TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
HUỲNH THỊ LIÊN
MSSV: 6075429
TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ TÁC
PHẨM CỦA ANH ĐỨC
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ
Cần Thơ, tháng 5 năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành xong đề tài nghiên cứu về “Tính từ chỉ màu sắc trong một số tác
phẩm của nhà văn Anh Đức”, người viết đã nhận được sự ủng hộ về nhiều mặt của cá
nhân và tập thể. Đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Tư – cán bộ trực tiếp hướng dẫn người
viết trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Ngoài ra người viết còn có những sự trợ giúp
của các thầy cô trong và ngoài bộ môn Sư phạm Ngữ Văn của khoa Sư Phạm, bộ môn
Ngữ Văn - Khoa học xã hội và Nhân văn cùng với bạn bè và nhiều người khác. Đó là
những động lực và điều kiện thuận lợi để người viết có thể thực hiện và hoàn thành
khóa luận này. Chính vì lẽ đó, người viết xin gửi đến những người đã giúp đỡ người
viết lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất.
Tuy nhiên do sự hạn chế của bản thân nên khi thực hiện đề tài này sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế, mong quý thầy cô và các bạn thông cảm và người viết
rất vui khi nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn!
2. Đặc điểm ngữ pháp và phân loại
2.1 . Đặc điểm ngữ pháp
2.1.1 khả năng kết hợp
2.1.2 Vị trí
3. Phân loại
3.1 Tính từ chỉ màu sắc không xác định thang độ
3.2 Tính từ chỉ màu sắc xác định thang độ
Chương II. TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG TÁC PHẨM CỦA
NHÀ VĂN ANH ĐỨC
I. Tác giả - Tác phẩm
1. Cuộc đời
2. Sự nghiệp
II. Tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức
1. Thống kê và phân loại
2. Tổng quan về màu sắc
3. Miêu tả tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức
3.1 Màu sắc không xác định thang độ
3.2 Màu sắc xác định thang độ
3.3 Lớp tính từ chỉ màu có ý nghĩa biểu trưng, hình tượng
III. Nhận xét về tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHẦN
một sự tất nhiên. Chúng được sinh ra để diễn tả lại những sắc màu của cuộc sống bằng
ngôn ngữ. Nhưng nếu một phút dừng lại ở lớp từ này ta sẽ thấy nó lung linh biết bao ý
nghĩa thú vị. Người viết có cảm giác tính từ chỉ màu sắc như một bà mẹ hiền từ lặng lẽ
bày trí căn nhà mà không cần một lời khen tặng cũng như bà tái hiện lại cái thế giới
muôn màu muôn vẻ bên ngoài cho con trẻ bằng những lời thì thầm kể chuyện. Hẳn
rằng dù vô tình hay hữu ý thì trong mỗi con người chúng ta lớp tính từ chỉ màu sắc đã
chiếm một vị trí nhất định và đối với người viết lại trở thành một sự say mê.
Bên cạnh sự chú ý đặc biệt của mình đối với lớp tính từ chỉ màu sắc, người viết
còn yêu thích giọng văn, ngôn ngữ của nhà văn miền Nam – Nhà văn Anh Đức. Đặc
biệt, người viết nhận ra trong lối viết khá gần gũi, tinh tế của nhà văn lại còn có điểm
đặc biệt đáng chú ý đó là việc vận dụng linh hoạt những tính từ chỉ màu sắc trong các
truyện ngắn, tiểu thuyết của mình. Hai mối đồng cảm gặp nhau ở một điểm chung đã
trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc người viết quyết tâm chọn đề tài “ Tính từ chỉ
màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức” với hy vọng có thêm được sự tìm hiểu,
học hỏi, đi sâu hơn vào lĩnh vực ngôn ngữ và đồng thời góp chút sức vào việc tìm hiểu
những vấn đề ngữ pháp Việt Nam để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
II. Lịch sử vấn đề
Tính từ là một từ loại hấp dẫn mà từ trước đến nay luôn thu hút sự chú ý của
các nhà ngôn ngữ học và những ai lưu tâm đến lĩnh vực ngôn ngữ.
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về từ loại này, mỗi công trình lại
nghiên cứu theo những hướng khác nhau. Ngữ pháp Việt Nam giản dị và thực dụng
của Bùi Đức Tịnh là một công trình khá thú vị khi nghiên cứu thể thức cấu tạo ở việc
kết hợp các từ ghép Hán Việt, tiếng Nôm, thành ngữ Hán Việt, thành ngữ Nôm bên
cạnh những từ khác. Đặc biệt tác giả này đã phân đẳng cấp của ý nghĩa tiếng tính từ
“thể theo thói quen tạo nên bởi ảnh hưởng văn phạm Pháp và quyển “Việt Nam văn
phạm” thông dụng ngày trước” [22; 89].
Cũng cùng một tác giả, trong Văn phạm Việt Nam, Bùi Đức Tịnh lại sử dụng
chỉ là những bài viết ngắn đăng trên tạp chí, đa phần là tìm hiểu về tính từ chỉ màu sắc
được sử dụng trong thơ chẳng hạn như bài “Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính” khai
thác ý nghĩa của từng màu xanh khi xuất hiện trong những bài thơ Nguyễn Bính sáng
tác của Nguyễn Thị Thành Thắng ở Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 11 – 2001 [19;
11]. hoặc bàn về “Màu xanh trong thơ Tố Hữu”, Nguyễn Thị Bích Thủy đăng trên Tạp
chí Ngữ học trẻ 2002 đưa ra một biểu đồ tỉ lệ những màu xanh khác nhau mà Tố Hữu
thể hiện [21; 576]. Tính từ chỉ màu sắc trong ca dao cũng được Trần Văn Sáng tìm
hiểu qua bài “ Thế giới màu sắc trong ca dao” in trên Tạp chí Ngữ học trẻ 2007 [17;
383], qua bài viết tác giả đã đưa ra những số liệu thống kê cụ thể về số lượng màu sắc
mà ca dao thường hay sử dụng và tỉ lệ phần trăm từng màu trong hệ thống màu sắc của
ca dao…Nhìn chung tất cả các công trình nghiên cứu đều còn rất sơ sài và dường như
chưa có một công trình nghiên cứu quy mô về tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm văn
xuôi.
Các tác phẩm của nhà văn Anh Đức cũng có nhiều bài phê bình đề cập đến với
nhiều khía cạnh khác nhau như: nghiên cứu về “Tính cách dân tộc trong sáng tác của
Anh Đức” (Nguyễn Trung Thu), “Hình tượng người phụ nữ miền Nam trong tiểu
thuyết (Phan Cự Đệ) … [22; 226], nhưng cũng không có công trình nào chuyên
nghiên cứu về việc sử dụng tính từ chỉ màu sắc của ông.
Nói tóm lại về vấn đề tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm văn chương vẫn còn là
một vùng đất đầy tiềm năng chưa có nhiều người khai thác. Và “Tính từ chỉ màu sắc
trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức” lại là một đề tài gần như chưa có công trình nào
nghiên cứu. Điều đó là một thử thách cũng là động lực thúc đẩy người viết thực hiện
tìm hiểu, hoàn thành đề tài này.
III. Mục đích, yêu cầu
Đề tài đã chỉ ra mục đích một cách sáng rõ là việc nghiên cứu, tìm hiểu về lớp
tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt nói chung và đặc biệt trong cách vận dụng vào tác
phẩm của nhà văn Anh Đức từ cách chọn lựa, sắp xếp, kết hợp đến biến tấu để tạo nên
KHÁI QUÁT VỀ TỪ LOẠI TÍNH TỪ
I. Định nghĩa
1. Các quan niệm khác nhau về từ loại tính từ
Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt khá phức tạp và có nhiều ý kiến khác
nhau, từ loại tính từ cũng không ngoại lệ, chỉ riêng phần định nghĩa đã có những ý kiến
không hoàn toàn giống nhau giữa các tác giả.
Trong Giáo trình tiếng Việt của Bùi Tất Tươm có nêu lên: “ Tính từ là từ loại chỉ
tính chất của sự vật, của hành động trạng thái” [ 25;139]
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung lại có ý kiến “ lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (
đặc trưng của thực thể hoặc đặc trưng của quá trình) là tính từ [1; 115]
Trong khi đó khái niệm của Lê Biên về từ loại tính từ cụ thể như sau “ Tính từ là
những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc vận động, quá
trình, hoạt động.” [2; 103]
Còn Nguyễn Hữu Quỳnh cho rằng: “ Tính từ là những từ chỉ tính chất, đặc trưng
của sự vật như hình thể, mầu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng…” [15; 145]
Nhìn chung mỗi một nhà ngôn ngữ học sẽ có một cách phát biểu về từ loại này theo
hướng nghiên cứu nhất định của mình. Tuy nhiên tất cả đều gặp nhau ở một cách hiểu
chung là: Tính từ dùng để bổ sung, hạn định, giúp làm rõ hơn sự vật, hiện tượng, thực
thể.
Và rõ ràng, khi càng có nhiều ý kiến thì càng chứng minh từ loại tính từ là một từ
loại hấp dẫn, quan trọng trong hệ thống từ loại tiếng Việt.
2. Định nghĩa
Từ các ý kiến của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cùng với việc tìm hiểu về từ loại
tính từ, ta có thể rút ra một định nghĩa khái quát như sau:
Tính từ là một loại thực từ dùng để chỉ tính chất, trạng thái đặc trưng của người,
vật, việc… có thể đó là nhưng sự vật, hiện tượng động hoặc tĩnh khác nhau trong thực
tại.
Ví dụ: Nhà đẹp, cây cao, chạy nhanh….
Ví dụ: con dao cùn lắm rồi,…
- Kết hợp với thực từ
Thường kết hợp với danh từ đứng sau với xu hướng cố định hóa thành từ ghép như:
mát tay, cả gan, nhẹ dạ…
1.2 Vị trí
Khác với tính từ của các ngôn ngữ biến hình Châu Âu, từ loại tính từ tiếng Việt có
một vị trí độc lập quan trọng.
- Làm định ngữ
Vị trí tự nhiên của tính từ tiếng Việt là đứng sau danh từ ( khác với ngôn ngữ tiếng
Anh, tiếng Hoa có tính từ đứng trước danh từ) để làm phụ tố hạn định bổ sung, giúp
làm rõ nghĩa danh từ. Ngoài ra tính từ cũng được đặt sau động từ và cũng giữ chức
năng định ngữ.
Ví dụ: áo xanh, chạy nhanh…
- Làm vị ngữ trực tiếp
Đây là một vị trí đặc biệt của tính từ tiếng Việt khác với tính từ của các ngôn ngữ
khác. Tính từ tiếng Việt có thể tự thân hoặc kết hợp với các từ khác làm vị ngữ trực
tiếp trong câu
Ví dụ: Nhân dân ta rất anh hùng.
Trong khi đảm nhận vị trí vị ngữ trực tiếp, tính từ có quan hệ với thời gian và tiếp
nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ ( có các phó từ đã, sẽ, từng, còn, chưa…)
Cũng có những trường hợp trùng với tính từ ở vị trí định ngữ vì có chung một hình
thức kết hợp ( nhà mới, kẹo mềm…)nên cần nhờ các thao tác chêm, lược, thế… để
nhận biết dễ dàng hơn.
- Có những trường hợp tính từ giữ vị trí của chủ ngữ như trường hợp câu thành ngữ:
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
2. Phân loại
biết chúng sâu sắc hơn. Tuy nhiên ranh giới giữa các lớp ấy không phải lúc nào cũng
rõ ràng, dứt khoát. Trong thực tế sinh động của ngôn ngữ, có khi một số tính từ chỉ ý
nghĩa tuyệt đối lại có thể được dùng như một tính từ miêu tả tính chất bình thường và
ngược lại.
2.3 Từ mô phỏng
Từ mô phỏng hay còn gọi là từ tượng thanh, tượng hình là một lớp từ có tính chất
đặc biệt cả về mặt cấu tạo, mặt ý nghĩa ngữ pháp, giá trị, phong cách sử dụng ngôn
ngữ…
Có hai lối mô phỏng là trực tiếp ( tượng thanh) và gián tiếp ( tượng hình)
Từ mô phỏng có chức năng của tính từ nhưng không đi kèm với: Hãy, đừng, chớ…
Ví dụ: lom khom, bập bùng…
2.4 Biến dị từ loại
- Có những trường hợp tính từ biến dị thành các từ loại khác gọi là trường hợp biến
dị từ loại của tính từ.
Một tính từ biến dị từ loại thành danh từ thường có một thành tố phụ đứng trước
như: sự, cái, lòng, vẻ…
Ví dụ: Lòng tử tế của chị đã được mọi người tuyên dương.
- Tính từ còn có thể biến dị thành phó từ khi được dùng để chỉ định ý nghĩa của một
động từ hay một tính từ khác.
Ví dụ: Đó là một biện pháp hoàn toàn vô hiệu quả.
- Ngoài ra ta còn bắt gặp trường hợp biến dị của tính từ thành động từ để chỉ một
việc xảy ra.
Ví dụ: Cây đang lớn.
III. Tính từ miêu tả màu sắc
1. Định nghĩa
Ví dụ: Con chiên cá quá vàng rồi đấy!
Quá vàng diễn tả việc chiên cá vàng hơn màu của một con cá chiên bình thường (ở
mức độ sắp khê).
2.1.2 Vị trí
Thừa hưởng đặc điểm của tính từ, tính từ miêu tả màu sắc cũng giữ vị trí như tính
từ.
- Làm vị ngữ trực tiếp
Đây là vị trí thường xuyên và đặc trưng của tính từ tiếng Việt cũng như tính từ
miêu tả màu sắc tiếng Việt.
Ví dụ: Quả dưa rất đỏ.
- Làm định ngữ bổ nghĩa, hạn định
Vị trí định ngữ của tính từ chỉ màu sắc tiếng Việt là một ví trí khá quan trọng, nhờ
đó ta có thể dễ dàng phân biệt những sự vật hiện tượng qua màu sắc và có thể kèm
theo những ý nghĩa khác mà người nói, người viết muốn biểu hiện.
Ví dụ: Áo trắng, Hoa hồng đỏ…
-
Một điểm khác biệt của tính từ chỉ màu sắc với tính từ nói chung là tính từ chỉ
màu sắc không đứng ở vị trí chủ ngữ.
3. Phân loại
3.1 Tính từ chỉ màu sắc không xác định cấp độ
Là những tính từ chỉ màu sắc mà tự bản thân nó chỉ đơn thuần biểu thị cho một
màu nào đó trong thế giới màu sắc tự nhiên, khi đọc lên, ta không có bất cứ một sự
đánh giá nào.
Ví dụ: Trắng, xanh, vàng, đỏ…
mới, một chính quyền mới”. Đặc biệt, sự hy sinh anh dũng của người anh cả trong
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã có tác động mạnh đến
ý thức của Anh Đức. Cuối năm 1947 ông bỏ học, vào công tác tại Văn phòng Ty
thông tin kháng chiến của tỉnh Rạch Giá. Ít lâu sau được cơ quan bố trí cho đi học tiếp
tại trường Trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Kết thúc hai năm học tập ông trở
lại công tác tại cơ quan cũ. Năm 1950, về công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ.
Năm 1953, là phóng viên của báo “Cứu quốc Nam Bộ” cho tới 1954 tập kết ra Bắc.
Sau một năm tham gia công tác ở nông thôn, năm 1956 Anh Đức về công tác tại
phòng Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 1957 ông được kết nạp vào Hội nhà
văn Việt Nam, là biên tập viên văn xuôi tuần báo Văn học. Giữa năm 1962 Anh Đức
được điều về Nam. Đầu năm 1963 ông đi thực tế sáng tác tại các tỉnh Cần Thơ, Rạch
Giá, Cà Mau. Đây là thời kỳ sau Đồng khởi, nông thôn Nam Bộ đã có một vùng giải
phóng rộng lớn, chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng đã thành lập nhưng thế
và lực còn mỏng, non yếu. Để dập tắt phong trào cách mạng miền Nam thời kỳ đầu
còn non trẻ, Mỹ chủ trương chiến lược chiến tranh đặc biệt sử dụng trực thăng vận và
thiết xa vận, dồn dập lập ấp chiến lược đã gây cho cách mạng miền Nam không ít khó
khăn. Nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết “Hòn Đất” của ông đã ra đời trong bối cảnh
đó.
Trong 13 năm ở chiến trường, Anh Đức vừa sáng tác vừa đảm đương nhiệm vụ phụ
trách ngành văn và trong nhiều năm là Tổng biên tập tạp chí “Văn nghệ giải phóng”
của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam. Ông từng là Ủy viên thường vụ và Ủy viên
Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam các khóa 2,3. Đại biểu quốc hội khóa VII. Hiện là
Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa V. Phó chủ tịch kiêm Phó bí thư
Đảng đoàn Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tổng biên tập tạp chí Văn và
Kiến thức ngày nay.
2. Sự nghiệp
Nhờ từ nhỏ đọc nhiều sách văn học của tủ sách gia đình, đặc biệt trong thời gian
phóng, 1968), tiểu thuyết “Đứa con của đất” (Giải phóng, 1976), tập truyện ngắn
“Miền sóng vỗ” (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1983), tập truyện ngắn “Hai mươi
truyện ngắn” (NXB Văn học), tập truyện thiếu nhi “Ông già về hưu và những đứa trẻ”
(NXB Măng non), tập “truyện Anh Đức” tập I và II (NXB Văn học, 1997), tập “Anh
Đức – truyện ngắn và bút ký” (NXB Hội nhà văn,2002).
Một số tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung
Quốc, Nhật Bản…
Điểm nổi bật trong toàn bộ các tác phẩm của Anh Đức từ truyện ngắn đến tiểu
thuyết là tính chiến đấu cao, thể hiện rõ tinh thần xả thân vì nước của nhân dân ta.
Nhà văn Anh Đức được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm
2000 và Huân chương độc lập hạn Nhì.
II. Tính từ chỉ màu sắc trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức
Màu sắc là một yếu tố khá quan trọng trong cuộc sống. Nhắc tới màu sắc con người
vẫn thường hay liên tưởng đến nghệ thuật hội họa. Từ xưa đến nay đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về màu, để tìm hiểu bản chất và hệ thống của nó nhằm cung cấp
cho họa sĩ một công cụ làm việc tốt. “Sự huyền diệu của màu sắc là niềm vui vô tận
của con người, là vẻ đẹp thị giác thật sự của thế giới vật chất và thế giới tâm hồn con
người” [16; 372]. Tuy nhiên không chỉ có hội họa, màu sắc cũng chiếm giữ một vai trò
khá quan trọng trong ngôn ngữ, chính những từ diễn tả màu sắc đã diễn tả thêm một
khía cạnh, một mặt lấp lánh của cái đa giác ngôn ngữ đang chuyển động cùng với
những tinh cầu khác. Khi đi vào ngôn ngữ, màu sắc được cụ thể hóa với nét nghĩa bản
thể và nét nghĩa dụng học. Tên gọi của chúng mang tính võ đoán và nó được quy định
theo nhận thức khách quan mà con người gán ghép vì thế nó bị chi phối bởi ý thức và
quan niệm chủ quan của con người.
Trong văn học, tính từ chỉ màu sắc đã cụ thể hóa những tín hiệu thẫm mĩ trong
ngôn ngữ nghệ thuật, hình thành “tư duy về màu sắc” của từng tác giả. Trần Đình Sử
từng có nhận định về màu sắc trong quyển Thi pháp Truyện Kiều của ông rằng: màu
sắc trong văn học “chẳng những là phương tiện miêu tả thế giới, mà còn là phương
tiện thể hiện cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc đời, mang đậm màu sắc thời đại và cá
của nhà văn Anh Đức
STT
1
Tính từ
chỉ màu
sắc
Màu đỏ
2
Màu đen
3
6
Màu
xanh
Màu
trắng
Màu
vàng
Màu xám
7
Có thang độ
Không thang độ
Có thang độ
Không thang độ
Có thang độ
Không thang độ
Có thang độ
Không thang độ
Có thang độ
Không thang độ
Có thang độ
Số lần sử Tỉ lệ %
dụng
từng màu
Tỉ lệ %
tổng màu
65
70
49
40
34
50
32
42
16
26
9
516
100
100
17.3
16.4
14.3
8.1
4.1
3.7
3
1.9
5.4
Ta có thể biểu diển qua biểu đồ hình tròn sau về tỉ lệ màu sắc trong tác phẩm của nhà
văn Anh Đức:
Bảng đồ tỉ lệ màu sắc được sử dụng
trong tác phẩm của nhà văn Anh Đức
1.90%
3.90%
3.0%
5.40%
17.20%
quán quân cho việc sử dụng ( 26.2%). Trong nội bộ màu đỏ thì màu đỏ xác định thang
độ được ông đặc biệt chú ý hơn màu đỏ không xác định thang độ. Đây cũng là đặc
điểm chung của những màu còn lại bởi theo quy luật tự nhiên, khi nghe diễn tả về một
màu sắc nào đó thì màu sắc có kèm theo thang độ luôn tạo ấn tượng sâu sắc hơn. Anh
Đức đã dùng hơn 50% tổng số lần sử dụng màu sắc là những tính từ chỉ màu tuyệt đối
tạo cho trang văn ông lung linh màu sắc và ở lại lâu hơn trong lòng độc giả.
Nếu màu đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất thì màu nâu – với bản tính khiêm
nhường vốn có cũng trở thành màu có vị trí nhỏ nhất trong tổng thể các màu sắc.
Đáng chú ý là những màu mang ý nghĩa đặc trưng được Anh Đức sử dụng 28 lần,
chiếm 5,4% trong tổng số lần sử dụng là một con số biểu thị một phần cho sự sáng tạo
của nhà văn.
Nhìn chung về tính từ chỉ màu sắc Anh Đức đã sử dụng trong các tác phẩm của
mình, ta thấy rằng ông là người hiểu sâu sắc về giá trị của màu sắc trong ngôn từ.
Chính vì thế nhà văn đã dùng những tính từ chỉ màu sắc ở nhiều phương diện để tạo
cho trang văn của mình thêm sâu sắc, lung linh và đọng mãi trong lòng người đọc
2. Tổng quan về màu sắc
Màu sắc là một vấn đề khá phức tạp, chỉ riêng về câu hỏi “có bao nhiêu màu cơ
bản trong tiếng Việt?” cũng đã là một điều chưa có đáp án thỏa đáng. Nếu có quan
niệm cho rằng màu cơ bản là là bảy màu của bảy sắc cầu vồng: đỏ, cam, vàng, lục,
lam, chàm, tím thì cũng có ý kiến khác như Đào Thản trong bài Hệ thống từ ngữ chỉ
màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quá nói rằng: “ Để xác định
các từ chỉ màu cơ bản và các nhóm từ ngữ chỉ màu phụ trong tiếng Việt, phải chăng
cần lưu ý đến một quan điểm có tính chất truyền thống của phương Đông, đó là thuyết
ngũ hành … và như vậy ngũ sắc có thể chính là năm màu cơ bản nhất mà ông cha
chúng ta từng quan niệm và ghi nhận trong ngôn ngữ: xanh, đỏ, trắng, tím và
vàng…Tuy nhiên đó chỉ mới là năm màu cơ bản nhất theo quan niệm cổ truyền. Thực
tế, nhận thức và sự phát triển của tiếng Việt chứng tỏ số màu được coi là cơ bản còn có