Thế giới nhân vật trong truyện dân gian viết lại dành cho thiếu nhi của tô hoài luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ THỊ HỢP

THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIẾT LẠI
DÀNH CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ THỊ HỢP

THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIẾT LẠI
DÀNH CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐINH TRÍ DŨNG


2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong mảng truyện dân gian
viết lại cho thiếu nhi của Tô Hoài.................................................................40


4
2.1.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người..................................40
2.1.2. Mối quan hệ giữa quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới
nhân vật.........................................................................................................42
2.1.3. Quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Hoài..............................44
2.2. Nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài...........................66
2.2.1. Khái niệm nhân vật văn học................................................................66
2.2.2. Các loại hình nhân vật.........................................................................69
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện dân gian
viết lại dành cho thiếu nhi của Tô Hoài....................................................80
3.1. Đặt nhân vật vào các tình huống đặc biệt..............................................81
3.1.1. Tình huống thử thách..........................................................................81
3.1.2. Tình huống phiêu lưu..........................................................................85
3.2. Các chi tiết chọn lọc, sinh động.............................................................86
3.3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động của nhân vật...................89
3.4. Nghệ thuật miêu tả nội tâm....................................................................98
3.5. Ngôn ngữ đối thoại................................................................................102
KẾT LUẬN..................................................................................................105
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................107


5

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt

hồn con người, đặc biệt là lứa tuổi nhỏ và những đổi thay trong nhận thức của
con người thời đại, Tô Hoài đã “viết lại” rất nhiều những câu chuyện dân gian
tạo nên một mảng quan trọng trong sáng tác của mình - mảng truyện dân gian
viết lại dành cho thiếu nhi. Ở mảng sáng tác này, đã có một số công trình
nghiên cứu tìm hiểu. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy về phương diện thế giới
nhân vật trong các truyện dân gian dành cho thiếu nhi của Tô Hoài vẫn còn
cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống. Vì vậy chúng tôi chọn đề
tài này với hy vọng thấy rõ hơn sự giao thoa giữa văn học dân gian và văn học
viết, để thấy được tài năng chuyển hóa chất liệu dân gian của một cây bút có
đóng góp lớn cho văn học Việt Nam hiện đại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Cho tới nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về đời và
văn Tô Hoài. Trong Tập truyện Tô Hoài (1987), Hà Minh Đức đã giới thiệu
và đánh giá “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng”.
Các tập truyện Miền Tây, Truyện Tây Bắc, Núi cứu quốc của Tô Hoài
cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như: Tô Hoài
với Miền Tây của Phan Cự Đệ, Tô Hoài và Truyện Tây Bắc của Hoàng Trung
Thông... Tất cả các bài viết đều khẳng định tài năng của nhà văn.
2.2. Riêng mảng truyện viết cho thiếu nhi cũng có rất nhiều những công
trình nghiên cứu lớn nhỏ khác nhau. Trong Truyện viết về loài vật của Tô
Hoài, tác giả Hà Minh Đức đã khẳng định “Tô Hoài là nhà văn viết thành
công nhất, hấp dẫn nhất về các loại vật”.
Tác giả Phan Cự Đệ trong bài viết Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 (Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1975) nói về đặc điểm chuyện đồng


7
thoại của Tô Hoài: “Trong các chuyện đồng thoại (Con mèo lười, Chim chích
vào rừng, Cá đi ăn thề), Tô Hoài đã phát huy nhân tố tưởng tượng, phần
phong phú nhất trong tư duy các em nhỏ. Truyện đồng thoại của Tô Hoài

khát: đó là một thế giới đại đồng” [27, 465-466]
Riêng mảng truyện dân gian viết lại dành cho thiếu nhi cũng có nhiều
công trình nghiên cứu và những nhận xét, đánh giá. Tác giả Vũ Quần Phương
- Tạp chí Văn học (số 8 - 1994) viết: “Trong văn xuôi, Tô Hoài có lối đi riêng.
Ông nhảy qua các chuyện thời sự mà quay về xa xưa. Ông viết về An Tiêm,
về Loa Thành, về quân cờ đen đánh Pháp. Nhiều huyền thoại lịch sử được
ông viết lại thành truyện cho nhi đồng. Đọc ông, người ta được tắm tâm hồn
mình vào không khí Việt Nam truyền thống. Ông là người lưu giữ được nhiều
nét xưa, nhiều hương vị xưa mà không sa vào hoài cổ” [27,163].
Tác giả Hà Minh Đức - Tuyển tập Tô Hoài - tập 1 (Nxb Văn học,
H.1987) cũng nhận xét: “Đặc điểm đầu tiên dễ thấy qua những sáng tác đầu
tiên của Tô Hoài là tính dân tộc rõ nét và đậm sắc thái. Có thể nói rằng tất cả
những cái ông viết ra đều thuộc về phần bản chất và tiêu biểu của đời sống
dân tộc. Ông muốn trở về với ngọn nguồn của những truyền thuyết, thần tích,
những câu chuyện cổ để tìm hiểu sự sống của dân tộc trong thời kỳ xa xưa và
những cảm nghĩ và hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người
lao động trong quá trình đấu tranh giữ nước và dựng nước. Tô Hoài với lòng
yêu mến sâu sắc truyền thống của dân tộc đã gửi bao tâm huyết và trí sáng tạo
qua những trang viết” [27,128].
Tác giả Phan Cự Đệ tiếp tục khẳng định sự thành công ở mảng truyện
thiếu nhi của Tô Hoài là đã biết khai thác: “Những truyện cổ tích, thần thoại,
những câu chuyện thơ mộng trong văn học dân gian đã khơi dậy trí tưởng
tượng, lòng khao khát muốn hiểu biết, khám phá đến mênh mông, vô tận của
các em. Tô Hoài chủ trương viết lại câu chuyện ấy dưới một ánh sáng mới


9
nhằm giáo dục thế hệ trẻ, đồng thời cũng nhằm bồi đắp thêm vào kho truyện
huyền ảo, thi vị mà trí tuệ loài người đã để lại cho con cháu về sau” [27,94].
Trong bài Tiểu thuyết Đảo hoang của Tô Hoài”, Phan Cự Đệ đã đánh

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thế giới nhân vật trong truyện
dân gian viết lại dành cho thiếu nhi của Tô Hoài.
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Khảo sát qua bốn tập truyện: 101 chuyện ngày xưa, Nhà Chử, Đảo
hoang và Chuyện nỏ thần.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu vị trí của mảng truyện dân gian viết lại dành cho thiếu nhi
trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài.
- Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật
trong truyện dân gian viết lại dành cho thiếu nhi của Tô Hoài.
- Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện dân gian viết lại
dành cho thiếu nhi của Tô Hoài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp xã hội -lịch sử.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân loại, thống kê.
6. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của người đi trước, chúng tôi cố
gắng chỉ ra những đặc điểm riêng về thế giới nhân vật của Tô Hoài trong
truyện dân gian viết lại, quan niệm con người, sự kế thừa và sáng tạo của Tô
Hoài từ các nhân vật có trong “chuyện xưa” và nghệ thuật xây dựng nhân vật
độc đáo của ông.


11
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

một cái lốp ô tô, rồi nhìn ra cửa, nhớ nhà; để cuối năm mới được về với cái
đầu bị hắc lào mốc trắng mà chẳng có lấy một hột chữ nào nhét vào bụng.
Được về với mẹ, với bà ngoại và các dì, và với việc cõng em, đó mới chính là
niềm vui của Cu Bưởi, bởi tiếng là đi học nhưng thực ra là đi ở" [27,38]. Và
rồi “bắt đầu những ngày lêu lổng... rồi ngày sau tôi thành anh thợ dệt cửi như
những đứa trẻ khác trong làng” [27,38]. Nhưng cuối cùng, anh thợ dệt “Cu
Bưởi” lại trở thành người viết văn, thành nhà văn tài năng.


13
Sau này, hồi ức về tuổi thơ, về quê hương đã trở thành một mạch nguồn
cảm hứng bất tận. Trong kí ức vẫn còn nguyên vẹn một hình ảnh ông thầy
giáo Tỏi cùng với lũ trò tinh quái trong cảnh thiếu ăn và nghèo chữ của họ.
Cảnh thầy phạt trò bằng cách cho chúng tát vào mặt nhau bôm bốp, hay cái
ngày mà anh thanh niên thất nghiệp đi Hải Phòng tìm việc rê rê ngón chân
cho chạm được vào bàn chân cô gái điếm còm nhom ngồi trước mặt... Ông
viết nhiều nhất về gia đình và bản thân. Trong bài trả lời phỏng vấn trên báo
Kiến thức ngày nay, Tô Hoài nói: “Tuy viết lâu năm, viết nhiều, cho đến bây
giờ đề tài chủ yếu vẫn là viết về người ngoại thành Hà Nội. Ở trong làng,
xung quanh cứ tự nhiên mà vào mình, và mình đã lớn lên, đã sống và hoạt
động trong đó. Còn kỉ niệm nào sâu sắc hơn những sự việc mà chính mình
từng trải” [27,37]. Mạch nguồn về tuổi thơ, về gia đình cứ thế chảy tự nhiên
trong ông.
Vùng quê ngoại ô cũng trở đi trở lại nhiều lần trong sáng tác của Tô
Hoài. Ấn tượng về những con người sống nghèo khổ, những phong tục tập
quán, sự chiến đấu anh dũng của họ trong cuộc kháng chiến khiến Tô Hoài
không thể nào quên. Tác giả Trần Hữu Tá nhận xét: “Tô Hoài có riêng một
vùng ngoại thành cần lao, nhưng thơ mộng gắn với ông từ thuở lọt lòng. Nhà
văn hiểu nó đến tận chân tơ kẽ tóc, từ nghề dệt lĩnh đến nghề lam giấy, từ hội
hè đình đám đến chợ búa, tết nhất, từ phong tục tập quán xưa cũ đến cả quá

Mường (1954), Tào Lường (1955), Miền Tây (1967)... Đồng thời cũng trong
thời gian này tác giả có dịp sưu tầm được những câu chuyện cổ tích, truyền
thuyết của các dân tộc khác nhau để “viết lại” theo cách nghĩ, cách lí giải của
riêng mình.
Những năm miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, không ít nhà văn
hăm hở tham gia. Tô Hoài là một trong số đó. Ông không chỉ viết văn mà còn
trực tiếp tham gia vào công cuộc xây dựng. Nhờ đó có thêm nhiều vốn sống


15
và những kinh nghiệm quý báu. Tiểu thuyết Ba người khác (1992) là một
thành công của ông trong giai đoạn này.
Cả cuộc đời, hơn 60 năm cầm bút, Tô Hoài luôn cần mẫn như con ong
nhặt chữ. Những câu chữ nhà văn góp nhặt được sàng lọc ngặt nghèo qua ý
thức, trách nhiệm nghề nghiệp mà nhà văn luôn đặt lên hàng đầu. Dù viết cho
đối tượng nào, viết về đề tài, chủ đề gì Tô Hoài cũng không một phút lơ là,
qua quýt. Ông được đồng nghiệp đánh giá “là nhà văn giàu chất chuyên
nghiệp bậc nhất. Sống đến đâu, viết đến đấy. Việc viết lách đối với ông là một
thứ lao động hàng ngày” [26,182]. Suốt cuộc đời lao động nghệ thuật, ông để
lại cho người đọc, cho bạn văn một ấn tượng đẹp đẽ, một sự trân trọng,
ngưỡng mộ. Ông là tấm gương về tinh thân say mê lao động và tinh thần tự
học, tự trau dồi kiến thức và vốn sống cho nghề nghiệp của mình. Ông như
một cái cây rất khỏe mà bất cứ mảnh đất nào dù cằn cỗi đến đâu cũng có thể
sống và tốt tươi được. Bởi vậy, “nếu đóng góp của một nhà văn nào vào nền
văn học dân tộc, vào đời sống tinh thần của cộng đồng là ở phong cách, ở
khối lượng và chất lượng tác phẩm thì có thể nói Tô Hoài là một trong những
đời văn đẹp của Văn học Việt Nam đương đại” [27,208].
1.1.2. Tô Hoài, ngòi bút đa dạng và thành công trên nhiều mảng
sáng tác
Tô Hoài đã có một quá trình viết bền bỉ, liên tục không ngừng nghỉ,

cuộc đời và tình người. Yếu tố quan trọng bậc nhất làm nên một truyện ngắn
hay là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều
ẩn ý, tạo cho tác phẩm có chiều sâu.
Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ
đọc và có tác dụng ảnh hưởng sâu sắc, kịp thời trong đời sống. Ở Việt Nam và
trên thế giới đã có rất nhiều những nhà văn gặt hái thành công trong địa hạt
truyện ngắn. Trong đó, Tô Hoài là một nhà văn tiêu biểu với nhiều thành công
to lớn.


17
Dường như Tô Hoài xuất hiện trong làng văn là đã bén duyên ngay
cùng truyện ngắn với sáng tác đầu tiên được đăng báo là truyện ngắn Nước
lên đăng trên Hà Nội Tân văn. Với ý thức coi trọng nghề văn nên những trang
truyện ngắn của nhà văn này ta thấy sự tuân theo một cách nghiêm ngặt đặc
trưng thể loại nhưng vẫn thấy một phong cách độc đáo của riêng Tô Hoài.
Trước Cách mạng tháng Tám, có thời kỳ ông viết như chạy đua. Trong
khoảng thời gian “trong ngoài ba năm” mà ông đã cho ra đời đến gần 30 tác
phẩm, trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như: Cu Lặc (1941), Nhà nghèo
(1942), Vợ chồng trẻ con (1942), Đực (1942)... Mỗi truyện ngắn thể hiện một
chủ đề khác nhau nhưng thường tập trung ở hai đề tài chính là quê hương và
thế giới động vật trong tập truyện dành cho thiếu nhi. Dù viết ở đề tài nào,
nhà văn cũng khẳng định được tài năng viết truyện ngắn tài tình của mình. Ở
đó, thể hiện bằng những tình huống hấp dẫn, những chi tiết đắt giá. Như trong
Nhà nghèo (1942) đã gây ấn tượng sâu sắc bởi một chuỗi những chi tiết hay:
chi tiết Duyện (người chồng) trong cuộc cãi cọ với vợ đã đòi đốt nhà nhưng
loay hoay mãi mà không tìm ra lửa (bởi mỗi khi thổi cơm, cái Gái vẫn phải ra
tận đầu xóm xin lửa). Duyện tức điên lên dọa: “Mày tưởng ông sợ à? Ông đi
xin lửa cho mà xem”. Chi tiết bếp không lửa và Duyện đòi đi xin lửa đốt nhà
là một sáng tạo độc đáo của nhà văn. Ngọn lửa trong Duyện bị dập tắt cũng

văn xuôi. Tức là tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng
hóa mà miêu tả cuộc sống như nó vốn có với bao nhiêu sự bộn bề, ngổn
ngang, có cái tốt, cái đẹp nhưng cũng có cái xấu, cái nham nhở, có cái cao cả,
cũng có cả cái tầm thường... Con người sống trong cuộc sống ấy (hay nhân
vật) đều là những con người nếm trải, chiêm nghiệm, suy nghĩ, tư duy, chịu
nhiều đau khổ. Những con người ấy biến đổi theo hoàn cảnh, trưởng thành
theo từng bước của cuộc đời. Khác với truyện ngắn và truyện vừa thường chú
ý đến thành phần chính là cốt truyện thì tiểu thuyết không phải chỉ là cốt


19
truyện. Ngoài hệ thống sự kiện, biến cố và các chi tiết, tiểu thuyết miêu tả
suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến
tình cảm, trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ
giữa người với người. Đây cũng là thể loại “dân chủ” nhất, cho phép người
trần thuật có thể có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã với nhân vật của mình
và cũng là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng
nghệ thuật của các thể loại văn học khác.
Một nhà văn viết khỏe như Tô Hoài đã tìm thấy ở tiểu thuyết một mảnh
đất thỏa sức cày sới. Từ trước cách mạng, ông đã viết tiểu thuyết và góp vào
dòng tiểu thuyết hiện thực phê phán 1930 - 1945 cùng với những cây bút nổi
tiếng khác như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố... Ông để lại những
tác phẩm nổi bật về quê hương, đất nước, con người như: Quê người (1942),
Xóm giếng ngày xưa (1942)... Sau năm 1945, thể tài này vẫn còn nhiều sức
hấp dẫn đối với Tô Hoài. Ông tiếp tục viết về những miền quê, những con
người với các tác phẩm tiêu biểu như: Mười năm (1958), Miền Tây (1967),
Quê nhà (1980), Nhớ Mai Châu (1988)... Mặc dù cũng có những thăng trầm,
những đánh giá khen chê, chỗ được và chỗ chưa được nhưng nhìn chung tiểu
thuyết vẫn là một thành công trong sự nghiệp của tác giả.
Những trang tiểu thuyết của Tô Hoài (chủ yếu là viết về làng quê Nghĩa

thể hiện tài năng của Tô Hoài. Dù cho ranh giới giữa nó với tiểu thuyết chỉ là
tương đối nhưng bản thân thể tài này vẫn có nhiều những nét riêng.
Truyện vừa là thể loại văn xuôi cỡ trung bình. Phạm vi phản ánh đời
sống thể loại này vẫn rất rộng nhưng so với tiểu thuyết trần thuật thường cô
đọng hơn, hàm súc hơn, bám sát sự phát triển của cốt truyện, đặc điểm nhân
vật. Thế giới truyện vừa được tái hiện trong một khoảng cách xa hơn tiểu
thuyết nên không có những miêu tả chi tiết, tường tận như tiểu thuyết. Cũng
chính vì vậy mà người ta nhận thấy sự trần thuật của truyện vừa gần với anh


21
hùng ca cổ đại, ít xoáy sâu vào các tình thế bi thảm mang kịch tính gay gắt.
Câu văn của truyện vừa thường giản dị, gọn gàng, sáng rõ làm cho tiến độ
trần thuật “nhanh” hơn tiểu thuyết. Bởi thế, đối tượng truyện vừa hướng đến
là các sự kiện, các cuộc đời đặc sắc hay các hiện tượng đời sống nổi bật chứ ít
miêu tả quá trình vận động của tính cách, của các mối quan hệ.
Tô Hoài không viết nhiều ở thể tài này. Giăng thề (1942) được xem là
tác phẩm truyện vừa thành công nhất của ông. Giăng thề xoay quanh câu
chuyện của ba nhà giáo Răng, Kền, Hoạch với cuộc sống túng quẫn. Cuộc
sống lay lắt, tẻ nhạt, tù túng của những con người này được nhà văn miêu tả
cụ thể và tỉ mỉ, chi tiết. Khi viết truyện vừa, nhà văn không chỉ quan tâm đến
thể hiện tính cách nhân vật mà còn chú ý nhiều đến sự vận động, phát triển
của cốt truyện qua các chi tiết, sự kiện của nhân vật. Bởi vậy, các sự kiện đảm
nhận một lúc hai vai trò: thể hiện nhân vật và phát triển cốt truyện. Nhà văn
đặc biệt chú ý đến cuộc tình giữa giáo Câu và cô Miến. Tình yêu trong sáng,
lãng mạn dưới sự soi sáng của ánh trăng tròn viên mãn nơi quê nhà. Và ánh
trăng cũng chính là nhân chứng chứng kiến sự thay đổi của Miến. Lúc này
ánh trăng thề lại trở thành người bạn chia sẻ tâm tình của Câu. Đó là tất cả sự
kiện nổi bật góp phần làm nên sự vận động của câu chuyện này. Tâm lý, tính
cách của nhân vật không quá phức tạp, không có những trăn trở, giằng xé mà

thói quen của tầng lớp tuổi tôi ở làng”. Đến tuổi trưởng thành thì phải làm
nhiều nghề để kiếm sống. Có những lúc bế tắc, khốn khổ. Chính trong hoàn
cảnh đó, ông đã được tận mắt chứng kiến sự buồn thảm, đen tối của xã hội
khiến sự xót thương những con người cùng khổ bất hạnh và nỗi thương chính
bản thân mình trong con người nhà văn từng ngày lớn dần lên biến thành nỗi
khát khao đổi thay.
Bên cạnh những trang viết về chính bản thân mình, Tô Hoài còn viết về
chân dung những người nghệ sỹ. Với cái nhìn nhân bản đời thường ấy, nhà


23
văn đã rút ngắn đến mức thấp nhất khoảng cách giữa người đọc với người kể,
giúp chúng ta tiếp cận, được bước vào một thế giới đời thường phía sau thế
giới nghệ thuật lung linh. Cái nhìn, cách hiểu về con người các nghệ sỹ mà Tô
Hoài cung cấp giúp bạn đọc hiểu hơn về tác phẩm của họ, như Nguyễn Tuân,
Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính...
Hồi ký là lối văn nói về chính cái Tôi, nói về bản thân tác giả. Song với
Tô Hoài, hồi ký còn là rất nhiều những cuộc đời, những phong tục, những
miền đất nơi ông có dịp đến... Qua những câu chuyện kể về cuộc đời riêng,
những kỉ niệm, hồi tưởng của bản thân, ông nhằm nói về một cuộc đời chung.
Sự hòa nhập những câu chuyện riêng cuộc đời ông vào cuộc đời chung đã làm
nên đặc trưng phản ánh hiện thực của hồi kí Tô Hoài. Ông trung thành với sự
thực, một sự thực không tô vẽ bởi ông quan niệm “sự thật là đã đẹp rồi”. Và
đã đẹp thì không cần phải thêm bớt, phải tô vẽ gì nữa. Đọc hồi ký Tô Hoài
những chuyện mình, chuyện đời, chuyện người hiện lên chân thưc, rõ nét như
chính bản thân những đối tượng ấy đang sống lại cuộc sống đó trước mắt bạn
đọc. Đó cũng chính là một nét riêng không hòa lẫn, một nét rất Tô Hoài.
Tập hồi ký đầu tiên ông viết ở buổi mới vào nghề là Cỏ dại, khi ông
mới ngoài hai mươi, tiếp đến là Tự truyện ở tuổi năm mươi, Những gương
mặt - chân dung văn học, Cát bụi chân ai, Chiều chiều ở cái tuổi “thất thập”.

tượng với những nhân vật tưởng tượng thì tạp văn có lúc nhân vật chính là
mình, nói tiếng nói của chính mình, giải tỏa được nhiều tâm tư tình cảm của
mình.” Là ý kiến của Nguyễn Ngọc Tư khi được hỏi tại sao lại chọn tạp văn.
Còn họa sĩ - nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng thì cho rằng: “Tạp văn
thú vị vì nó cho người viết thoải mái với đối tượng, không câu nệ về bố cục
viết và có thể viết rất mâu thuẫn, những ý trái ngược nhau trong cùng một bài
và ngắn dài thế nào cũng được” [46].
Cho đến nay, có những cách hiểu khác nhau về tạp văn. Tuy nhiên các
ý kiến đều có những điểm chung: Tạp văn là thể loại ngắn gọn, hàm súc, linh


25
hoạt phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại. Nội dung của tạp
văn khá phong phú da dạng, có thể là vấn đề chính trị - xã hội mang tính
chính luận sắc sảo, cũng có thể là những trang viết giàu cảm xúc trữ tình. Tạp
văn thường chớp lấy một ý nghĩ, khoảnh khắc suy tư, một thoáng liên tưởng
bất ngờ, độc đáo, đậm dấu ấn cá nhân của tác giả.
Tạp bút cũng là một thể loại mang những nội dung tương tự như tạp
văn. Giữa tạp văn, tạp bút và tản văn là một ranh giới mờ nhạt, khó xác định.
Trong những tác phẩm của Tô Hoài, dường như tác giả cũng không quan tâm
nhiều đến ranh giới này. Trong mảng sáng tác này, Tô Hoài viết nhiều về Hà
Nội, về phong cảnh thiên nhiên, con người nơi đây. Những thói quen, tập tục
tốt đẹp của người Hà Nội và có cả những ảnh hưởng của đời sống mới dẫn
đến những đổi thay không mong muốn ở con người. Ông còn ngợi ca văn hoá
cổ truyền, vẻ đẹp của nhiều phong tục như tết rằm (Tết rằm), những phong tục
trong hội làng (Hội làng), tục nặn tò he (Con tò he)… Nói chung, trong mảng
sáng tác này, tác giả quan tâm nhiều đến đời sống và con người xung quanh
mình. Bằng sự quan sát tinh tế và nhạy bén với thời cuộc, Tô Hoài đã “chớp”
được nhiều cảnh sống động vào tác phẩm tạp văn, tạp bút của mình. Dù viết
về nhiều câu chuyện, nhiều vấn đề khác nhau nhưng những gì ông thể hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status