1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THÌN PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO
TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ VIỆC KHAI THÁC
CÁC PHƢƠNG THỨC CẤU TẠO HÀM NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
HÀ NỘI - 2011 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
2
GV
Giáo viên
3
HS
Học sinh
4
NXB
Nhà xuất bản 5
MỤC LỤC
Trang
1.1.3. Phân loại hàm ngôn
21
1.1.4. Các phương thức cấu tạo hàm ngôn
23
1.1.5. Giá trị của cách nói hàm ngôn
38
1.2. Cơ sở tâm lí
39
1.2.1. Tâm lí lứa tuổi học sinh trung học phổ thông
39
1.2.2. Tâm lí tiếp nhận văn chương của học sinh trung học phổ thông
41
1.2.3. Tâm lí tiếp nhận tác phẩm văn chương từ phương thức tạo hàm
ngôn của học sinh trung học phổ thông
46
Kết luận chương 1
50
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƢỚNG VẬN DỤNG
CÁC PHƢƠNG THỨC TẠO HÀM NGÔN TRONG DẠY HỌC
NHỮNG TÁC PHẨM CỦA NAM CAO Ở TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
52
2.1. Thực trạng của việc dạy và học tác phẩm của Nam Cao trong
trường trung học phổ thông hiện nay
52
97
Chƣơng 3 : ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP, THIẾT KẾ GIÁO ÁN
VÀ THỰC NGIỆM
98
3.1. Đề xuất phương pháp
98
3.1.1. Những yêu cầu có tính nguyên tắc
98
3.1.2. Phương pháp dạy học tác phẩm theo hướng khai thác các
phương thức tạo hàm ngôn
101
3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm
102
3.3. Tiến hành thực nghiệm
126
3.3.1. Những vấn đề chung
126
3.3.2. Kết quả thực nghiệm
128
KẾT LUẬN
131
TÀI LIỆU THAM KHẢO
132
PHỤ LỤC
1
2
thông điệp sâu sắc không phải lúc nào cũng được thể hiện qua câu chữ một
cách đơn thuần mà nằm sâu trong lớp nghĩa hàm ẩn. Chính lớp nghĩa hàm ẩn
ấy là yếu tố góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn và sức sống cho tác phẩm.
Những tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao được đưa vào sách giáo khoa chương
trình ngữ văn trung học phổ thông là những tác phẩm như vậy. Bởi thế trong
quá trình đọc hiểu khám giá trị tác phẩm, người đọc rất cần vận dụng những
thành tựu của ngôn ngữ học và có thể nói, chỉ vận dụng hiệu quả những thành
tựu của ngôn ngữ học mới thấy hết được chiều sâu giá trị của những tác phẩm
bất hủ đó.
Mặt khác, chúng tôi lựa chọn đề tài này còn xuất phát từ chính niềm yêu
thích của bản thân với những tác phẩm của tác giả Nam Cao và niềm kính
phục trước tài năng của ông.
Từ những lí do trên, người viết đã lựa chọn đề tài: "Phương pháp dạy
học tác phẩm của Nam Cao trong trường trung học phổ thông từ việc khai
thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn". Hi vọng kết quả nghiên cứu của đề
tài dù nhỏ bé nhưng sẽ giúp giáo viên có thêm những tư liệu bổ ích để việc
dạy và học tác phẩm Nam Cao nói riêng và bộ môn Ngữ văn nói chung theo
hướng tích hợp trong chương trình phổ thông sẽ có hiệu quả hơn, bổ ích và lí
thú hơn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu hàm ngôn
2.1.1. Lịch sử nghiên cứu hàm ngôn trên thế giới
Trên thế giới có khá nhiều các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về hàm
ngôn và các vấn đề nghiên cứu liên quan đến nghĩa hàm ngôn.
Thứ nhất là H.P.Grice - nhà nghiên cứu đã xây dựng những cơ sở đầu
tiên quan trọng cho việc nghiên cứu các ý nghĩa hàm ẩn. Dựa vào nguyên tắc
cộng tác hội thoại của mình, Grice đã vạch ra những nét đầu tiên cho lí thuyết
về ý nghĩa hàm ẩn – những nét đầu tiên vô cùng quan trọng. Đến nay bất kì
d'implicite discursives), bản thân người nghe phải từ nghĩa từ ngữ tự mình suy
luận để nắm lấy. Ducot nhấn mạnh rằng: "thực chất của hàm ngôn là nói mà 4
coi như không nói, nghĩa là vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có sự vô
can của im lặng" (Dẫn theo Hoàng Phê) [49, tr. 100].
George Yule trong Dụng học cũng đã đề cập đến vấn đề hàm ngôn.
George Yule chỉ ra rằng, trong cộng tác hội thoại, khi người nghe nghe lời
diễn đạt phải nắm được là người nói đang cùng cộng tác và có chủ định thông
báo một điều gì đó. Cái điều gì đó ấy phải là điều hơn chính những gì mà
nghĩa của các từ cung cấp cho. Đó là thứ ý nghĩa phụ thêm được chuyển tải
(trong lời nói đó), được gọi là hàm ý (implicature).
Tiếp đến là tác giả J.R. Searle: Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp
(A: inderect speech act) do J.R. Searle đưa ra vào năm 1969 được phát triển
trong công trình Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp năm 1975. Ông đưa ra bốn
điều kiện hành vi thỏa mãn ở lời. Nghiên cứu của ông mới chỉ đứng ở phía
người nói mà chưa đặt ra trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, chưa đứng ở phía
người nghe để nghiên cứu sự nhận biết được các điều kiện vi phạm các hành
vi ngôn ngữ.
Ngoài những tác giả tiêu biểu kể trên, còn có một số tác giả khác cũng
nghiên cứu về hàm ngôn ở những cấp độ khác nhau như C.J. Fillmore, J. L.
Austin, G. Lakoff, D. Gordon
2.1.2. Lịch sử nghiên cứu về hàm ngôn ở Việt Nam
Kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu về hàm ngôn của các
nhà ngôn ngữ thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam cũng rất tích
cực tìm tòi nghiên cứu lĩnh vực này với những tính chất và ở những phương
diện khác nhau.
Hoàng Phê là một trong những người đầu tiên giới thiệu về nghĩa hàm
ngôn, nghĩa hiển ngôn. Ông đề nghị gọi điều nói ra gián tiếp - "khi chúng ta
nghe hiểu rằng ngoài nghĩa hiển ngôn (explicit meaning) tức là cái nghĩa mà họ
có thể rút ra từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và nghĩa bóng) của các từ ngữ có
mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy, còn có những ý
nghĩa vô hình không có sẵn trong ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và những mối
quan hệ cú pháp của câu nhưng vẫn thấu đến người nghe qua một sự suy luận.
Đó là ý nghĩa hàm ẩn (implicit meaning) của câu". [19, tr. 115] 6
Hồ Lê cho rằng: "Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn mà
người phát ngôn kí thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa biểu hiện
của phát ngôn, trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ
mà nghĩa hiển ngôn của phát ngôn biểu thị" [31, tr. 335].
Đỗ Thị Kim Liên có quan niệm về nghĩa hàm ẩn và nghĩa hàm ngôn
trùng với quan niệm của Đỗ Hữu Châu: "Nghĩa hàm ẩn là nghĩa có được nhờ
thao tác suy ý hay còn gọi là nghĩa ngoài câu chữ" và "Hàm ngôn là những
hiểu biết có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định. Đây là ý nghĩa
đích thực mà người nói hướng đến người nghe" [33,tr. 236].
Một số tác giả khác như Dương Hữu Biên, Nguyễn Hữu Cầu, Trần
Ngọc Thêm cũng có những quan niệm về hàm ngôn, hàm ý. Điểm thống nhất
trong quan niệm về hàm ngôn của các tác giả trên là đã tìm ra ranh giới và
phân biệt được nghĩa tường minh với nghĩa hàm ẩn. Họ cũng đều có chung
quan niệm: Tiền giả định là một loại nghĩa ngầm ẩn nhưng là nghĩa ngầm ẩn
không có giá trị thông báo. Tiền giả định được phân biệt với các nghĩa ngầm
ẩn khác như hàm ngôn (hoặc hàm ý, ngụ ý, ẩn ý tùy theo cách gọi tên của
từng tác giả). Mặc dù khi nói về loại ý nghĩa ngầm ẩn này, các tác giả dùng
những thuật ngữ khác nhau và có đôi chút khác nhau trong quan niệm nhưng
sự thống nhất tương đối cao giữa các tác giả đã giúp cho người đang học tập,
nghiên cứu về ngữ dụng học nói riêng không phải lúng túng trước các loại ý
nghĩa ngầm ẩn, đặc biệt là tiền giả định và hàm ngôn.
ra những biểu hiện của nó trong cuộc sống và trong các tác phẩm văn học
cũng đã được đề cập tới ở những cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, khai thác các
phương thức cấu tạo hàm ngôn như một phương pháp tiếp cận tác phẩm văn
chương trong giờ đọc hiểu văn bản hầu như chưa được đề cập tới và đây
chính là vấn đề được luận văn quan tâm.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn và lịch sử nghiên
cứu phương pháp dạy học tác phẩm của Nam Cao ở trường phổ thông
2.2.1. Lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo
hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn 8
Những năm gần đây, do yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học
ngữ văn, vấn đề dạy học theo hướng tích hợp được đặc biệt chú ý và quan
tâm. Qua một thời gian thực hiện, việc dạy học theo hướng tích hợp đã thực
sự thu được những hiệu quả nhất định. Bởi vậy đã có không ít những công
trình nghiên cứu đưa ra những phương pháp dạy học cụ thể theo hướng tích
hợp để từ đó tìm kiếm một phương pháp giảng dạy hợp lí, đạt hiệu quả giáo
dục. Việc tích hợp các thành tựu của ngữ dụng học vào đọc hiểu các tác phẩm
văn chương cũng đã được chú ý tới ở những cấp độ khác nhau.
Đặc trưng của văn chương là tính đa nghĩa, bởi vậy một trong những
đích đến của đọc hiểu tác phẩm là phải tìm được lớp nghĩa hàm ngôn, hàm ẩn
trong những hình thức nghệ thuật độc đáo để từ đó hướng học sinh tới chân,
thiện, mĩ của cuộc đời. Vì thế, dạy học tác phẩm văn chương để khai thác
nghĩa hàm ngôn đã, đang và sẽ được giáo viên luôn luôn chú ý. Tuy nhiên,
dạy học tác phẩm theo phương pháp khai thác các phương thức cấu tạo hàm
ngôn có lẽ là một vấn đề còn khá mới và có thể nói, đến nay, gần như chưa
có công trình nghiên cứu nào thực sự lớn đề cập riêng đến vấn đề này.
2.2.2. Lịch sử nghiên cứu của chuyên ngành phương pháp dạy học về tác
Nghiên cứu, khám phá những tác phẩm của Nam Cao, tác giả Nguyễn
Thị Thanh Hương trong bài Những tác động thẩm mĩ tiềm tàng trong tác
phẩm của Nam Cao đã đề cập đến những tác động thẩm mĩ rất quan trọng
trong sáng tác của nhà văn này: "Cách thể hiện thực tiễn rất mới của Nam Cao
trước hết là do kết quả của sự nhận thức về xã hội, về điều kiện sống của quần
chúng nhân dân Nam Cao giải quyết những vấn đề về số phận con người,
quyền sống, quyền làm người, khát vọng đời thường, quan điểm nghệ thuật
sâu sắc " từ đó, tác giả của bài viết nhấn mạnh: "Dạy tác phẩm của Nam
Cao ở trường phổ thông là phải giúp học sinh lĩnh hội được giá trị nhân văn,
nhân bản, chủ nghĩa nhân đạo và những tác động giáo dục thẩm mỹ trong tác
phẩm. Trên cơ sở đó, học sinh sẽ nhìn lại quá khứ, hiểu hiện tại, xây dựng
một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai".
Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương
pháp dạy học các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như: 10
Châu Thị Kim Ngân với đề tài: Nghiên cứu, tiếp thu và đi tới một cách dạy
thích hợp truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao trong chương trình bậc
Trung học cơ sở; Đỗ Bích Liên với đề tài : Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm "Chí
Phèo" và biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh lớp 11, Nguyễn Văn
Thắng với đề tài: Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận ngôn ngữ
người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao ở trường THPT; Trần Thị Thu
Hà với đề tài khóa luận: Vận dụng tri thức đọc hiểu để hướng dẫn học sinh
đọc tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao trong nhà trường THPT; Dương Văn
Binh với luận văn thạc sĩ: Hướng dạy học truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam
Cao ở trường THPT theo đặc trưng loại thể Các tác giả đều từ cơ sở lí luận
về phương pháp và cơ sở thực tiễn của dạy học tác phẩm Nam Cao đưa ra
những hướng dạy học tích cực nhằm giúp HS khám phá giá trị đích thực của
tác phẩm.
Trong thời gian 15 năm hoạt động ở lĩnh vực nghệ thuật, bằng sự lao
động nghiêm túc, miệt mài với quan điểm nghệ thuật tiến bộ, đầy tính nhân
văn, Nam Cao đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học không nhỏ. Khi
triển khai đề tài của luận văn, chúng tôi không nghiên cứu tất cả các tác phẩm
của Nam Cao mà chỉ tập trung vào hai tác phẩm tiêu biểu được lựa chọn và
đưa vào chương trình trung học phổ thông: Chí Phèo, Đời thừa.
Tất cả các tác phẩm khác của Nam Cao được sử dụng như tài liệu tham
khảo để mở rộng, phục vụ cho nghiên cứu.
Phạm vi tiến hành thực nghiệm phương pháp đề xuất là một số trường
trung học phổ thông thuộc địa bàn tỉnh Nam Định.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn được xây dựng với giả thuyết: Nếu có những giải pháp dạy
học tác phẩm Nam Cao trong trường trung học phổ thông theo hướng khai
thác các phương thức tạo hàm ngôn thì việc dạy và học tác phẩm của Nam
Cao nói riêng và tác phẩm Ngữ văn nói chung sẽ đạt được hiệu quả cao hơn,
có sức hấp dẫn và lí thú hơn.
12
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiếp nhận và trình bày những lí thuyết cơ bản về hàm ngôn và tâm lí
lứa tuổi học sinh trung học phổ thông làm cơ sở lí luận cho luận văn.
- Khảo sát thực trạng và đưa ra những định hướng cụ thể về việc vận
dụng phương thức cấu tạo hàm ngôn trong dạy học tác phẩm của Nam Cao ở
trung học phổ thông.
- Đề xuất những phương pháp, biện pháp cụ thể về việc dạy học tác
phẩm theo hướng khai thác các phương thức cấu tạo hàm ngôn.
- Trong phạm vi của luận văn nghiên cứu, chúng tôi thiết kế 1 bài dạy –
Chương 2: Thực trạng và định hướng vận dụng các phương thức tạo
hàm ngôn trong dạy học những tác phẩm của Nam Cao ở trung học phổ thông
Chương 3: Đề xuất phương pháp, thiết kế giáo án và thực nghiệm.
14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1. Thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan
1.1.1.1. Nghĩa hàm ẩn
Một phát ngôn ngoài ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn
ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp) được gọi là ý nghĩa tường minh (có tác giả gọi
là hiển ngôn, hay ý nghĩa theo âm chữ của phát ngôn) còn có nhiều ý nghĩa
khác nữa mà người nghe phải dùng đến thao tác suy ý (isference) dựa vào ngữ
cảnh và các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều
khiển hội thoại mới nắm bắt được.
Ví dụ: Phát ngôn : "Thôi, kẻ cắp chả dám ở chung với người. Để tôi
lên chợ Đồng Xuân tôi ở" ("Mất cái ví" – Nguyễn Công Hoan)
Phát ngôn trên có ý nghĩa tường minh là: Kẻ cắp không dám ở cùng
người, tôi lên chợ Đồng Xuân ở. Ngoài ra phát ngôn trên còn có ý nghĩa khác:
Chúng mày bố láo, dám nghi cho ông lấy cắp ví của chúng mày, vậy thì ông
về, không thèm chơi với chúng mày nữa. Ý nghĩa này không phải có thể tìm
được qua các câu chữ mà chỉ có thể suy ra từ tiền giả định (người đang nói và
đối tượng nghe câu nói này đang "ở chung", nơi ở không phải là chợ Đồng
Xuân), từ ngữ cảnh (ông Tham mất cái ví, con sen, thằng bếp đều có yếu tố
ngoại phạm, bà Tham và ông Tham không thể lấy tiền của chính mình theo
cách lập luận của ông Tham, vậy chỉ còn ông cụ đang ở chơi cùng nhà); từ
quy tắc điều khiển lập luận (người phát ngôn sử dụng câu thành ngữ đương
người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình" [12, tr. 561].
Ví dụ: " – Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!" (" Lão Hạc" – Nam
Cao)
Tiền giả định của phát ngôn này là: Lão Hạc (nhân vật xưng "tôi")
đang có con chó. Tuy nhiên, nội dung chính của phát ngôn không phải như
vậy mà là thông báo về việc sẽ bán con chó. Nếu lão Hạc không có con chó
thì không thể có việc lão định sẽ bán con chó. Như vậy tiền giả định không 16
thuộc bộ phận thông báo chính, không tạo nội dung chính của lời nói mà là
nội dung, điều kiện cho lời nói được tạo ra có ý nghĩa. Có thể hiểu, tiền giả
định là những điều được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận.
1.1.1.3. Hàm ngôn
Hàm ngôn là gì? Nếu tiền giả định là những hiểu biết có sẵn ở cả hai
phía (người nói, người viết và người nghe, người đọc – những nhân tố cơ bản
của cuộc giao tiếp) thì hàm ngôn là những ý hiểu sau cùng (của cuộc giao
tiếp). Nó là kết quả của sự suy ý.
Ví dụ: Cứ bảo tuổi sửu có được không?
Đồn rằng có một ông quan huyện rất thanh liêm, không ăn của đút lót
bao giờ. Bà huyện thấy tính chồng như vậy càng không dám nhận lễ của ai.
Có làng nọ muốn nhờ quan huyện bênh cho được kiện nhưng mang lễ vật gì
đến quan cũng gạt đi hết. Họ mới tìm cách đút lót với bà huyện. Dân nằn nì
mãi, bà nể tình mới bày cách:
- Quan huyện nhà tôi tuổi "tí", dân làng đã có ý như vậy thì hãy về đúc
một con chuột bạc đến đây, rồi tôi thứ cố nói giùm cho, họa may được chăng!
Dân làng nghe lời, về đúc một con chuột cống thật to, ruột đặc, toàn
bằng bạc đem đến. Một hôm, ông huyện trông thấy con chuột bạc mới hỏi đâu
ra, bà huyện liền đem tình đầu kể lại. Nghe xong, ông huyện mắng:
- Sao mà ngốc vậy! Sao lại bảo tôi tuổi "tí", cứ bảo tuổi "sửu" có
- Mất mấy con bò?
A Phủ trả lời tự nhiên:
- Tôi về lấy súng, thế nào cũng bắn được, con hổ này to lắm."
( Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Tiền giả định của phát ngôn trên là:
- A Phủ phải đi ở chăn bò trừ nợ cho thống lí Pá Tra
- A Phủ để hổ vồ mất một con bò của nhà thống lí
Nếu không có các tiền giả định sẽ không có các ý nghĩa tường minh là
- Thống lí Pá Tra muốn biết mất mấy con bò
- A Phủ về lấy súng bắn hổ 18
Các ý nghĩa tường minh này được tạo ra dựa trên những tiền giả định nêu
trên.
Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường
minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh. Nếu không có ý nghĩa tường
minh và tiền giả định của nó thì không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp.
Nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh ấy là căn cứ để
chúng ta xác định nghĩa hàm ngôn. Hoàng Tuệ nhấn mạnh quan hệ mật thiết
giữa hàm ngôn và hiển ngôn: "có hiển ngôn là có hàm ngôn. Nếu không có
hàm ngôn thì không cần đặt ra vấn đề hiển ngôn làm gì"[54, tr. 17]. Quay lại
ví dụ trên ta sẽ thấy rõ điều này:
Trong câu trả lời, A Phủ không trả lời trực tiếp vào câu hỏi của thống lí
mà trả lời bằng cách nói ra ý định của mình. Bằng cách đó, câu nói đạt được
những hàm ý:
- Vẫn thừa nhận việc để mất bò.
- Muốn lấy công chuộc tội
- Sẽ mang lại lợi ích to lớn hơn cho nhà thống lí Pá Tra.
Hàm ngôn trong câu trả lời của A Phủ được suy ra từ ý nghĩa tường
dậy không", tiền giả định "cậu áo dài trắng ngày nào cũng đến vào một giờ cố
định" được đánh dấu bằng dấu hiệu ngôn ngữ "cậu áo trắng dài đến rồi".
Hàm ngôn: "đã 9 giờ" không được báo trước bằng một dấu hiệu nào
trong phát ngôn tường minh.
1.1.2.4. Lượng tin và tính năng động của hội thoại
Tiền giả định không có tính thông tin. Nó không phải là cái mới và có
lượng tin thấp. Tiền giả định có thể là một bước để tiếp tục hội thoại nhưng
nếu tiếp tục hội thoại mà dựa vào tiền giả định thì cuộc hội thoại sẽ giật lùi và
đôi khi luẩn quẩn. Điều quan trọng đối với giao tiếp là tính năng động hội
thoại của tiền giả định, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn. Nói chung ý nghĩa
tường minh và hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn là tiền giả định.
Có nghĩa là ý nghĩa tường minh và hàm ngôn (nằm trong ý định truyền báo
của phát ngôn) là một giai đoạn trong hội thoại, từ giai đoạn này mà hội thoại
tiến lên bước mới. Ví dụ: 20
"- Thôi, u không ăn, để phần con. Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa
thôi. U không muốn ăn tranh của con. Con cứ ăn thật no, không phải nhường
nhịn cho u.
- Vậy bữa sau con ăn ở đâu?
Điểm thêm một giây nức nở, chị Dậu ngó con một cách xót xa:
- Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghị thôn Đoài." ("Tắt đèn" – Ngô Tất Tố)
Cuộc thoại này tiến lên dựa vào hàm ngôn: Chị Dậu phải bán con cho
Nghị Quế. Như vậy đối với một hướng hội thoại đã cho, hàm ngôn có tính
năng động hội thoại cao, nó là bước thúc đẩy cuộc thoại tiến lên đạt tới đích.
1.1.2.5. Phản ứng với các dạng phát ngôn
Tiền giả định bất biến với các phép biến đổi cú pháp. Với tiền giả định,
khi phát ngôn chuyển từ dạng khẳng định sang phủ định, khi chuyển từ phát
ngôn xác tín sang phát ngôn hỏi, mệnh lệnh, tiền giả định vẫn giữ nguyên