bộ phận bị đảo so với trật tự cú pháp
thông thường nhằm mục đích nhấn mạnh.
Ba tiểu loại khác trong tiếng Việt mà không có trong tiếng Hàn như sau:
c. Thành ngữ có tính từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ bị đảo lên trước danh từ đó:
1. Đục nước béo cò
2. Yếu trâu hơn khoẻ bò…

3. Về trật tự của các thành tố trong cấu trúc, về cơ bản, các thành ngữ thuần Hàn có trật
tự thuận cú pháp Hàn, các thành ngữ Việt có trật tự thuận cú pháp Việt. Tuy nhiên, có
một số lượng đáng kể các thành ngữ Hàn gốc Hán có trật tự như thành ngữ Việt và có
đặc điểm hình thức giống như thành ngữ Việt là do người Hàn khi chuyển dịch sang chữ
Hangul ( Chữ Hàn) đã giữ nguyên trật tự Hán ban đầu. Một số thành ngữ Hàn gốc Hán
và Việt gốc Hán có sự tương ứng 100% về cả cấu trúc và ý nghĩa.
4. Số lượng thành ngữ ở các tiểu loại trong tiếng Hàn và tiếng Việt có một sự tương ứng
tương đối, điều này chứng tỏ một điểm tương đồng trong lối tư duy, trong cách cấu tạo,
diễn tả của hai cộng đồng bản ngữ.
Bên cạnh những nét tương đồng cơ bản đó, đối chiếu cấu trúc thành ngữ Hàn Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật, có thể quan sát thấy một số khác biệt sau:
- Ở một số kiểu cấu trúc, các tiểu loại nhỏ trong thành ngữ Việt phong phú hơn thành
ngữ Hàn, đặc biệt là ở tiểu loại thành ngữ chính phụ có động từ làm trung tâm và thành
ngữ có quan hệ C-V.
- Có sự xuất hiện nổi trội của cấu trúc so sánh trong thành ngữ Việt, đặc biệt là ở loại
thành ngữ chính phụ có danh từ và động từ làm trung tâm. Các hình ảnh so sánh trong
thành ngữ Việt cũng cụ thể hơn, chi tiết và sinh động hơn.
- Có sự xuất hiện đáng chú ý của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Hàn (hầu hết thành ngữ
4 thành tố trong tiếng Hàn đều có gốc Hán). Đây là một khác biệt đối với thành ngữ Việt
(thành ngữ Việt cũng có một bộ phận gốc Hán nhưng không nhiều bằng thành ngữ Hàn
về số lượng).

22


CHƢƠNG II
ĐỐI CHIẾU NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ HÀN - VIỆT
CÓ THÀNH TỐ CẤU TẠO LÀ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT
2.1. Khái quát chung về nghĩa của thành ngữ
Xưa nay, hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều cho rằng trong thành ngữ
thường có hai loại nghĩa song song tồn tại là nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status