BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THU HÀ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THU HÀ
văn và nhà trường đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS.
Phùng Gia Thế, người thầy đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn nhà văn Võ Thị Xuân Hà, các nhà văn, nhà
phê bình văn học đã đăng tải bài viết, giúp đỡ tư liệu.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của TS. Phùng Gia Thế.
- Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực,
không trùng lặp với các đề tài khác. Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn
đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
CHƯƠNG 2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ 26
2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Võ Thị
Xuân Hà 26
2.1.1. Con người luôn luôn đi tìm cái Đẹp và hướng tới cái Thiện 27
2.1.2. Con người phức tạp bí ẩn 29
2.1.3. Con người luôn tự nhận thức 36
2.1.4. Con người với sự trải nghiệm nỗi đau 36
2.2. Các loại nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 37
2.2.1. Nhân vật bi kịch 37
2.2.2 Nhân vật cô đơn 49
2.2.3. Nhân vật tha hóa 60
CHƯƠNG 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ XUÂN HÀ 69
3.1. Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật 69
3.2. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện 78
3.3. Nghệ thuật "phi điển hình hóa" 83
3.4. Nghệ thuật thể hiện đối thoại 84
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam từ sau năm 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội
Đảng VI (1986) đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ và đạt được nhiều
thành tựu to lớn. Góp phần không nhỏ vào sự thành công này phải kể đến một
đội ngũ ngày càng đông đảo các nhà văn nữ. Trong số họ không ít người đã
trong số đó chưa có công trình nào đi sâu, tìm hiểu về thế giới nhân vật - một
trong những điểm nhấn nổi bật nhất trong truyện ngắn của chị.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà”. Theo
chúng tôi, đây là con đường đúng đắn, hợp lí nhất để tìm hiểu những nét đặc
sắc trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà và qua đó ghi nhận những đóng góp
của nhà văn vào đời sống văn xuôi Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Võ Thị Xuân Hà xuất hiện trên văn đàn từ khá sớm. Cho đến nay, chị
đã gặt hái được những thành công nhất định. Tác phẩm của chị đã có một vị
trí trên văn đàn cũng như trong lòng bạn đọc. Trên thực tế, đã có không ít
những bài nghiên cứu về tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà nói chung, truyện
ngắn của nhà văn nói riêng. Phần lớn trong số đó là các bài cảm nhận chung
hoặc phân tích những tác phẩm riêng lẻ của nhà văn.
Nhận xét về sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, tác giả Hàn Thủy Giang
trong bài “Võ Thị Xuân Hà - người sống trên đất lặng lẽ” cho rằng một
nguyên nhân quan trọng khiến cho truyện của chị hấp dẫn chính là dấu ấn chủ
quan của tác giả trong sáng tác: “Nghĩ về chị tôi cứ nghĩ đến một người sống
trên đất mà như đi trên dây, tất nhiên không phải đang làm xiếc. Nếu đứng lại
3
nhìn ngó xung quanh sẽ ngã lộn cổ. Bởi vậy chị cứ đi, đi một cách đầy chủ
quan, vì nếu chị khách quan - đó sẽ là một cú ngã. Và có lẽ tôi yêu mến chị,
yêu văn chị chính bởi vì nét chủ quan ấy” [12]. Phân tích sáng tác của Võ Thị
Xuân Hà, Hàn Thủy Giang cũng khẳng định vẻ đẹp của lòng nhân hậu trong
sáng tác của nữ nhà văn: “Có một điều, tôi nghĩ, đã giúp văn của chị được
người ta chú ý. Đó là chị đã tìm được cách thể hiện tình nhân ái qua những
chi tiết nhỏ, tinh tế, những chi tiết đôi khi nhiều người không chú ý tới" [12].
Trong bài “Võ Thị Xuân Hà: Viết để đỡ đau đớn hơn khi nhìn thực tế”,
tác giả Hiền Hòa cho rằng truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà có một sự đa dạng
bỏng thiếu phụ. Như đất khát khao sinh sôi nảy nở dâng hiến mỡ màu cho
cây, người đàn bà dâng hiến tình yêu. Tình yêu tìm đến người đàn bà như hạt
giống tìm về với đất” [4]. Trên cơ sở tổng hợp rộng hơn từ các tập truyện
ngắn của Võ Thị Xuân Hà, nhà văn Thiên Sơn cho rằng: “Sáng tác của Võ
Thị Xuân Hà theo ba hướng chính: đi vào bí ẩn nội tâm, với bút pháp phân
tích tâm lý sắc sảo; đi vào hiện thực xã hội với những vấn đề bức xúc và
những phận người bất hạnh; đi vào tâm linh với những huyền bí của tiền kiếp,
của luân hồi, những dự cảm về nhân quả kiếp người. Và càng ngày chị càng
tiếp tục mở rộng đề tài, không ngại thể nghiệm những hình thức mới, dấn sâu
vào tâm linh và tiềm thức” [40] .
Bàn về hình tượng nhân vật phụ nữ trong sáng tác Võ Thị Xuân Hà,
nhà văn Hà Phạm Phú trong bài Ngôi nhà gương của Võ Thị Xuân Hà viết:
"Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà không có một làng quê chung rõ
rệt, kẻ thì ở miền biển, người thì ở miền rừng, người thì trong thành phố…
Những người đàn bà ấy cười nói, đi đứng, yêu đương vụng trộm, sung sướng
và căm giận không hiểu sao lại làm cho lòng ta xáo động, đánh thức nỗi buồn
chìm sâu và ngủ yên trong đáy tim mình từ bao năm, êm ái lan tỏa, thấm dần
5
vào từng huyết quản”; “Thế giới đàn bà của Xuân Hà là một thế giới riêng,
không lẫn vào ai. Những người đàn bà của chị hình như cũng là sự xáo trộn
giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỷ, rất tự tin nhưng
cũng dễ bị cám dỗ, sống yên phận nhưng lại không chịu yên với số phận đã an
bài. Một người phụ nữ là một bí ẩn” [39].
Nhận xét về sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, trong giới thiệu tập truyện
Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, tác giả Thủy Bình cho rằng: “Nếu
so với những Tường thành, Trong nước giá lạnh thì Cái vạc vàng có đòn
khiêng bằng kim khí dường như ít đời thường, lạ hơn, ma quái hơn. Ngay cả
trong những mẩu truyện có vẻ bề ngoài rất bình thường, rất đời sống, người ta
vẫn cảm thấy đâu đó có ý vị liêu trai, kỳ ảo. Nhiều truyện phảng phất hình
không chỉ bởi sự trong sáng của nội dung mà còn bởi cái hồn riêng mà Võ Thị
Xuân Hà tạo ra cho tác phẩm: “Lúa hát với không khí truyện và cách dùng
ngôn từ trong trẻo, đã tạo nên một tác phẩm về nông thôn Việt Nam điển
hình” [48]. Chính vì làm được điều này, nên theo quan điểm của nhà phê
bình, tác giả truyện ngắn đã tạo nên một “kỳ tích”: “Nhiệm vụ của nhà văn là
phải làm đẹp cho câu chữ của dân tộc. Võ Thị Xuân Hà, với Lúa hát đã làm
nên được kỳ tích đó” [48] .
Có thể khẳng định, những ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học đã đề cập đến khá nhiều phương diện đặc sắc trong tác phẩm của Võ Thị
Xuân Hà. Tuy nhiên, hầu hết trong số đó vẫn chưa nghiên cứu có hệ thống về
thế giới nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà hay đánh giá một cách
tổng quát về sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Cùng với các bài viết về một tác phẩm cụ thể, hoặc những bài khái quát
giới thiệu các tập truyện, việc nghiên cứu truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà đến
thời điểm này đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu. Có thể kể đến
7
các luận văn thạc sĩ như: “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân
Hà” của Bùi Tuấn Ninh (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011), “Thi pháp truyện
ngắn Võ Thị Xuân Hà” của Phan Thị Huyền (Đại học Sư phạm Hà Nội,
2012)
Kế thừa những ý kiến của người đi trước, trong luận văn này, chúng tôi
sẽ tập trung khảo sát những đặc sắc của thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà, trong đó nhấn mạnh vào việc chỉ ra mối tương quan giữa
quan niệm nghệ thuật về con người với cách thiết tạo thế giới nhân vật của
nhà văn.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu những nét đặc sắc của thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà.
- Khẳng định tài năng và những đóng góp của Võ Thị Xuân Hà vào tiến
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, phần Nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về nhân vật văn học và một số đặc điểm của nhân
vật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2. Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật
trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị
Xuân Hà.
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Khái quát về nhân vật văn học
1.1.1. Khái quát về nhân vật văn học và nhân vật truyện ngắn
1.1.1.1. Phương diện từ ngữ, thuật ngữ
Thuật ngữ "nhân vật" xuất hiện từ rất sớm. Trong tiếng Hy Lạp cổ,
"nhân vật" (đọc là persona) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn
viên trên sân khấu. Theo thời gian, thuật ngữ này đã được sử dụng với tần số
nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể
hiện trong tác phẩm.
Hiểu theo nghĩa rộng, "nhân vật" là khái niệm không chỉ dùng trong
văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện
ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì nhân vật là khái niệm được hiểu
theo hai nghĩa:
Thứ nhất, nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả,
có khi chỉ sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà
chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm. Nhân vật văn học là một hiện
tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận biết" [30; tr. 277].
Giáo trình Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên định nghĩa:
"Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không
phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện đầy đủ của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính
11
cách và cần chú ý thêm một điều: Thực ra khái niệm nhân vật thường được
quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là những con
người, những con người có tên và không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ
xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác ít
nhiều mang bóng dáng, tính cách con người Cũng có khi đó không phải là
những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc
liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm" [11; Tr102].
Khái niệm nhân vật văn học còn được trình bày sáng rõ trong cuốn Từ
điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng
chủ biên) với nội dung cơ bản giống với cách định nghĩa trong cuốn Lí luận
văn học do Phương Lựu chủ biên: "Nhân vật văn học là con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng
(Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên riêng. Khái niệm
nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con
người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm.
Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với
con người có thật trong đời sống" [18; Tr235].
Nói tóm lại, các nhà nghiên cứu lí luận văn học bằng cách này hay cách
khác khi định nghĩa nhân vật văn học vẫn căn bản gặp nhau ở những nội hàm
không thể thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, nó phải là đối tượng mà văn học
miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người
gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người). Thế giới là nguồn gốc
của nhận thức.
Theo nghĩa hẹp, thế giới dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là
toàn bộ thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu. Người ta đã chia bộ
phận thế giới vật chất đó ra thành hai lĩnh vực nhưng không có ranh giới tuyệt
đối: thế giới vĩ mô và thế giới vi mô.
13
Có thể xem “thế giới nhân vật” là một phạm trù có hàm nghĩa rất rộng.
Nó là tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của
nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả. Thế giới ấy cũng mang tính
chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ chức và sức sống riêng,
phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ. Nằm trong thế giới nghệ
thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của trí tưởng
tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học, trong
sáng tạo nghệ thuật. Đó là một mô hình nghệ thuật, có cấu trúc riêng, có qui
luật riêng thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, thời gian, không gian, xã
hội Thế giới nhân vật là cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc
của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan
hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của họ trong
cách đối nhân xử thế, trong giao lưu xã hội, gia đình Thế giới nhân vật vì
vậy bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật. Con người trong văn học
chẳng những không giống với con người thực tại về tâm lí, hoạt động mà còn
có ý nghĩa khái quát, tượng trưng. Trong thế giới nhân vật, người ta có thể
chia thành các kiểu nhân vật nhỏ hơn dựa vào những tiêu chí nhất định.
Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khóa để bước qua
cánh của và bước vào khám phá thế giới nhân vật đó. Do đó, nghiên cứu thế
giới nhân vật cũng khác với phân tích hình tượng nhân vật. Trong lịch sử văn
học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng. Mỗi thể loại
văn học cũng có thế giới nhân vật với qui luật riêng của nó.
Thư tư, quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các
yếu tố thuộc hình thức tác phẩm.
Hiểu được vai trò chức năng của nhân vật văn học, người viết sẽ có
thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này.
15
1.2. Một số đổi mới về nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986
1.2.1. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và đặc điểm cấu trúc
nhân vật
“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con
người”. Nhận xét trên của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói lên được sứ mệnh
cao cả của văn chương là phản ánh một cách sinh động và trung thực về con
người.
Quả thực, trong các yếu tố thể hiện sự vận động, phát triển của văn học,
yếu tố con người trong văn học có ý nghĩa hơn cả. Viện sĩ M.B. Kharapchenco
cho rằng: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên
ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ
sỹ thực thụ, không tồn tại bên ngoài các đặc điểm về tư duy hình tượng, bút
pháp sáng tác của nghệ sĩ” [42; Tr320]. Nghĩa là, trong khi phản ánh đời
sống, nghệ sĩ thể hiện cái nhìn chủ quan của mình đối với các hiện tượng và
từ đó bộc lộ ý nghĩa của đời sống. Như thế, con người vừa là đối tượng nhận
thức chủ yếu của văn học, vừa là cái đích để sáng tạo văn học hướng đến. Các
sáng tạo về phương pháp, phong cách, thể loại, ngôn ngữ, kết cấu chung quy
đều góp phần tạo nên những hình tượng nghệ thuật mới mẻ, có chiều sâu. Con
người trong văn học, do đó là nơi thể hiện trình độ tổng hợp của nhận thức và
thể hiện nghệ thuật, là phương pháp sáng tác, phong cách, thế giới quan trong
sự vận động.
Ngoài việc mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu văn học, thi pháp
học còn mở ra một cánh cửa cho việc tìm hiểu, nghiên cứu con người trong
văn học. Các nhà thi pháp học cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người
văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan
niệm về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các
17
tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng. Như vậy, có thể
khẳng định rằng độc giả sẽ không chỉ thấy được một phần bức tranh cuộc sống
vốn rất đa dạng mà còn hiểu được cả những thế giới quan, nhân sinh quan của
nhà văn thông qua việc tìm hiểu, đánh giá nhân vật văn học.
Giai đoạn trước 1986, nhân vật trong văn học Việt Nam còn chịu ảnh
hưởng sâu sắc của kiểu xây dựng nhân vật truyền thống. Nhân vật trong văn
học Việt Nam nói chung và nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam nói riêng
nhìn chung là kiểu nhân vật loại hình. Ở đây, con người trong văn học được
nhìn chủ yếu ở góc độ con người cộng đồng, con người công dân với những
nét tính cách nhìn chung đơn giản, xuôi chiều, hoặc tốt hoặc xấu rất rành
mạch. Cũng vì đề cao chức năng phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc
nên hình tượng nhân vật trung tâm giai đoạn này thường là người chiến sĩ,
công nhân, nông dân. Các tác phẩm văn học thời kỳ này chủ yếu mang
khuynh hướng sử thi nên hình tượng nhân vật luôn hiện lên với tư thế con
người của cộng đồng, con người xả thân vì nghĩa lớn. Cũng vì vậy mà con
người trong văn học thời kỳ này quen sống trong quần thể ít có dịp đối diện
với chính mình.
Từ sau năm 1975 trở đi, nhất là từ Đại hội Đảng VI năm 1986, văn học
Việt Nam đã có những biểu hiện đổi mới nhất định trong cách nhìn nhận về
con người. Các nhà văn thời kỳ này dù đề cập đến những kiểu nhân vật cũ
như người lính, người nông dân, người vợ, người mẹ nhưng cách khai thác
nhân vật đã trở nên đa chiều chứ không đơn giản như trước nữa. Nhân vật
trong thời kỳ này được các tác giả khai thác một cách toàn diện cả về số phận,
tính cách và được đặt trong hiện thực cuộc sống với đầy rẫy những bề bộn,
trái ngang. Lúc này, thay vì cái nhìn giản đơn, phân định rạch ròi các giá trị
trong cuộc sống như thiện ác, tốt xấu, bạn thù , các nhà văn thể hiện một cái
19
Thứ hai, nhân vật không có số phận tròn trịa như trong văn xuôi truyền
thống mà bị phân mảnh, đôi khi bị phá vỡ chỉ còn là những mảnh nhỏ của tâm
trạng, những khoảnh khắc cuộc đời ngắn ngủi, những dòng ý thức - tiềm thức
- vô thức kéo dài miên man không có điểm dừng.
Thứ ba, nhân vật không có tính cách hay số phận điển hình mà chỉ là
những con người bình thường vô danh trong cuộc sống. Nhân vật là đủ mọi
thứ hạng người trong cuộc sống.
Thứ tư, nhân vật là những cá thể đời thường, những con người đang
trong quá trình hình thành về nhân cách, được thể hiện trong tất cả các mối
quan hệ xã hội, quan hệ ứng xử, đời sống riêng của nó.
Thứ năm, nghệ thuật xây dựng nhân vật truyện ngắn hiện đại có nhiều
cách tân với những thử nghiệm táo bạo, thậm chí mạo hiểm, bởi các nhà văn
nhận thấy những thủ pháp truyền thống đã không còn đủ khả năng biểu hiện
cái đa dạng, phức tạp của con người, trong đời sống hiện đại.
Đổi mới trong cách tiếp cận và xây dựng nhân vật trong văn xuôi Việt
Nam trong những năm gần đây là nhu cầu tất yếu. Điều này xuất phát từ ba
nguyên nhân cơ bản sau: Trước hết, yêu cầu đổi mới khẳng định mình được
đặt ra như một đòi hỏi với những tác giả thời hiện đại. Kế đến cần phải kể tới
sự ảnh hưởng của văn chương hiện đại và hậu hiện đại thế giới về phương
diện cảm quan đời sống và thủ pháp xây dựng nhân vật. Hơn nữa, sự thay đổi
trong quan niệm, cách nhìn nhận và đánh giá con người cho phù hợp với hoàn
cảnh lịch sử - xã hội mới, sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về văn xuôi
cũng chi phối không nhỏ tới cách thức tạo dựng và khai thác nhân vật.
1.2.2. Đổi mới về thi pháp xây dựng nhân vật
1.2.2.1.Về không gian nghệ thuật
Cùng với thời gian, không gian là một khái niệm dùng để chỉ hình thức
tồn tại của thế giới. Không có gì tồn tại bên ngoài không gian. Tác phẩm văn