Luận văn tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN TOÁN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tìm hiểu tính từ chỉ màu sắc trong một
số tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hoài
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN VĂN TƯ
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
MSSV: 1041319
LỚP: SP. TIỂU HỌC K.30
Cần Thơ, tháng 04/ 2008
Nguyễn Thị Thu Hồng
1
Khoahọc
Sư Phạm
điều kiện cứu
để tôi được học tập và đặc biệt là thầy Tư, người đã nhiệt tình giúp đỡ,
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Do còn hạn chế ở nhiều mặt nên
phần trình bày sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được
đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Hồng
2
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trung tâm
Trang
PHẦN A: MỞ ĐẦU............................................................................................... 1
1.Lí do chọn đề tài ............................................................................................... 2
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................. 3
3. Mục đích yêu cầu............................................................................................. 3
4. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 4
PHẦN B: NỘI DUNG ............................................................................................ 5
3.2. Tính từ miêu tả ý nghĩa tuyệt đối............................................................... 12
3.3. Vị trí của tính từ........................................................................................ 13
4. Tính từ chỉ màu sắc ........................................................................................ 13
CHƯƠNG 2: TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI ................................................................................ 15
I. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM:........................................................ 15
1. Tác giả........................................................................................................... 15
2. Tác phẩm ....................................................................................................... 17
2.1 Dế Mèn phiêu lưu ký.................................................................................. 17
2.2 Kim Đồng .................................................................................................. 17
2.3 Đảo hoang.................................................................................................. 18
II. THỐNG KÊ TÍNH TỪ CHỈ MÀU SĂC........................................................... 19
III. Ý NGHĨA TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI ................................................................................ 32
IV. NHẬN XÉT.................................................................................................... 45
PHẦN C: KẾT LUẬN .......................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 47
Nguyễn Thị Thu Hồng
3
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN A: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bác Hồ là người luôn quan tâm tới thiếu niên, nhi đồng. Bác dùng thơ văn
Nguyễn Thị Thu Hồng
4
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
Mặt khác, ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài được thể hiện rất phong
phú, sinh động. Nó đã miêu tả nhân vật khá tinh tế, vẽ nên những bức tranh
thiên nhiên đầy màu sắc giúp các em có thể phát triển trí tưởng tượng. Nhân tố
quan trọng tham gia vào công việc ấy chính là những tính từ chỉ màu sắc. Đây
là một lớp nhỏ trong từ loại tính từ nhưng lại là kiến thức rất bổ ích cho việc
giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học trong tương lai đối với một sinh viên ngành sư
phạm tiểu học.
Qua những điều cảm nhận trên, việc “ Tìm hiểu tính từ chỉ màu sắc trong
một số tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài” là công việc rất cần thiết và
có ý nghĩa. Đó là lí do mà tôi chọn đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề:
Cũng như danh từ và động từ, tính từ được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn
ngữ tìm hiểu. Xoay quanh vấn đề đó, nhiều ý kiến khác nhau được đưa ra.
Chẳng hạn như xét về ý nghĩa khái quát của tính từ thì Bùi Tất Tươm trong
Giáo trình Tiếng Việt cho rằng: “Tính từ là từ loại chỉ tính chất của sự vật,
của hoạt động và trạng thái”. Với Lê Biên, trong Từ loại Tiếng Việt hiện đại
Trung tâm thì
Học
liệu
xanh lá cây, chúng ta vẫn nhận ra sự khác biệt của chúng trong ngữ cảnh cụ
Nguyễn Thị Thu Hồng
5
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
thể.” Nhưng trong tiếng Anh thì “màu xanh “blue” được định nghĩa là màu
xanh của trời quang mây hoặc của mặt biển trong một ngày nắng. Màu xanh
“green” là màu nằm giữa màu xanh da trời và màu vàng trong dải quang phổ,
là màu của cỏ, của lá, của hầu hết cây cối.”
Hoặc trên ngữ học trẻ 2001, Trịnh Thị Thu Hiền với “Các thành ngữ
Tiếng Việt có yếu tố cấu tạo là từ chỉ màu sắc”, tác giả mong muốn có thể
đưa ra một số suy nghĩ ban đầu về giá trị, cấu trúc hình thái, cấu trúc ngữ nghĩa
của loại thành ngữ này, ví dụ như thành ngữ “Đỏ da thắm thịt” hay “Trắng như
vôi”.
Và các tác phẩm văn học cũng không ngoại lệ. Ngữ học trẻ 2002, “Màu
xanh trong thơ Tố Hữu” của Nguyễn Thị Bích Thủy đã liệt kê khá đầy đủ
những màu xanh mà nhà thơ đã miêu tả. Tuy nhiên, với mảng văn học thiếu nhi
thì chưa thấy xuất hiện các bài viết tìm hiểu về các tính từ chỉ màu sắc trong tác
phẩm. Có lẽ do tuổi đời của văn học thiếu nhi còn khá non trẻ so với tuổi đời
của nền văn học nên chưa nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả. Và do tình
hình thực tế của trường, ngành sư phạm tiểu học mới ra đời nên chưa có sinh
Trung tâm viên
Họcnàoliệu
Cần
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
màu sắc không thì vẫn chưa đủ bởi vì lớp từ này có vị trí và ý nghĩa như thế nào
thì chúng ta vẫn chưa thể hình dung hết được. Điều đó sẽ được trả lời qua viêc
khảo sát một số tác phẩm văn học, thú vị nhất là văn học thiếu nhi của Tô Hoài.
Chúng ta thấy rằng, số lượng tác phẩm mà nhà văn sáng tác cho thiếu nhi
rất phong phú, nội dung và ý nghĩa của tác phẩm cũng mang tính đặc trưng theo
các giai đoạn sáng tác của tác giả. Trước Cách Mạng, là sự khao khát tự do, sau
Cách Mạng là tinh thần hăng say lao động để xây dựng cuộc sống mới. Chính
vì vậy đề tài sẽ không tìm hiểu tất cả các tác phẩm mà chỉ hướng đến những tác
phẩm tiêu biểu cho từng giai đoạn như: Dế Mèn phiêu lưu ký ( trước Cách
Mạng ), Kim Đồng và Ñảo hoang ( sau Cách Mạng ). Những yêu cầu của luận
văn sẽ được tập trung giải quyết qua các tác phẩm trên.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để có thể hiểu được cơ sở của vấn đề cần nghiên cứu, người viết phải nắm
sơ lược về từ loại, về tính từ, về tác gia và tác phẩm của Tô Hoài qua việc sưu
tầm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan. Tiếp theo sẽ là việc thống kê các
tính từ chỉ màu sắc có trong một số tác phẩm của nhà văn. Qua việc tìm hiểu cơ
Trung tâm sở
Học
liệu
Thơ
@tính
Tàitừ liệu
học
Từ loại là những lớp cơ bản, trong đó vốn từ của một ngôn ngữ được phân
bố căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp chung, hoặc nói một cách ngắn gọn hơn, từ
loại là chủng loại ngữ pháp của từ.
Hay nói cách khác, từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp,
được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong
ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. Hệ
thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định.
2. Phân chia:
Từ xưa, đã có sự phân loại các từ của Tiếng Việt thành hai từ loại là: thực
từ và hư từ, vì ở giữa hai từ loại này có những điểm khác nhau như sau:
2.1. Về nghĩa: Giữa hai từ này có sự khác nhau:
Trung tâm Học a.liệu
ĐH
@thực
Tài( ýliệu
tập) dùng
và nghiên
Thực
từ: Cần
là từ cóThơ
ý nghĩa
nghĩahọc
từ vựng
để chỉ về cứu
sự
vật hiện tượng nhất định nào đó tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong
ý niệm của con người.
Thí dụ: Có, làm, ăn, đánh, giết…
b. Hư từ: là những từ không có ý nghĩa thực tức không có ý nghĩa từ
vật, hiện tượng trong thực tế, tức là không suy nghĩ, không thông báo được gì.
Trong thực tế, không thể có câu nào mà trong đó chỉ có: thì, mà, rất, sẽ… mà
không có thực từ. Nhưng trong câu nếu không có hư từ, thì sự suy nghĩ, thông
báo sẽ không được rõ ràng, chính xác. Vì ta không thể nói ra toàn những câu
mà trong đó chỉ có thực từ.
Trung tâm Học- Số
liệu
ĐH
Cần
Thơ
liệu
học
tậptầnvà
cứu
lượng
thực
từ nhiều
hơn@
hẳnTài
so với
hư từ,
nhưng
số nghiên
xuất hiện của
hư từ nhiều hơn hẳn so với thực từ. Sự khác nhau đó chứng tỏ vai trò quan
trọng không giống nhau của thực từ và hư từ.
- Hệ thống thực từ có thể phát triển rất nhanh. Hệ thống hư từ cũng có phát
triển nhưng không nhanh như thực từ. Sự khác nhau đó chứng tỏ đặc điểm
không giống nhau giữa hai từ loại, trong quan hệ giữa chúng với tư duy.
Qua các nồng cốt ấy, có thể nhận thấy những từ như ngựa, chim, lúa, cây
cối là danh từ, những từ như chạy, hót là động từ và những từ như tốt, xanh tươi
là tính từ.
3.3. Các từ loại trong hệ thống hư từ:
Trung tâm HọcTrong
liệuhệĐH
Tài
liệu
họctừ tập
vàhơn
nghiên
cứu
thốngCần
này taThơ
có thể@
phân
thành
những
loại nhỏ
đó là: phó
từ và từ nối.
- Phó từ là từ dùng để biểu thị các nghĩa ngữ pháp về thời gian, về thể
trọng và về mức độ.
Đã, sẽ, đang, hơi, rất…
Thí dụ:
- Xe đã chạy.
- Chiếc xe này rất tốt.
Những từ loại này không thuộc phạm vi thực từ và cũng không thuộc
phạm vi hư từ, và cũng khác với đại từ. Nó thuộc lớp từ tình thái.
- Từ đệm là từ dùng để biểu thị thái độ, nó là yếu tố thường được gia thêm
vào cho câu, để biểu thị sự ngạc nhiên, mỉa mai, vui mừng, lễ phép hay sự
Trung tâm khẳng
Học định
liệuđặc
ĐH
biệt.Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thí dụ: Có tiền việc ấy là xong nhỉ!
Đời trước làm quan cũng thế à?
(Nguyễn Khuyến)
- Từ cảm là từ dùng để biểu thị tiếng gọi, tiếng đáp, tiếng reo vui, tiếng
than vãn, tiếng nguyền rủa hay sự chửi bới… Cũng như từ đệm, nó là yếu tố
được gia thêm vào cho câu. Nhưng nó khác với từ đệm là ở chỗ nó không gắn
bó chặt chẽ với cấu tạo của câu mà nó chỉ là thành phần phụ biệt lập trong câu
và thường đứng ở đầu câu.
Thí dụ: - Ái chà, gió mát quá!
- A, mẹ đã về.
Tóm lại trong hệ thống từ loại Tiếng Việt ta có thể thấy các từ loại cụ thể
như sau:
• Danh từ
• Động từ
• Tính từ
Nguyễn Thị Thu Hồng
11
MSSV: 1041319
Soá từ
Phó từ
Từ nối
ĐẠI TỪ
II.
KHÁI QUÁT VỀ TÍNH TỪ
1. Định nghĩa:
Tính từ là từ dùng để chỉ tính chất, trạng thái đặc trưng của người, vật,
việc…Vật, việc này thường ở trạng thái động, hoặc tĩnh.
Thí dụ:
- Về tính chất: tốt, xấu, lành, đẹp…
- Về trạng thái: cứng, mềm, thơm, hôi…
Những từ này phụ nghĩa cho những đơn vị đứng gần nó, có thể là danh từ
hoặc động từ.
Nguyễn Thị Thu Hồng
12
MSSV: 1041319
- Tính từ miêu tả màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng…
* Tính từ miêu tả tuyệt đối: riêng, chung, công, tư, chính, phụ, độc nhất,
công cộng…
SƠ ĐỒ PHÂN CHIA TÍNH TỪ THÀNH CÁC LỚP NHỎ
Nguyễn Thị Thu Hồng
13
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
Lớp nhỏ
Miêu tả tính
chất
Lớp con
Đơn vị cụ thể
Phẩm chất
Tốt, xấu, hiền, dữ…
Kích thước số
lượng.
ĐH
Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
từ, lớp tính từ miêu tả tính chất có số lượng rất lớn nên ta có thể
chia chúng thành các lớp con như :
a. Lớp tính từ miêu tả phẩm chất của sự vật nêu ở chủ thể. Lớp này thường
tồn tại thành từng cặp đối lập về mặt ý nghĩa: tốt / xấu, vui / buồn, hiền / dữ,
sung sướng / khổ sở…
Thí dụ: - Anh A rất hiền.
- Chị B rất dữ.
b. Lớp tính từ miêu tả kích thước số lượng của sự vật nêu ở chủ thể: lớp từ
này cũng tồn tại thành từng cặp đối lặp về mặt ý nghĩa: lớn / nhỏ, nặng / nhẹ,
nhiều / ít, đủ / thiếu, mỏng / dày…
Thí dụ: Giờ dạy của giáo viên không đều nhau, kẻ rất nhiều, người quá ít.
c. Lớp tính từ miêu tả màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng…
Thí dụ: - Đến các giao lộ nên chú ý đèn xanh, đèn đỏ, kẻo vi phạm luật lệ
giao thông.
- Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nguyễn Thị Thu Hồng
14
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
( Ca dao)
Lớp tính từ này xác định tính chất của sự vật nêu ở chủ thể, không phân
biệt tính chất bên trong, hoặc bên ngoài của sự vật nên ta có thể nói:
cực kỳ,
vô học
cùng…tập và nghiên cứu
Thí dụ: Việc nước không phải của riêng một số người mà là công việc
chung của nhân dân.
Bên cạnh đó, một số tính từ miêu tả màu sắc như: trắng phau, đen xì, xanh
um, đỏ lòm, vàng khè…cũng không kết hợp được với đơn vị chỉ mức độ, vì
chúng đã bao hàm ý nghĩa chỉ tuyệt đối về tính chất rồi.
Thí dụ: “Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xóa, tràng giang phẳng lặng lờ”
( Bà Huyện Thanh Quan )
Việc phân chia tính từ thành các lớp nhỏ, lớp con để tiện bề khảo sát, để
trên cơ sở đó hiểu biết chúng sâu sắc hơn. Tuy vậy, ranh giới giữa các lớp nhỏ
không phải lúc nào cũng rõ ràng, dứt khoát. Trong thực tế sinh động của ngôn
ngữ, có khi một số tính từ chỉ có ý nghĩa tuyệt đối lại có thể dùng như một tính
từ miêu tả tính chất bình thường, nghĩa là có thể kết hợp được với các đơn vị
chỉ mức độ như: hơi, rất, cực kỳ…
Thí dụ:
Ấy là những lời khuyên rất cơ bản.
Nguyễn Thị Thu Hồng
15
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
Qua việc tìm hiểu chung về từ loại và tính từ, chúng ta thấy rằng tính từ
chỉ màu sắc là một lớp nhỏ trong từ loại tính từ. Nó có đặc điểm ngữ pháp như
tính từ. Tuy nhiên, nó có một điểm khác so với tính từ. Đó là nó vừa thuộc tính
từ miêu tả tính chất vừa thuộc tính từ miêu tả ý nghĩa tuyệt đối. Khi ở nhóm thứ
nhất thì đó là các tính từ như: trắng, xanh, đỏ, vàng ...và có khả năng kết hợp
với các phó từ chỉ mức độ như: rất, quá, lắm... Khi ở nhóm thứ hai thì đó là các
tính từ như: trắng toát, đỏ au, xanh lè, xám ngắt... và không có khả năng kết hợp
với các phó từ chỉ mức độ như các tính từ ở nhóm kia. Nhưng đó không là hạn
chế của từ nhóm này mà phần lớn giá trị biểu cảm của tính từ chỉ màu sắc lại là
những tính từ này.
Nguyễn Thị Thu Hồng
16
MSSV: 1041319
Luận văn tốt nghiệp
Thực tế cho ta thấy rằng màu sắc tuy nhiều nhưng nó vẫn có giới hạn. Tuy
nhiênø mức độ của nó được thể hiện rất đa dạng. Ví dụ như với màu trắng thì ta
có các mức độ của nó như: trắng tinh, trắng toát, trắng suốt, trắng muốt, trắng
trẻo, trắng bong... và nó sẽ phù hợp với từng ngữ cảnh khác nhau.
Chính vì vậy, nhóm từ có ý nghĩa tuyệt đối sẽ bổ sung vào nhóm tính từ
kia làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú và phản ánh đối tượng ngày một tự
nhiên và sinh động hơn. Chẳng hạn:
Mai mặc chiếc áo vàng rất đẹp.
Cánh đồng lúa chín vàng tươi.
Màu sắc đã trở thành công cụ của thơ ca. Nhờ có nó mà cuộc sống của con
người mang nhiều ý nghĩa và cảm nhận được thế giới một cách toàn diện hơn.
Trung tâm Hoài
Họcsớm
liệu
Thơ
tậpgiavà
cứu
giaĐH
nhậpCần
Hội văn
hoá @
cứu Tài
quốc liệu
( 1943học
), tham
viếtnghiên
bài cho báo
Cứu Quốc và Cờ Giải Phóng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm phóng viên báo Cứu Quốc trung
ương, chủ nhiệm báo Cứu Quốc Việt Bắc; được kết nạp Đảng năm 1946. Năm
1950, ông về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam, nhiều năm liền làm thư kí toà
soạn Tạp chí văn nghệ. Hoà bình lập lại ( 1954 ), Tô Hoài vẫn tiếp tục sáng tác
và hoạt động trên lĩnh vực văn nghệ ( từng giữ chức vụ Phó tổng thư kí Hội nhà
văn Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, Ủy viên Ủy
ban toàn quốc Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản
thiếu nhi ).
Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà, Tô Hoài
vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương độc lập và giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn hoá nghệ thuật ( đợt 1 - 1996 ).
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn viết đều tay nhất cho thiếu nhi. Ông viết
ĐHtiêu
Cần
@ kì
Tài
họccổtập
cứu
tác phẩm
biểu Thơ
trong thời
nàyliệu
là truyện
tích và
Ôngnghiên
Trạng Chuối
và truyện đồng thoại: Võ Sĩ Bọ Ngựa, Đám Cưới Chuột, Dế Mèn phiêu lưu ký,
trong đó Dế Mèn phiêu lưu ký được xem là thiên đồng thoại xuất sắc nhất.
* Từ sau 1945:
Tô Hoài tiếp tục phát huy những thành tựu ở hai loại truyện viết cho thiếu
nhi: truyện cổ tích và truyện đồng thoại, có bổ sung thêm những sắc thái nội
dung mới để phù hợp với tinh thần của thời đại.
Những câu chuyện đồng thoại tiêu biểu như: Chim chích lạc rừng, Con
mèo lười, Đàn chim gáy, Bồ nông,… đã bộc lộ cái nhìn ngỡ ngàng trước những
đổi thay diệu kì trên miền Bắc trong công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
Qua đó, người đọc rất dễ nhận ra niềm tự hào mãnh liệt và tính cảm thiết tha
gắn bó với non sông đất nước của tác giả.
Hoà nhịp với không khí chiến đấu, lao động của toàn dân tộc trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tô Hoài có viết lại một số truyện cổ như:
Chuyện ông Gióng, Chuyện nỏ thần, Đảo hoang,… để bộc lộ tư tưởng, tình cảm
của mình. Nêu ra những bài học kinh nghiệm, những giá trị vốn có trong quá
Nguyễn Thị Thu Hồng
@bàiTài
vàphiêu
nghiên
cứu
tỉnh ngộ
rút ra
những
học liệu
bổ ích.học
Trêntập
đường
lưu, Mèn
thấy nhiều cảnh lạ, gặp nhiều chuyện rủi may, kết nghĩa anh em với Dế Trũi,
cùng với Trũi đi đây đi đó, sinh tử có nhau, không bỏ nhau khi hoạn nạn. Mèn
đã từng tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa, làm thủ lĩnh tổng Châu Chấu, từng bị bắt
giam trong hầm kín của lão Chim Trả, đã trải qua nhiều khó khăn nguy hiểm
nhưng Dế Mèn vẫn không nản lòng lùi bước. Dế Mèn đã cùng với Dế Trũi và
các bạn đường chống lại những điều ngang trái bất công ở đời, lặn lội đi khắp
nơi cổ động, thuyết phục muôn loài cùng nhau đoàn kết, chấm dứt chiến tranh,
được các loài nhiệt tình hưởng ứng.
2.2 Kim Đồng:
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, quê ở Nà Mạ, Cao Bằng. Người
thiếu niên anh hùng sớm giác ngộ cách mạng ấy cũng là người đội viên đầu tiên
của tổ chức Thiếu niên tiền phong. Dền đã tham gia cách mạng và làm liên lạc
đưa cán bộ đi hoạt động, đảm nhiệm việc tiếp tế lương thực cho cán bộ và cuối
cùng để cứu cán bộ, Dền đã anh dũng hi sinh. Cuộc đời của Nông Văn Dền tuy
Nguyễn Thị Thu Hồng
20
Phân
loại tính
từ
Miêu tả
tính chất
tương
đối
Tính
từ
Tính từ màu sắc trong văn cảnh
màu sắc
Trang
xanh
Cái hang bỏ hoang của tôi, cỏ và rêu đã 51
xanh kín lối vào.
xanh, đỏ
Những chị Cào Cào trong làng ra , mỹ 103
miều áo đỏ áo xanh...ngượng ngùng.
Lá ngàn xanh bắt đầu úa đỏ.
138
xanh, trắng Bụng trắng, lưng xanh thắt đáy, đôi
cánh nuột nà biếc tím.
xanh, vàng
kí
Luận văn tốt nghiệp
trắng
Ngày thứ ba, một màu nước trắng.
Để hôm nay, ngồi kỳ khu chép những
gian hồ lên trang giấy trắng... luân lạc.
75
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
145
Trái đồi bên ấy đương bay nhiều Bướm
trắng, vàng Vàng, Bướm Trắng, phất phơ lân với 164
hoa hồng... hồng nhạt.
đen
Hai tảng răng đen và nhọn khoằm 174
khoặm.
Ngoài đồng, mây đen cuồn cuộn, gió
thổi tan tác... một bước.
108
Nhưng, cơ khổ... cặp mỏ kếch xù
mà đen quá, dài quá, xấu quá.
119
đen, vàng
Trung tâm Học liệu
Con đường về tổ Nhà Trò... hoa tím phút 118
chốc đã quang hẳn.
xanh
2
đỏ
51
Từ hai triền núi xanh, từng đám người
Mèo, người Nùng... lông vàng mỡ.
Khói đốt sưởi bốc xanh, hơi đá bớt lạnh
hơn lúc nãy.
18
Cả ngựa cai khố xanh cũng đi rồi.
Tuy cái áo dài thì cũ,... nhuộm còn xanh
trên hai bàn tay, đầu thắt lưng ngoắt như 34
hai sừng bò vắt vẻo đằng sau.
84
Tay anh cầm lồng chim hoạ mi, che
miếng vải đỏ.
103
Nếu có đèn săn chắc thấy hai cái mắt đỏ.
Nhưng mới chỉ thấy hai đại đội lính khố
đỏ và cả lính da đen... Sóc Giang.
82
Nguyễn Thị Thu Hồng
bao giờ thay đổi.
Nước suối Pác Bó phân vân chảy tràn
18
18
trên những tảng đá trắng.
Được mấy hôm, người ta lấy củ nâu 38
trắng giã nhỏ... phải cút hết.
Kim Đồng lao về bãi sỏi trắng dài theo
mép nước.
90
Hai bên bắc ghế dài cạnh chõng hàng,
trên đặt chõ xôi trắng lỗ chỗ hoa hiên, 105
xôi lại nhuộm lá gì
đỏ như mào gà.
119
Mùa hè, mỗi cành dó rủ xuống những
chùm hoa nâu, thơm loang cả rừng.
18
Trung tâm Học liệu ĐH nâu
Cần ThơDền@hé Tài
liệulênhọc
tập
nghiên cứu
mắt, nhìn
thấy...
vàngvà
nhóng
vàng
Nguyễn Thị Thu Hồng
23
MSSV: 1041319
Đảo
hoang
(tập 1)
Luận văn tốt nghiệp
xanh, bắt vào bùi nhùi thành đốm lửa 122
vàng như mọi ngọn lửa...
đống củi.
136
Tất cả đoàn thuyền đỗ lại ngoài vùng 147
nước ráng đỏ.
Bó đuốc rêu trên vai người lính đã cháy
đỏ.
103
Chỉ còn trông cái nòm đuốc đỏ mờ mờ...
ra khỏi.
đỏ
Xa nhìn đỏ khé như rặng cây nở hoa, đến
gần chỉ là bờ đá rêu đỏ.
Mon khều lửa, vùi cả bọc vào giữa đám
Trung tâm Học liệu
Những nạm lông xám ướt lờm nhờm.
nâu, đỏ
xám
xanh
24
Cũng không thấy... Chấm mắt xanh nhìn
ra.
131
Giữa khoang cái mỗi thuyền có một ông 154
đầu râu tóc bạc, áo the lam vắt vai để lộ
cái lưng vuông bè như cánh phản lim,
đóng khố điều... giã gạo.
33
Trong khi Mon... từng quả trám
xanh,
trắng, đỏ
Nguyễn Thị Thu Hồng
188
trắng, nhấm nhót, nhá lốc cốc.
Nhưng trông sang sau núi đằng kia, vẫn 24
chỉ thấy viền trắng một bãi cát dài.
24
203
vàng
xanh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần
1
Miêu tả
tính chất
tuyệt đối
Qua những ngọn cỏ ấu nhọn và
sắc tôi thấy màu trời trong xanh.
157
Cỏ non xanh rờn chân trời nước bạc
mênh mang.
202
Tôi thấy gộp mắt một bờ cỏ xanh rì.
Khi đã được thảnh thơi đứng trong bụi
dứa xanh mờ... vươn vai thở một hơi dài. 27
Bè chúng tôi không còn ở trong dòng
sông xinh đẹp hôm qua với hai bờ cỏ non 110
xanh tươi... bờ phía nào.
ThơCó@
học
tập
vàấynghiên
phảiTài
Nguyễn Thị Thu Hồng
25
107
118
120
123
MSSV: 1041319
cứu
Dế Màn
phiêu lưu
kí