Tìm hiểu tính từ chỉ màu sắc trong truyện ngắn của thạch lam - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN


NGUYỄN KIÊN NHẨN

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Niên khóa: 2007 – 2011


Cán bộ hướng dẫn: GV. NGUYỄN VĂN TƯ

Cần Thơ, năm 2011


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ loại là một trong những lĩnh vực của ngữ pháp học nói chung và ngữ pháp tiếng
Việt nói riêng. Riêng đối với tiếng Việt của chúng ta thì từ loại càng có nhiều điều cần
chú ý. Thật vậy, mỗi ngôn ngữ điều có một vốn từ vựng riêng rất lớn và phức tạp. Do
khối lượng, tính chất, chức năng của mỗi vốn từ rất đa dạng, nó khiến cho những ai quan
tâm đến, nghiên cứu về nó điều phải tiến hành phân loại từ theo mục đích riêng và khác
nhau của mỗi người. Cũng do nhiều mục đích khác nhau này của các nhà ngôn ngữ học
mà việc phân định từ loại cho đến ngày nay vẫn chưa có sự thống nhất nhất định. Và ngày
nay đề tài này vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều người không chỉ đối với các nhà
Việt ngữ mà còn đối với những người quan tâm đến sự phong phú, giàu đẹp đến kì lạ của
tiếng Việt.
Được học văn và tìm hiểu về văn chương nên chúng tôi càng yêu mến tiếng Việt


2. Lịch sử vấn đề
Tính từ là từ loại rất quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt của chúng ta. Và từ
trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của những nhà Việt ngữ về đề tài
này.
Các nhà Đông phương học cho rằng tính từ trong các ngôn ngữ đơn lập có khuynh
hướng gần với động từ về phương diện đặc điểm cú pháp về khả năng kết hợp và chức
năng thành phần câu.
Người đầu tiên mà chúng ta cần nhắc đến đó là Đào Thản, ông là một trong những
người có nhiều đóng góp trong việc xác lập hệ thống tính từ mà cụ thể là hệ thống lớp từ
chỉ màu sắc. Trong bài viết “Hệ thống từ chỉ màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với
mấy điều phổ quát” [15;11], ông đã đưa ra một số kết luận trong tiếng Việt. Trong đó ông
đưa ra bảy màu cơ bản trong tiếng Việt và các màu phụ bổ sung cho nó.
Ngoài ra còn phải kể đến bài viết của Nguyễn Xuân Bình “Về các màu sắc trong thơ
ca” [4;237]. Tác giả đi vào phân tích màu xanh trong giai đoạn thơ ca Việt Nam 1945 –
1975 để thấy rõ “mỗi giai đoạn thơ lại có sự biểu trưng riêng về màu sắc” [4;238].


Trong “Ngôn ngữ màu sắc và màu sắc ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến” [6;16].
Biện Minh Điền đã đi vào thống kê, miêu tả từ chỉ màu sắc trong thơ của Nguyễn
Khuyến. Qua đó, người đọc thấy được cảm quan màu sắc và tâm hồn của nhà nho yêu
nước, thấy được khát vọng thẩm mỹ của Nguyễn Khuyến thông qua cách dùng từ chỉ màu
của ông.
Vấn đề màu sắc trong tiếng Việt là vấn đề hết sức phức tạp nhưng cũng đầy thú vị.
Công việc nghiên cứu về thành ngữ được tìm hiểu trong bài viết của Trịnh Thu Hiền về
“Các thành ngữ tiếng Việt có yếu tố cấu tạo là từ chỉ màu sắc” [8;384], tác giả đã khảo
sát các thành ngữ “với mong muốn có thể đưa ra một số suy nghĩ ban đầu về giá trị, cấu
trúc hình thái và cấu trúc ngữ nghĩa của loại thành ngữ này” [8;384].
Nói tiếp công trình nghiên cứu về màu sắc trong tiếng Việt, trong “Màu xanh trong
thơ Tố Hữu” [19;577], Nguyễn Thị Bích Thủy cũng đã đi vào những biểu hiện cảm xúc

về tính từ chỉ màu sắc như là một tiểu loại nhỏ trong tính từ.
Nguyễn Hữu Quỳnh trong “Ngữ pháp tiếng Việt” thì nghiên cứu về tính từ như là
một từ loại của tiếng Việt, ngang bằng với các từ loại khác như danh từ và động từ,…
Trong nghiên cứu này, ông cũng có trình bày cách phân loại tính từ của mình, tuy nhiên
đó là cách phân loại sơ lược chứ không đi sâu vào phân loại cụ thể. Riêng về tính từ màu
sắc thì không thấy ông nhắc đến trong bài viết này.
Bùi Tất Tươm trong “ Giáo trình tiếng Việt” tuy có nêu đầy đủ về ý nghĩa khái quát,
đặc điểm cú pháp, phân loại tính từ nhưng với công trình này thì chúng ta cũng không
thấy ông nói nhiều đến tính từ màu sắc. Tính từ màu sắc chỉ là một tiểu loại nhỏ trong
phần phân loại tính từ theo ý nghĩa mà thôi.
Còn Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt” đã nêu lên đầy đủ
những đặc trưng của tính từ và các tiểu loại của tính từ. Ông xác định chức năng và phân
loại tính từ tương tự như Lê Biên. Nhưng trong công trình nghiên cứu của mình thì ông có
nêu thêm về sự phân định tính từ và các từ tổ khác để ta dễ phân biệt, tránh lầm lẫn giữa
từ loại và chức năng ngữ pháp của tính từ. Tuyệt nhiên trong công trình nghiên cứu này
thì không có nhắc đến tính từ màu sắc.
Qua tất cả những công trình nghiên cứu vừa nêu trên, ta có thể thấy được tầm quan
trọng của việc nghiên cứu và tìm hiểu tính từ, nhiều công trình nghiên cứu đã có vị trí
xứng đáng trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Về tính từ thì vậy, nhưng đối với tính từ


màu sắc thì rất ít công trình nghiên cứu. Hầu như trong tất cả các công trình nghiên cứu
này chỉ nhắc đến tính từ màu sắc như là bộ phận nhỏ của tính từ trong cách phân loại mà
thôi, còn việc nghiên cứu một cách sâu sắc, đầy đủ thì vẫn còn rất ít.
“Tính từ chỉ màu sắc trong truyện ngắn của Thạch Lam” cũng vậy, thật sự cho đến
ngày nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách thật đầy đủ và
sâu sắc về vấn đề này. Chúng ta vẫn thường thấy giá trị và tác dụng của tính từ màu sắc
trong tác phẩm văn chương thường chỉ được nhắc một cách thoáng qua mà thôi. Chính vì
vậy mà chưa thể nói hết được cái hay, cái đẹp của tính từ chỉ màu sắc nói chung và tính từ
chỉ màu sắc trong truyện ngắn Thạch Lam nói riêng. Cho nên có thể nói đây là một vấn đề

Do Thạch Lam là nhà văn được sinh ra và lớn lên ở Bắc Bộ cho nên ngoài việc tìm
hiểu tính từ đậm sắc thái Bắc Bộ, người viết còn phải vận dụng tất cả những hiểu biết của
bản thân về tính từ màu sắc trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Qua đó, người viết sẽ
làm rõ hơn giá trị của tính từ màu sắc trong truyện ngắn Thạch Lam cũng như là giá trị
của tính từ màu sắc ở Bắc Bộ.

5. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu đề tài này thì người viết cần phải nắm sơ lược về từ
loại, về tính từ, về tác giả Thạch Lam và những truyện ngắn của ông. Tiếp theo sẽ là công
việc thống kê các tính từ chỉ màu sắc có trong tác phẩm. Qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận,
tìm hiểu ngữ cảnh mà các tính từ chỉ màu sắc thể hiện, người viết phải tiến hành phân
tích, rồi tổng hợp nhằm giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra.
Đồng thời người viết còn tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, tiếp nhận ý
kiến đóng góp để hoàn chỉnh đề tài, đảm bảo cho đề tài thành công tốt đẹp.


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ

1. Khái quát về từ loại tính từ
1.1. Các quan niệm khác nhau về tính từ
Dân gian ta có câu “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Đúng vậy,
có rất nhiều vấn đề về mặt ngữ pháp mà những nhà nghiên cứu lịch đại và đương đại đã
và đang vẫn còn tranh cãi. Riêng về vấn đề hiểu như thế nào là tính từ, bản thân từ loại
cũng như chức vụ ngữ pháp của tính từ hiện vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau. Sau đây
chúng tôi xin trích dẫn một vài quan niệm về tính từ của các nhà Việt ngữ hàng đầu Việt
Nam để cùng đối chiếu và so sánh.
Đối với Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (tập 1)
thì cho rằng: “Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng cho thực thể hay đặc trưng cho
quá trình) chính là tính từ” [2;101]. Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính từ

trưng, tính chất của tính từ không phải là một cái gì trừu tượng, tách khỏi sự vật, hoạt
động mà phải thấy nó như là dấu hiệu thuộc tính sẵn có, có quan hệ gắn bó với sự vật,
hoạt động (đặc trưng của một đối tượng luôn phản ánh thực tại). Như vậy, cần hiểu đặc
trưng bao giờ cũng gắn liền với sự vật, thực thể, hoạt động và tiềm ẩn cách nhận thức,
đánh giá của mỗi người đối với sự vật, hoạt động.
Ví dụ:
Ngôi nhà này đẹp!
Khái niệm đặc trưng thể hiện ý nghĩa tính từ là một sự thống nhất rất cao giữa yếu tố
từ vựng và ngữ pháp. Với yếu tố từ vựng, ý nghĩa tính từ có liên hệ trực tiếp với nội dung
phản ánh thực tại. Khái niệm đặc trưng trên bật ngữ pháp là một khái niệm có tính chất
quan hệ, thể hiện một mối liên hệ giữa các khái niệm trong khi phản ánh thực tại.
Ví dụ: Khái niệm thực thể (danh từ riêng) “Việt Nam” trở thành khái niệm đặc trưng
(tính từ) khi ta thêm từ “rất” vào “rất Việt Nam” thì đó là một tính từ.

1.3. Phân loại tính từ
Trong việc phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt thì các nhà Việt ngữ đã nghiên cứu
và phân chia thành hai loại đó là thực từ và hư từ. Và đây là một việc làm vô cùng hữu ích
và thiết thực cho công việc nghiên cứu và học tập sau này, tuy nhiên việc phân chia như


vậy vẫn chưa được cụ thể hóa và rõ ràng. Do đó, chúng ta cần phải phân chia lớp từ này
thành những lớp nhỏ hơn để dễ dàng cho công việc khảo sát. Thế nhưng khi tiến hành
phân chia thành những lớp nhỏ như thế thì chúng ta cũng cần tránh việc phân chia quá tỉ
mỉ, chi tiết quá vì như vậy vô tình chúng ta đã làm rối thêm trong việc phân chia từ loại.
Mặt khác thì chúng ta cũng tránh lối mô phỏng, bắt chước rập khuôn theo một ngôn ngữ
nào đó cho dù ngôn ngữ đó có gần với ngôn ngữ của chúng ta. Chúng ta cần phải căn cứ
trên chính những đặc điểm của ngôn ngữ mà chúng ta đang khảo sát.
Việc phân loại tính từ thì ít phức tạp hơn danh từ và động từ. Nhưng do tiêu chuẩn
phân loại chưa được bao quát, cho nên ranh giới giữa các lớp con trong tính từ chưa được
xác định rõ ràng, chính xác và dứt khoát. Từ trước đến nay trải qua rất nhiều công trình

Lớp từ này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau về mặt ý nghĩa: tốt/xấu,
vui/buồn, hiền/dữ, sung sướng/khổ sở…
Ví dụ: - Anh Minh rất dữ.
- Chị Thu rất hiền.
Lớp tính từ miêu tả số lượng nêu ở chủ thể.
Lớp từ này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau về mặt ý nghĩa: ít/nhiều,
đủ/thiếu…
Ví dụ: - Lịch học của các bạn thường là không đều nhau, người thì quá nhiều tiết,
còn người thì quá ít tiết.
Lớp tính từ miêu tả kích thước nêu ở chủ thể.
Lớp từ này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau về ý nghĩa: dài/ngắn,
rộng/hẹp…
Ví dụ: - Căn phòng này rất hẹp.
- Căn nhà này quá rộng.
Lớp tính từ miêu tả màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng…
Ví dụ:
“Trong đằm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”
(ca dao)

1.3.2. Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ
Đây là lớp từ chỉ ý nghĩa tuyệt đối về tính chất của sự vật nêu ở chủ thể. Ở đây, tự
thân tính chất sự vật đã có ý nghĩa tuyệt đối rồi, nên mọi sự so sánh, mọi sự xác định mức
độ đều không cần thiết nữa. Số lượng của lớp từ này rất ít, chỉ trên dưới mười đơn vị. Đó


là: riêng, chung, công, tư, chính, phụ, độc nhất, công cộng, cơ bản. Vì ở lớp từ này mức
độ tuyệt đối rồi nên chúng ta không kết hợp với những đơn vị chỉ mức độ nữa: hơi, rất,
cực kỳ, vô cùng…
Lớp từ này thường đi kèm với danh từ hoặc động từ để bổ nghĩa cho danh từ hay

Nao nao lòng nước uống quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nắm đất bên đàng
Rầu rầu ngon cỏ nửa vàng nửa xanh”
(Nguyễn Du)
Chúng ta thấy các từ mô phỏng (dưới dạng láy) xuất hiện đầy đủ các quan hệ ngữ
pháp với danh từ, động từ, làm định ngữ cho danh từ và cho động từ trong tư cách của
tính từ. Từ láy âm có nhiều nhóm khác nhau thuộc các từ loại khác nhau, nhóm trung tâm
là các nhóm mô phỏng thuộc về từ loại tính từ.

1.4. Vị trí của tính từ
Như đã biết, tính từ dùng để bổ sung ý nghĩa cho danh từ, động từ và nó thường
được đặt sau danh từ, động từ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tính từ có thể đặt trước
một tiếng chính (danh từ, động từ). Đây là những trường hợp cố ý của người nói, người
viết, muốn làm cho người nge, người đọc chú ý vào trạng thái của tiếng chính.
Ví dụ:
- Thuyền chạy ù ù.
- Gió thổi vù vù.
- Thuyền vùn vụt chạy.
- Gió ù ù thổi.
Vậy trong tiếng Việt khi tính từ đặt trước danh từ, động từ là để nhấn mạnh vào tính
từ đó làm cho câu thơ, câu văn mạnh thêm, nhằm phục vụ cho người đọc, người nghe cao
hơn.
Ví dụ:
- Hồn sĩ tử gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo.
( Đoàn Thị Điểm – Chinh Phụ Ngâm)
- Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo



- Chức năng làm vị ngữ của tính từ.
Trong tiếng Việt và một vài ngôn ngữ đơn lập khác, tính từ gần với động từ ở chức
năng vị ngữ trong câu. Tính từ trong khi chỉ đặc trưng và không có chức năng ngữ pháp
riêng đã có quan hệ thông báo với chủ thể (cũng là một loại quan hệ đặc trưng) giống như
động từ. Tính từ tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ trước hết là các yếu tố chỉ
thời – thể (đã, sẽ, đang, chưa); kết quả, khả năng, tình thái,… Đặc điểm này cho phép tính
từ trong tiếng Việt làm vị ngữ trực tiếp trong câu. Điều này khác hẳn với tính từ trong
ngôn ngữ Châu Âu.
Ví dụ:
- Ngôi nhà này đẹp.
- Bầu trời xanh thẳm.
Ngoài hai chức năng nổi bật trên thì tính từ tiếng Việt còn có thêm một vài chức
năng cú pháp khác:
+ Tính từ giữ chức năng chủ ngữ trong câu.
Ví dụ:
Đẹp thì đẹp thật.
+ Tính từ giữ chức năng bổ ngữ trong câu.
Ví dụ:
Bạn Nga học giỏi!
- Khả năng kết hợp
Tính từ là từ loại thực từ, ý nghĩa của tính từ có quan hệ với nội dung phản ánh thực
tại. Điều đó cho phép tính từ có khả năng kết hợp với những từ xung quanh để bổ sung
cho nó và lập thành đoản ngữ - ngữ tính từ.
Xét về phương diện ý nghĩa thì tính từ khác động từ nhưng xét về phương diện ngữ
pháp thì tính từ có nhiều nét giống động từ. Các thành phần phụ của tính từ trong khuôn
khổ cấu trúc ngữ tính từ có thể phân ra thành các loại sau:
- Các phụ từ của tính từ cũng đồng thời là phụ từ của động từ.
+ Tính từ có thể kết hợp với các phụ từ: đã, sẽ, đang, chưa, … chỉ kết quả diễn tiến
của đặc trưng.

+ kiểu kết hợp “tính từ + danh từ”.


Ví dụ:
Nóng tính, mát tay, xấu bụng,…
+ Kiểu tổ hợp “danh từ + quan hệ từ”. Làm bổ ngữ cho tính từ.
Ví dụ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. (tục ngữ)
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. (ca dao)

2. Tính từ chỉ màu sắc
2.1. Khái niệm
Tính từ chỉ màu sắc là lớp từ biểu thị tính chất đặc trưng về màu sắc của sự vật, hiện
tượng.

2.2. Phân loại
2.2.1. Tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ
Đây là lớp tính từ chỉ màu sắc mang ý nghĩa tương đối về đặc trưng của thực thể
mà ta có thể so sánh về cường độ, mức độ đặc trưng.
Xét về số lượng thì tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ chiếm rất ít, bao gồm
những tính từ tiêu biểu:
- Trắng
- Vàng
- Xanh
- Đỏ
- Tím
- Đen
- Xám
- Nâu
- Hồng,…

- Trắng tinh
- Trắng dã
- Trắng noãn,…
- Vàng hực
- Vàng tươi
- Váng ươm
- Vàng khè,…


- Đỏ tươi
- Đỏ au
- Đỏ lòm
- Đỏ quét
- Đỏ thẫm,…
- Đen sì
- Đen thui
- Đen ngòm,…
- Xanh tươi
- Xanh biết
- Xanh ngắt
- Xanh lè,…
- Tím ngắt
- Tím rịm,…
- Xám xịt,…
Chúng ta cần lưu ý rằng, các tính từ thuộc lớp từ này khi có sự lặp lại yếu tố sau thì
sẽ khác với trường hợp lặp lại ở dạng láy thông thường, vì sự lặp lại yếu tố sau trong
trường hợp này sẽ làm tăng mức độ của màu sắc đặc trưng.
Ví dụ:
Tím ngăn ngắt.
Xanh biêng biếc.

- Màu xanh lá cây
- Màu muối tiêu
- Màu trắng ngà
- Màu xanh da trời
- Màu dà
- Màu bùn
- Màu sữa
- Màu cỏ úa,…
Với những từ chỉ màu sắc đặc trưng tiêu biểu của lớp từ này vừa được nêu ở trên thì
chúng ta thấy rằng: đây là những từ chỉ màu sắc được tạo ra từ việc tác giả liên tưởng, có
trong vốn sống của tác giả, và đó cũng là những màu sắc có trong vốn sống của mỗi


người, được họ rút ra nhằm thay thế cho những màu sắc mà họ không thể hoặc khó miêu
tả một cách ngắn gọn cho người nge, người đọc hiểu một cách chính xác. Và đó cũng
chính là giá trị của lớp từ này.
Đặc điểm của tính từ thuộc lớp từ này là ở chỗ lớp từ này cho ta biết được đặc trưng
của người sử dụng nó. Từ đó chúng ta sẽ biết được tác giả là người Bắc Bộ, Trung Bộ hay
là người Nam Bộ khi đọc qua tác phẩm và bắt gặp tính từ màu sắc biểu thị đặc trưng mà
tác giả đó sử dụng. Những vật được so sánh đó chính là vốn sống được hình thành trong
họ, bằng những sự vật gắn liền với quê hương của họ. Chính vì tính chất đặc biệt của lớp
tính từ này mà bản thân nó không thể kết hợp với từ khác, ngay cả những từ chỉ mức độ
màu sắc.

2.3. Đặc điểm- Chức năng và khả năng kết hợp
2.3.1. Tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ
Tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ thì ngoài khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ
mức độ thì bản thân lớp từ này còn có thể kết hợp được với các hư từ hoặc thực từ khác
để bổ nghĩa cho chính nó.
Ví dụ:

Tính từ chỉ màu sắc có khả năng kết hợp rất lớn, chính vì thế mà giá trị của lớp từ
này trong ngữ pháp tiếng Việt là vô cùng lớn và đặc biệt quan trọng. Trong hệ thống từ
loại tiếng Việt thì tính từ có vị trí không thua kém danh từ và động từ. Tính từ là một từ
loại vô cùng quan trọng và cần thiết, ngoài tác dụng rất lớn trong việc miêu tả các đơn vị
ngôn ngữ, làm phong phú khả năng diễn đạt, mà tính từ còn là một từ loại tích cực về mặt
tạo từ, tạo ra giá trị cao về mặt thẩm mĩ cho ngôn ngữ.


CHƯƠNG II: TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA THẠCH LAM
1. Tìm hiểu chung về Thạch Lam
1.1. Cuộc đời
Thạch Lam hồi nhỏ có tên thật là Nguyễn Tường Lân. Cùng với bút danh là Thạch
Lam, ông còn có bút danh khác là Việt Sinh. Ông sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hà
Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại. Cha ông – cụ Nguyễn Tường Chiếu là
công chức (thông phán). Ông nội của ông – cụ Nguyễn Tường Tiếp làm quan triều
Nguyễn (tri huyện Cẩm Giàng).
Nguyên quán: làng Cẩm Phô, Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ, Thạch Lam sống
với gia đình ở quê ngoại tại phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Lớn lên, ông ra Hà Nội học ở trường Canh Nông một thời gian, sau học trung học
Anbê Xarô, thi đỗ tú tài rồi ra làm báo, viết văn trong Tự lực văn đoàn.
Thạch Lam vừa làm báo, vừa viết văn, sự nghiệp văn học của ông chủ yếu là bắt đầu
từ năm 1935 và thực sự được khẳng định năm 1937, khi tập truyện ngắn Gió đầu mùa ra
mắt độc giả.
Sáng tác văn học của Thạch Lam bao gồm nhiều thể loại: tiểu luận, phóng sự, truyện
dịch, truyện thiếu nhi, tiểu thuyết,… Nhưng thành công hơn vẫn là truyện ngắn và tùy
bút.
Ông mất vì bệnh lao ngày 28 – 6 – 1942 tại làng Yên Phụ, Hà Nội.

1.2. Sự nghiệp văn chương


Trước 1931, cậu bé Nguyễn Tường Sáu sống với gia đình tại phố huyện

Cẩm Giàng (Hải Dương, thuộc quê ngoại). Đó là một “thời kì nghèo khổ” nhưng cũng rất
oanh liệt và dữ dội trong tuổi thơ đèn sách của ông. Câu chuyện ông tự ý khai sinh tăng 5
tuổi để “thi nhảy” lấy bằng Thành chung (khi ấy Thạch Lam mới 15 tuổi), rồi lại khai sinh
tụt 3 tuổi để thi Tú tài cho đúng “phép nước” là chuyện có thật và đã xảy ra trong chặng
đời niên thiếu này.
.

Từ năm 1931 đến khoảng 1934, chủ yếu là thời kì làm báo, Nguyễn

Tường Lân với bút danh: Việt Sinh, Thạch Lam, viết cho Phong hóa, tờ báo mà Nhất
Linh (Nguyễn Tường Tam) anh trai ông đã kế thừa (sang tay) từ ông Phạm Hữu Ninh.


Nói là làm báo, nhưng ông đã bắt đầu viết truyện ngắn: truyện ngắn đầu tay Cái hoa
chanh kí tên Việt Sinh, còn truyện ngắn kí tên Thạch Lam lần đầu, thì theo Nhất Linh là
truyện Cô Thúy. Tuy vậy, truyện ngắn của Thạch Lam lúc này viết chưa nhiều và chưa
“nổi”.
.

Từ 1935 cho đến khi mất 1942, ông vẫn viết báo cho Phong hóa và Ngày

nay (báo Ngày nay bắt đầu ra mắt độc giả từ tháng 1 – 1935). Đôi ba phen làm chủ nhiệm
hay chủ bút cho tờ Ngày nay; nhưng chủ yếu đây là thời kì Thạch Lam làm nổi với các
truyện ngắn, kí (tùy bút), tiểu luận văn chương.
Trong cuộc đời sáng tác của mình, Thạch Lam đã thử bút trên rất nhiều thể loại: bài
báo, phê bình, tiểu luận, phóng sự, tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, dịch thuật,…(nhà thơ
Tú Mở cho biết rằng ông còn viết cả kịch nữa). Tuy vậy, những sáng tác quan trọng và có

Riêng tùy bút Hà Nội 36 phố phường, mãi một năm sau khi ông qua đời tức

là năm 1943 mới in thành sách.
.

Ngoài ra, ông còn có hơn mười truyện ngắn khác đăng rải rác trên Phong

hóa, Ngày nay: một tập truyện dài viết dở dang (Thúy Mai): và dự định viết một tác phẩm
về đề tài cuộc sống trụy lạc Thập niên đăng hỏa thì mãi mãi chỉ là dự định.
Giữa năm 1942 ngày 28 tháng 6 năm 1942 (nhằm ngày 15 tháng 5 âm lịch năm
nhăm ngọ) Thạch Lam đã qua đời ở làng Yên Thụy, cạnh Hồ Tây – Hà Nội, để lại người
vợ hiền với ba đứa trẻ, (hai trai và một gái, một trong hai người con trai sau này là bác sĩ
Nguyễn Tường Giang).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status