Khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối trong một số tác phẩm của nam cao - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ
hết sức tận tình, trực tiếp của cô giáo Phạm Thị Hoà - Giảng viên
tổ Ngôn ngữ, cùng các thầy cô trong khoa Ngữ văn - Trường
ĐHSP Hà Nội 2, khoá luận đã được hoàn thành vào ngày 15-52007.
Qua đây, em xin trân trọng cảm ơn tới cô giáo hướng dẫn
cùng toàn thể các thầy cô và các bạn đã giúp đỡ và tạo điều kiện
tốt nhất cho em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận này.

Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2007
Sinh viên

Lê Thị Ngọc Bính


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan khoá luận này là thành quả nghiên cứu
của bản thân tôi. Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực
và chưa có trong một đề án nghiên cứu nào.

Mở đầu


Quan niệm thứ nhất thịnh hành ở giai đoạn các ngữ pháp văn bản coi
liên kết thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ. ở Việt Nam, đi theo quan
điểm thứ nhất là Trần Ngọc Thêm, và được ông trình bày chi tiết trong Hệ
thống liên kết văn bản tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H, 1999). Theo ông, các
phương thức liên kết được chia thành 3 loại:
+ Loại 1: Các phương thức liên kết chung cho ba loại phát ngôn gồm có
phép lặp, phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính.
+ Loại 2: Là các phương thức liên kết hợp nghĩa gồm có phép thế đại từ,
phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng.
+ Loại 3: Là các phương thức liên kết trực thuộc gồm có phép tỉnh lược
mạnh, phép nối chặt.
Xét riêng phép nối, Trần Ngọc Thêm đã phân loại thành phép nối lỏng
và phép nối chặt. Ông đã nghiên cứu khá kĩ vấn đề này và chỉ ra rằng liên kết
văn bản thuộc về cấu trúc chứ không thuộc hệ thống.
- Quan niệm thứ hai thịnh hành vào giữa những năm 70 của thế kỉ XX
và ngày càng được phổ biến rộng rãi. Đi theo quan niệm này là các nhà ngôn
ngữ học chức năng như Halliday và Hasan. Khác với quan niệm thứ nhất cả
liên kết thuộc vế cấu trúc, hai tác giả đã trình bày cách hiểu và quan niệm về
liên kết văn bản thuộc về hệ thống, coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lí
thuyết. Phép nối - theo Halliday - là phương thức liên kết có tác dụng báo hiệu


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

các quan hệ có khả năng nhận biết đầy đủ bằng cách tham khảo những phần
khác nhau trong văn bản.
ở Việt Nam, đi theo quan niệm thứ hai và có nhiều ứng dụng vào tiếng
Việt là GS. Diệp Quang Ban. Cách hiểu, cách phân tích về phép liên kết được

ông qua sự tiếp nhận của nhiều thế hệ độc giả được phát hiện thêm nhiều giá
trị nghệ thuật mới.
Dẫn theo GS Hà Minh Đức trong giới thiệu Nam Cao tác phẩm tập 1,
Nxb Văn học 1976, ông cũng nhận định: Nam Cao đã mạnh dạn đi theo lối
riêng, nghĩa là ông không đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả. Nhưng tài năng
của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn
nhẫn, thứ tàn nhẫn của một người biết tin ở tài mình, ở thiên chức mình (nhận
xét của một nhà phê bình đương thời).
+ Tác giả Phong Lê trong cuốn sách Nam Cao - người kết thúc vẻ
vang trào lưu văn học hiện thực (Nxb ĐHQG H, 2003), đã viết: ... năm mươi
năm cách mạng đã làm thay đổi tận gốc rễ những nền tảng vật chất và tinh
thần của xã hội - đó chính là cơ sở cho sự phát triển vượt bậc của ngôn ngữ, và
các thế hệ bạn đọc hôm nay, trong giao lưu với thời đại, là lớp người có những
nhu cầu phổ biến và tiếp nhận rất hiện đại thì mới thấy đáng quý và đáng sợ
biết bao khả năng một nhà văn như Nam Cao, luôn đưa được con thuyền ngôn
ngữ của mình vào dòng sống cuộn chảy của dân tộc, khiến cho nó luôn luôn
gặp được những bến bờ thời sự.
ở cấp độ văn bản, nhiều tác giả đã làm sáng tỏ sức hấp dẫn của truyện
ngắn Nam Cao về mặt kết cấu văn bản và cấu trúc truyện ngắn. Cũng trong
cuốn Lời giới thiệu Nam Cao tác phẩm (tập 1 - Nxb Văn học, 1976), GS. Hà
Minh Đức có viết: truyện ngắn của Nam Cao nhiều màu vẻ. Có những truyện
ngắn chỉ qua vài trang mà dựng được một tính cách một cuộc đời và rất nhiều
đổi thay... Có những sáng tác mà cốt truyện đơn sơ mà lại gây nhiều xúc
động.
Nghiên cứu về văn chương Nam Cao nói chung, chúng tôi thấy có khá
nhiều bài viết tiêu biểu và xuất sắc.


Khoá luận tốt nghiệp



Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

Nội dung

Chương 1
Cơ sở lí luận

1.1. Các phương diện liên kết câu trong đoạn văn
1.1.1. Liên kết hình thức
- Theo Diệp Quang Ban, liên kết hình thức là hệ thống các phương
thức liên kết hình thức và những cái được liên kết với nhau trong văn bản là
câu phát ngôn. Cách phân loại câu phát ngôn trong văn bản có liên quan đến
việc mô tả liên kết hình thức, vì vậy mà trở nên cần thiết.
- Trong Tiếng Việt, hệ thống các dấu hiệu liên kết hình thức đoạn văn
gồm bao nhiêu phương tiện? Trả lời cho câu hỏi này cũng nhiều ý kiến và là
vấn đề cần thảo luận. Theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Hệ
thống liên kết văn bản Tiếng Việt, ông đã chia thành 10 phương tiện là:
1. Phép lặp

6. Phép thế đại từ

2. Phép đối

7. Phép tỉnh lược yếu

3. Phép thế đồng nghĩa

8. Phép tỉnh lược mạnh


Như vậy, liên kết logic thường được quy vào phạm trù liên kết nội dung
của đoạn văn, nhưng ở bình diện khác với liên kết chủ đề. Trong số các
phương thức liên kết có hai phương thức được dành riêng để thể hiện các quan
hệ ngữ nghĩa trong liên kết logic là phương thức nối và phương thức tuyến
tính.

1.2. Hiện tượng nối liên kết và phép nối lỏng
1.2.1. Hiện tượng nối liên kết
- Theo Trần Ngọc Thêm, cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn là sự tồn
tại của các quan hệ trong đó có các quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng. ở phép
tuyến tính những quan hệ đó nằm ở dạng tiềm ẩn. Nếu những quan hệ đó được
thể hiện ra bằng những phương tiện từ vựng thì ta có hiện tượng nối liên kết
hay các phép nối nói chung.
- Tuỳ thuộc vào tính chất của các phương tiện nối mà trong hiện tượng
nối liên kết cần phân biệt hai trường hợp:
+ Nếu sự có mặt của các phương tiện nối có khả năng làm thay đổi cấu
trúc nòng cốt của phát ngôn, khiến nó phụ thuộc vào chủ ngôn không chỉ về
mặt nội dung mà cả về mặt cấu trúc thì ta có phép nối chặt.


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

+ Còn nếu sự có mặt của các phương tiện nối chỉ làm cho phát ngôn
chứa nó phụ thuộc vào chủ ngôn về mặt nội dung mà không động chạm gì đến
mặt cấu trúc thì ta có phép nối lỏng.
1.2.2. Phép nối lỏng
1.2.2.1. Khái niệm về phép nối lỏng
Phép nối lỏng là phương thức liên kết thể hiện ở sự có mặt trong kết

trước phát ngôn này còn có ít nhất một phát ngôn khác liên kết với nó.
+ Sự kiện nêu ra trong phát ngôn chứa nó diễn ra trong cùng một thời
gian với sự kiện trong chủ ngôn.
- Các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp có cấu tạo và nguồn
gốc rất đa dạng. Chúng có thể là:
+ Các từ như: thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn,
vả lại, thậm chí, sự thật, đặc biệt...
+ Các kết hợp cố định hoá (thường là song tiết) như: tiếp theo, thứ hai,
ngoài ra, hơn nữa, mặt khác, trái lại, ngược lại, tóm lại, nhìn chung...
+ Các kết hợp có xu hướng cố định hoá. Loại này có mô hình cấu tạo
cơ bản:


Mô hình động từ + trạng tố chỉ cách thức: nói cách khác, nói khác

đi, nói đúng ra, nói một cách tóm tắt, nói (một cách) chính xác hơn, ... Nhóm
này có nguồn gốc rút gọn từ vế thứ nhất của các câu qua lại. ở dạng đang xét,
các phương tiện nối lỏng này đứng tách biệt hẳn khỏi vế sau của phát ngôn mà
nó tham gia. Do vậy tính chất chêm xen của chúng cũng bộc lộ rõ rệt. Các kết
hợp này có xu hướng rút gọn tiếp tục bằng bỏ bớt động từ.


Mô hình từ nối + đại từ :
Với từ nối là giới từ, ta có: trên đây, trước đây, sau đó, từ đó, do vậy...
Với từ nối là liên từ, ta có :vì vậy, bởi vì, như thế, tuy thế...
Nhóm này mang tính chất trung gian.



Mô hình tận cùng bằng là với hai dạng:

dụ: lại cũng, vẫn cứ, vẫn còn...).
Sự có mặt của các yếu tố này không gây ảnh hưởng đặc biệt nào đối với
cấu trúc của phát ngôn. Chúng hoạt động giống hệt như những phụ tố khác
không có chức năng nối lỏng. Chức năng nối lỏng ở các từ này là do ngữ
nghĩa của chúng quy định.


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

- Các từ có nghĩa so sánh làm phụ tố trong danh ngữ.
Nhóm này gồm những phụ từ đứng trước danh từ như riêng, còn và
đứng sau danh từ như khác, nữa. Các từ này cũng làm phụ tố giống hệt như
những phụ tố không có chức năng liên kết khác và chức năng nối lỏng ở đây
cũng do ngữ nghĩa của chúng quy định.
c) Tất cả các phương tiện nối lỏng còn có thể được phân loại theo các
quan hệ ngữ nghĩa mà chúng biểu hiện.
Nói chung, các phương tiện nối không chỉ thể hiện một loại quan hệ
logic thuần tuý, mà chia thành hai loại rõ rệt: quan hệ định vị (trong không
gian, thời gian) và quan hệ logic.
Trong quan hệ logic lại có thể phân biệt logic diễn đạt và logic sự vật.
d) Trong tất cả các phương tiện nối lỏng đã xét, có những từ, cụm từ sau
đây có liên kết dự báo: trước tiên, thoạt tiên, thứ nhất, dưới đây, sau đây... Sự
có mặt của các phương tiện này luôn dự báo trước sự xuất hiện của các phát
ngôn, các đoạn văn (thứ hai, thứ ba...) tiếp theo. Các phương tiện này có thể
làm thành phần chuyển tiếp dùng để mở đầu trình tự diễn đạt.

1.3. Phép nối chặt
1.3.1. Khái niệm

1.3.2.3. Quan hệ logic sự vật
- Nhân quả: nguyên nhân: vì, bởi...; Điều kiện: tuy, dù, dẫu...; Giả thiết:
hễ, giá...; hướng đích: để, cho...; Kết quả: nên, thì, mà...
- Tương phản - đối lập: nhưng, song...
- Sở hữu - phương tiện:
+ Sở hữu: của
+ Phương tiện: bằng, với...
1.3.3. ở các ngữ trực thuộc nối có liên kết hồi quy, phương tiện nối chặt luôn
luôn đứng đầu phát ngôn. Cho nên dấu hiệu chính để nhận diện phép nối chặt


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

hồi quy là sự có mặt của từ nối ở đầu phát ngôn. Tuy nhiên cần chú ý tới hai
trường hợp:
- Phân biệt ngữ trực thuộc nối với câu qua lại:
Ví dụ:
(1)

Để giành thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công

nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất
(Hồ Chí Minh)
(2)

Vì chưa gột rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có đảng viên

còn kể công với Đảng.

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

Chương 2
Khảo sát phương tiện liên kết thể hiện phép nối lỏng
trong một số tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao

2.1. Kết quả thống kê
Trên cơ sở lí luận của chương 1, áp dụng cho một số tác phẩm tiêu biểu
cụ thể của các nhà văn khác nhau, chúng tôi đều thu được những kết quả nhất
định.
ở bài viết này, chúng tôi chỉ đi nghiên cứu sâu vào các tác phẩm của
nhà văn Nam Cao. Sau khi khảo sát số liệu tác phẩm chúng tôi thống kê được
tác giả đã sử dụng 1350 phương tiện liên kết câu thể hiện qua phép nối lỏng
trong 19 tác phẩm (gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết) của ông.
2.2. Phân loại
Qua việc khảo sát thống kê ở trên, chúng tôi đã phân loại được các
phương tiện thể hiện phép nối lỏng khác nhau trên cùng một tác phẩm. Tuy
nhiên, xét theo tần số xuất hiện từ nhiều nhất đến ít nhất các phương tiện nối
lỏng, trong 19 tác phẩm (cả truyện ngắn và tiểu thuyết) của Nam Cao, chúng
tôi đã phân loại cụ thể như sau:
- Kiểu nối lỏng có phương tiện nối là các từ và cụm từ làm thành phần
chuyển tiếp được xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm với 577 lần xuất hiện.
- Kiểu nối lỏng có phương tiện nối là các từ làm phụ tố có nghĩa so sánh
với 420 lần xuất hiện.
- Kiểu nối lỏng có các từ, cụm từ có liên kết dự báo xuất hiện với 290
lần.


Khoá luận tốt nghiệp




Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

... Kiện? Nhu đi kiện chồng? Ôi chao! Mới nghe Nhu không thể hiểu
rằng: người ta cần kiện nhau để bắt nhau yêu... Vả lại một người như Nhu, chỉ
chửi một câu đã ngượng lời rồi, bây giờ đứng ra kiện, để hạch tội một người
chồng mà chưa bao giờ Nhu dám nói nửa lời chống cưỡng...
(ở hiền - Nam Cao)
Trong liên kết trên lời, từ vả lại cũng được sử dụng khá phổ biến.
Ví dụ:
Anh lắc đầu, nói như người chực khóc:
- Đã đành, ốm thì chắc người ta cũng phải cho mình nghỉ [...] Thiệt đến
người ta thì người ta phải xót... Vả lại mình ăn cơm, lấy công của người ta,
mình phải nghĩ.
(Điếu Văn - Nam Cao)
Như vậy, với chức năng phương tiện nối lỏng của liên kết lời nói hay
liên kết văn bản trong tác phẩm của Nam Cao, từ vả lại chủ yếu dùng để bổ
sung, nhấn mạnh ngữ nghĩa cho đoạn văn hoặc cho lời nói của tác giả hay của
nhân vật trong tác phẩm. Do đó, nó thường có trong các tổ hợp từ có chức
năng nối lỏng kiểu vả lại là..., vả lại đi nữa...
Bên cạnh từ vả lại, Nam Cao cũng sử dụng thành công các từ: đồng
thời, bỗng nhiên, chẳng hạn... trong tác phẩm và cũng với tần số xuất
hiện cao.
2.3.1.2. Với các kết hợp cố định hoá như: tiếp theo, thứ hai, ngoài
ra, hơn nữa... thì việc làm thành phần chuyển tiếp và làm phương tiện nối
lỏng là những chức năng điển hình của chúng.
Trong tác phẩm của mình, Nam Cao cũng thường xuyên sử dụng các

khác, một cách tóm tắt... Hầu hết những từ này đều có nguồn gốc rút ra từ
vế thứ nhất của câu qua lại (như: Nếu nói một cách tóm tắt thì...).
Ví dụ:
... Đàn anh thì bóp nặn hà hiếp, gian giảo, vô liêm sỉ, chuyên sống
bằng mồ hôi nước mắt của con em (1). Nói tóm lại, trong cách sống, trong


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

việc mưu sinh, trong sự giao tiếp của người dưới đối với người trên, của người
nọ đối với người kia, chẳng có một chút gì có thể gọi là lạc thú (2)....
(Sống mòn - Nam Cao)
Phân tích ví dụ trên ta thấy, tổ hợp từ nói tóm lại đã làm nhiệm vụ
liên kết câu (1) và câu (2) với nhau. ở đây, nói tóm lại mang hai chức năng:
nó vừa có chức năng chuyển tiếp và vừa có chức năng dẫn nhập cho một nhận
định về quy luật cuộc sống mà tác giả nắm bắt được.
- Mô hình từ nối + đại từ: Với từ nối là giới từ, ta có: trên đây, trước
đây, sau đó, từ đó, do vậy v.v...
Với từ nối là liên từ, ta có: vì vậy, bởi vậy, như thế, tuy thế v.v...
Xét một cách cụ thể, những từ nối này mang tính chất trung gian. Nghĩa
là một mặt, chúng có xu hướng cố định hoá, điều đó thể hiện ở sự lặp lại
thường xuyên với tần số cao. ở việc sử dụng hoặc tiếp thu theo cả khối. ở góc
độ này, chúng được xem như những phương tiện nối lỏng.
Mặt khác, những kết hợp thuộc nhóm này lại vẫn chưa chuyển thành
cụm từ cố định hoàn toàn, từng yếu tố của chúng vẫn giữ nguyên được ý nghĩa
và chức năng riêng của mình. Dưới góc độ này, trong tiếng Việt có thể tách
riêng các đại từ và coi chúng là phương tiện của phép thế đại từ. Về mặt chức
năng trong phát ngôn phần lớn các kết cấu này sẽ làm trạng ngữ.

Cùng với Nam Cao, các nhà văn hiện thực phê phán xã hội chủ nghĩa
30 - 45 cũng sử dụng rất nhiều các tổ hợp từ liên kết câu thể hiện phép nối
thuộc mô hình từ nối + đại từ trong tác phẩm của mình.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn cùng thời với Nam Cao. Trong từng
trường hợp cụ thể, ông cũng sử dụng phép nối hoặc phép thế đại từ, giúp người
đọc hiểu sâu hơn giá trị nội dung tác phẩm.
Ví dụ:
(1)

Xưa nay, không ai biết chết đến lần thứ hai để được bài học kinh

nghiệm về cách chết.Vì vậy, vẫn có nhiều người chết một cách ngờ nghệch.
(Thịt người chết - Nguyễn Công Hoan)


Khoá luận tốt nghiệp

(2)

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

Đang nắng sém mặt sém mày, bỗng nổi trận mưa rào. Như vậy,

lưng đang nhễ nhại mồ hôi, thì bị ngay ướt những nước lạnh.
(Được chuyến khách - Nguyễn Công Hoan)
ở ví dụ (1): Vì vậy có quan hệ nguyên nhân với ý trong phần câu còn
lại sau tổ hợp này. Do đại từ vậy làm nhiệm vụ thay thế cho ý ở câu đứng
trước mà câu đứng trước trở thành có quan hệ nguyên nhân với câu chứa Vì
vậy. Nên trong trường hợp này, liên kết câu được thể hiện qua phép thế đại
từ.

Ví dụ:
Bác kể như thế này: thoạt tiên bác chỉ vào Hiền. Rồi bác nắm hai tay
lại, đặt lên ngực để làm hai cái vú. Rồi bác ngoẹo cả đầu về một bên, ve vẩy
hai tay và uốn éo mình. Thế nghĩa là: một vật thuộc về Hiền, mà nó lại có hai
cái vú, mà nó lại đi ve vẩy...
(Truyện người hàng xóm - Nam Cao)
Trong ví dụ trên, người đọc dễ dàng nhận thấy tác giả đã sử dụng phép
nối lỏng Thế nghĩa là làm thành phần chuyển tiếp để liên kết hai phát ngôn.
Thế nghĩa là có tác dụng dẫn nhập phát ngôn sau sẽ là thành phần giải thích
cho phát ngôn trước đó.
2.3.2. Xuất hiện với tần số hoạt động cao thứ hai trong tác phẩm của
Nam Cao là kiểu phương tiện nối có các từ làm phụ tố của nghĩa so sánh
Xét về chức năng trong phát ngôn, các yếu tố này có thể chia làm 2
nhóm là:
1 - Các từ làm phụ tố trong động từ và 2 - các từ có nghĩa so sánh là phụ
tố trong danh ngữ.
Khảo sát trong một số tác phẩm của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy sự
xuất hiện của hai nhóm này không đồng đều nhau. Tần số xuất hiện của nhóm
1 nhiều hơn so với nhóm 2.
2.3.2.1. Các từ làm phụ tố trong động ngữ gồm các phụ từ so sánh như:
cũng, lại, vẫn, càng, còn, cứ, nốt... và các trợ động từ như: thêm. Khi sử


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

dụng, các phụ từ này còn có thể kết hợp lại để bổ sung nghĩa cho nhau (ví dụ:
lại cũng, vẫn cứ, vẫn còn...)
Ví dụ:

nghĩa, cũng có ba nghĩa...). Đó chính là hiệu quả lớn nhất mà Nam Cao đã
thể hiện trong tác phẩm của ông.


Khoá luận tốt nghiệp

Lê Thị Ngọc Bính - K29G Văn

2.3.2.2. Nhóm thứ hai là các từ có nghĩa so sánh làm phụ tố trong danh
ngữ. Nhóm này gồm những phụ từ đứng trước danh từ như riêng, còn và
đứng sau danh từ như khác, nữa. Chức năng nối lỏng của chúng cũng do ngữ
nghĩa của chúng quy định.
Tuy nhiên, trong tác phẩm của Nam Cao, nhóm này hoạt động với tần
số thấp, không đáng kể và bài viết không đi sâu nghiên cứu về nhóm này.
2.3.2.3. Ngoài ra còn một số từ khác thuộc loại phương tiện nối có các
từ làm phụ tố có nghĩa so sánh mang tính chất chêm xen như: trên đây, như
trên, thứ nhất, sau đây... chúng được sử dụng như những phụ tố đứng sau
danh từ. Tuy nhiên, trong tác phẩm của Nam Cao, những từ này thường xuất
hiện với tần số sử dụng thấp. Sở dĩ như vậy vì Nam Cao rất kiệm lời bình luận.
Hầu như trong tác phẩm của mình, ông để cho các sự kiện cứ thế tiếp diễn.
Khái quát lại bằng những phát ngôn có chỉ dẫn hội thoại trên đây, như
trên để đưa ra ý kiến của mình là hành động ít gặp trong tác phẩm của Nam
Cao. Các phương tiện nối lỏng như trên đây, như trên xuất hiện ít là vì
thế.

2.3.3. Một loại phương tiện nối lỏng nữa mà hiệu quả quả sử dụng cũng
như số lần xuất hiện của nó khá cao đó là phương tiện nối lỏng với những
từ và cụm từ có liên kết dự báo
Nhìn một cách tổng thể, người đọc rất dễ nhầm lẫn giữa các từ và cụm
từ có liên kết dự báo với những từ, cụm từ làm phụ tố đứng sau danh từ mang

Với việc dùng liên kết dự báo là một phương tiện liên kết thể hiện phép
nối, Nguyễn Công Hoan trong tác phẩm của mình, ông cũng đã sử dụng chúng
như một biện pháp nghệ thuật độc đáo:
Ví dụ:
... Mới đầu người ta mời anh thử một điếu, anh nhất định gạt ra, chê là
dọc tẩu khai, và lỡ nghiện thì mất hết nhân cách. Rồi sau, vì bị ép uổng và chế
giễu nhiều quá, anh bất đắc dĩ phải nhượng bộ, nhưng hút xong, anh xúc
miệng thật kỹ, lợm giọng mất đến ba hôm...



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status