LỜI CẢM ƠN
Đối với em, khóa luận này là công trình nghiên cứu quan trọng nhất trong
quãng thời gian là sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Em sẽ không thể đạt được kết quả này nếu như không có sự chia sẻ của gia đình,
những lời động viên của cô giáo chủ nhiệm và quan trọng nhất là sự định hướng và
dìu dắt của giảng viên hướng dẫn - Tiến sĩ Trần Ngọc Hiếu. Em xin bày tỏ lòng tri
ân sâu sắc tới thầy, người luôn gợi mở cho em những ý tưởng sáng tạo, những
hướng đi mới, khuyến khích em khám phá những khả năng. Thầy đã tận tâm chỉ
bảo em từng bước trong quá trình tích lũy, nghiên cứu và thực hiện công trình này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa và đặc biệt là các thầy
cô của Tổ Lí luận Văn học, bằng tri thức và tâm huyết của mình, đã truyền đạt
những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại khoa. Các thầy cô
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công việc tìm hiểu, thực hiện và hoàn thành khóa
luận của em.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Tâm An
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
4. Mục đích nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 9
7. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1 10
văn hóa và thời đại mà họ sống. Vì lẽ đó, nghiên cứu diện mạo của bệnh tật thể hiện
qua ngôn ngữ nghệ thuật là một hiện tượng thú vị, đáng quan tâm.
1.2. Là một hiện tượng thường gặp trong đời sống nhưng khi nào một tình
trạng sinh lý được coi là bệnh, chúng được mô tả như thể nào, tạo nên những cảm
quan gì lại mang tính diễn ngôn. Cách người ta nói, viết, diễn tả thế nào về bệnh
tật, hay nói khác đi, các diễn ngôn bệnh tật chi phối rất lớn đến cách người ta ứng
xử với nó. Tuy bệnh tật xuất hiện nhiều trong các sáng tác văn học, nghệ thuật,
nhưng nghiên cứu về sự thể hiện bệnh tật còn là lãnh địa chưa được khai phóng. Xu
hướng chú ý đến các bệnh tật như là diễn ngôn và nghiên cứu cơ chế kiến tạo diễn
ngôn ấy còn tương đối mới mẻ. Và đây là hướng đi của luận văn này.
1.3. Hiện trạng dân số già dẫn tới các bệnh lão khoa ngày một gia tăng, trong
đó Alzheimer (còn có tên khác là bệnh lú lẫn, mất trí, suy giảm trí nhớ) vẫn được
coi như căn bệnh nguy hiểm và đáng sợ nhất, hơn cả ung thư và cái chết. Năm 2006
có 26,6 triệu người mắc bệnh Alzheimer trên toàn thế giới. Dự đoán tỉ lệ mắc
Alzheimer trên thế giới sẽ là 1 trên 85 vào năm 2050
1
. Nỗi sợ Alzheimer có thể do
sự phát triển của nó trong thời gian qua, nhưng phần nhiều chính bởi những nguy cơ
tiềm tàng mà căn bệnh này có thể gây ra cho từng cá nhân con người… Có lẽ vì thế
mà bệnh Alzheimer đã trở thành đề tài được khai thác khá nhiều trong các văn bản
tự sự đương đại những năm gần đây.
1
Dựa theo số liệu của wikipedia: http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%87nh_Alzheimer
-1-
Mặc dù số lượng tác phẩm văn học và điện ảnh về căn bệnh này đã tăng đáng
kể trong thập kỷ qua, chỉ có một vài trong số đó tập trung khắc họa thế giới chủ
quan của những bệnh nhân Alzheimer. Ở truyện ngắn “The bear came over the
mountain” (“Con gấu trèo qua ngọn núi” - 1999) của Alice Munro (được Sarah
Polley chuyển thể thành phim Away from her (Lìa xa nàng - 2006) và phim Shi
(Thơ ca - 2010) của nhà văn – đạo diễn Lee Chang Dong, ta nhận thấy có sự tồn tại
-2-
rượu. Không có rượu là thể xác và tinh thần bị tê liệt. Vậy rượu không gây được
nguồn cảm hứng. Trái lại tại rượu mà nguồn cảm hứng không bền bỉ. cho nên nhà
thơ lệ thuộc rượu chỉ sáng tác từng thời kỳ mà thôi. Không làm việc liên tục được
nên không sáng tác được những tácphẩm trường thiên mà chỉ làm được những đoản
thiên, cố nhiên vẫn có giá trị. Tuy rượu không giúp thêm phần cảm hứng, nhưng
chắc chắn có ảnh hưởng về xu hướng sáng tạo. Ta thấy thơ Tản Đà rõ ràng thuộc
loại thơ ngông mà ngông vì đâu mà ra nếu không từ rượu: Khối Tình Con, Giấc
Mộng Con v.v… đều điển hình cho thơ ngông của Tàn Đà[…] rượu đã đóng một
vai trò quan trọng trong thi nghiệp của Tàn Đà”[14;27]
Xét về góc độ nghiên cứu, cả Trần Văn Bảng và Mạc Văn Phước đều khảo
cứu dưới góc độ y học Hai bác sĩ khảo cứu bệnh tật là chính, tìm ra những ảnh
hưởng của bệnh tật và sự phản ánh bệnh tật trong sáng tác văn chương của các văn
nhân chỉ là phụ. Điều này dễ hiểu, khi chuyên môn của họ là y tế. Chúng tôi cũng
ghi nhận hướng nghiên cứu của họ là khá mới mẻ trong môn Lịch sử Y khoa, và sự
đón nhận nghiên cứu cũng như chấp thuận luận án đó đã khẳng định một hướng đi
mới, có địa vị chính thức trong nghiên cứu y học.
Trần Thanh Mại nói đến tầm ảnh hưởng của bệnh phong đến thi nghiệp của
Hàn Mặc Tử qua cuốn Hàn Mặc Tử 1912-1940: thân thế và thi văn, nhà xuất bản
Tân Việt năm 1964. Là một nhà phê bình văn học theo phương pháp tiểu sử học,
chủ trương “lấy đời người để cắt nghĩa tác phẩm”, Trần Thanh Mại nghiên cứu rất
kỹ những chi tiết tiểu sử của Hàn Mặc Tử. Và ông cho rằng, cùng với đàn bà và tôn
giáo, chính bệnh tật là một nguồn “cảm thụ lực”, là yếu tố góp phần tạo nên những
đặc điểm nghệ thuật trong thơ Hàn. Theo ông, với người bị bệnh cùi, vào mỗi kỳ
trăng sáng, có thể có những tác động bí mật nào đó khiến vi trùng hoạt động mạnh
hơn, người bệnh trở nên đau đớn hơn, và vì thế, trăng đã trở nên một ám ảnh lớn
của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Trần Thanh Mại nhặt ra những câu có nhiều từ ngữ chỉ
dấu hiệu của người mắc bệnh cùi, như: “Người trăng ăn vận toàn trăng cả/ Gò má
riêng thôi lại đỏ hườm” (gò má - đỏ hườm), như: “Tình đã húp, sao ý vẫn còn sưng/
Sao giấy lại tháo mồ hôi ra thế?” (húp - sưng - tháo mồ hôi), hay: “Thịt da tôi
các căn bệnh hiện đại (trước đây là lao, bây giờ là ung thư), quan điểm lãng mạn
cho rằng bệnh tật biểu thị tính cách đã được mở rộng để khẳng định rằng bệnh nhân
mắc bệnh bởi anh ta không tự thể hiện bản thân. Dục vọng dịch chuyển vào bên
trong, ăn mòn các tế bào" [46;46]. Lối tâm lí hóa bệnh tật ấy thế chỗ cho những hiểu
biết sinh học về bệnh tật và, như Sontag nói, "dường như tạo ra sự kiểm soát cho trải
nghiệm, cho căn bệnh (nghiêm trọng) mà con người trong thực tế ít hoặc không thể
kiểm soát. Những suy tưởng tâm lý làm giảm bớt 'hiện thực’ về căn bệnh" [46;45].
Tuy nhiên suy diễn mang tính tâm lý cũng cho ta cái nhìn rộng hơn về thực tại. Lãng
mạn hóa bệnh lao thỏa mãn mong muốn phóng túng được thoát ra khỏi nghĩa vụ và
trách nhiệm xã hội, được lui về - một hòn đảo, một ngọn “núi thần” (như tiểu thuyết
Thomas Mann) - và chỉ quan tâm đến chính mình và sự yếu ớt của mình. Ung thư lại
phản ánh cái nhìn hoang mang về một thế giới trước nguy cơ đối mặt với lực lượng
xâm hại: chất gây ô nhiễm, khói thuốc lá, các tia gây chết người; và cách nghĩ đó
phục vụ cho mục đích cô lập chính trị và bài ngoại.
-4-
Mặc dù cả lao và ung thư trong nhiều thế kỷ qua đã có mặt trong các tiểu
thuyết, Sontag nhận ra rằng có một căn bệnh khác trở thành "phương tiện chuyên
chở cảm xúc 'tinh thần' và sự bất mãn 'có tính phản biện' xã hội", đó là bệnh điên.
Với nguyên nhân xã hội, môi trường, gia đình, di truyền, sinh học, chứng điên có vẻ
bí ẩn và dường như khó chữa trị. Giống như bệnh lao và ung thư, mất trí – điên loạn
lảng tránh những gì Sontag gọi là "tiền đề y học rằng mọi loại bệnh đều có thể được
chữa khỏi" [46;5]. Các tác giả như bác sĩ tâm thần R.D. Laing và Thomas Szasz,
tiểu thuyết gia Ken Kesey, và nhà thơ - tiểu thuyết gia Sylvia Plath đã cấp cho bệnh
tâm thần một hào quang của sự không tương hợp, khả năng sáng tạo, và thậm chí cả
nhãn quan sắc sảo về các vấn đề chính trị xã hội. Những hành xử phi lý, theo
Sontag, thể hiện một "huyền thoại thế tục về sự siêu việt" [46;35].
Sontag cho rằng bệnh tật có các ý nghĩa văn hóa rõ ràng. Trong khi lao đã
từng là một căn bệnh "được thèm khát", ung thư và AIDS lại là bệnh "nhơ bẩn", cơ
thể dường như biểu hiện trạng thái không lành mạnh của tâm trí. Ngược lại với ung
thư và AIDS, bệnh lao "đã được coi như một kích thích tính dục, trao cho người
(Hãy nhắc lại đi, tôi là ai -1998) của Linda Grant; tiểu thuyết Atonement (Chuộc tội
-2001) và Saturday (Thứ Bảy -2005) của Ian McEwan; Choke (Nghẹn -2001) của
Chuck Palahniuk (được Clark Gregg chuyển thể điện ảnh và đạo diễn năm 2008),
tác phẩm phim-kịch-thơ Black Daisies for the Bride (Hoa cúc đen cho cô dâu -
1993) của Tony Harrison.
Phần lớn các nghiên cứu hiện hành về bệnh Alzheimer chỉ giới hạn trong
lĩnh vực y tế - tâm lý - xã hội học về sự lão hóa, cái chết và sự đau buồn, cùng lĩnh
vực đạo đức sinh học (Bioethics). Tuy nhiên, tần số xuất hiện bệnh Alzheimer trong
văn học ngày càng gia tăng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu căn
bệnh này từ góc độ văn học. Các văn bản nghệ thuật này có vai trò cụ thể trong việc
tạo lập nhận thức của con người trong những tình huống đạo đức gây ra bởi
Alzheimer, cũng như sự tri nhận về cá nhân và chiều kích văn hóa của bệnh tật và
cái chết.
Về bệnh Alzheimer, Tiến sĩ Patrick Fox trong bài báo “Social Consequences
of Forgetfulness and Alzheimer’s Disease: A Call for Attitudinal Expansion” (Hệ
quả xã hội của chứng quên và bệnh Alzheimer: cần mở rộng quan tâm) nhận xét:
“Nếu chúng ta tiếp cận sự quên từ quan điểm mở, ta có thể nhìn Alzheimer không
chỉ là một chứng bệnh, mà còn là một quá trình tự nhiên cần được hiểu theo diễn
tiến của nó. Chúng ta không lảng tránh những cách mô tả chú trọng vào bệnh lý và
khía cạnh tiêu cực, nhưng hãy cố nhìn sự quên và bệnh Alzheimer như một hiện
tượng có mục đích và ý nghĩa. Đó là phương thức mà cơ thể lên tiếng trong vô
thức” [45;39].
Theo ghi nhận của chúng tôi, chỉ có Bennett Kravitz trong công trình
Representations of Illness in Literature and Films (Sự thể hiện bệnh tật trong văn
học và điện ảnh) định danh Alzheimer là căn bệnh hậu hiện đại (“Post-modern
disease”) [35;11] tuy nhiên tác giả chưa từng giải thích lí do cho cách gọi đó của
ông. Đó sẽ là nhiệm vụ của chúng tôi trong luận văn này.
-6-
Theo Jason Kunin trong bài báo “A culture of forgetfulness” (Văn hóa của sự
quên), Alzheimer là diễn ngôn của thời đại, của văn hóa, bởi những sản phẩm của
Canada.Tác phẩm điện ảnh Hàn Quốc Shi mang về giải Kịch bản hay nhất cho Lee
Chang Dong tại Liên hoan phim Cannes năm 2010 cùng với hai đề cử khác.
-7-
Chúng tôi chỉ có thể tìm được những dư luận xung quanh hai bộ phim,
những bình luận ngắn, bài điểm phim, điểm sách. Những văn bản này chỉ nhắc đến
Alzheimer như hoàn cảnh của nhân vật, như một yếu tố của tình huống, cốt
truyện… Chưa có công trình nào nghiên cứu các tác phẩm này như một diễn ngôn
bệnh Alzheimer. Lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn đem đến một góc nhìn
mới về sáng tạo của các tác giả, cũng như xác lập việc thực hành đọc diễn ngôn
Alzheimer trong các tác phẩm trên nền hiểu biết về bản chất của bệnh và dòng mạch
tự sự về căn bệnh này trên phạm vi thế giới.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu bệnh tật như các diễn ngôn trong văn bản nghệ thuật,
tập trung vào sự thể hiện bệnh Alzheimer trong các tác phẩm “The bear came over
the mountain” (1999) của Alice Munro (phim chuyển thể Away from her năm 2006
của Sarah Polley) và phim Shi (2010) của nhà văn – đạo diễn Lee Chang Dong. Về
mặt văn bản, luận văn nghiên cứu trên chính bản chuyển ngữ của chúng tôi từ
nguyên bản “The bear came over the mountain” của Alice Munro [42; 275-323]
(phần Phụ lục 1), do hiện tại chưa có bản dịch Việt ngữ của truyện ngắn này.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:
- Thứ nhất: Khẳng định sự tồn tại của bệnh tật với tư cách diễn ngôn, tìm
hiểu các xu hướng tạo lập bệnh tật như là diễn ngôn trong văn bản nghệ thuật
- Thứ hai: Phân tích, định danh diễn ngôn bệnh Alzheimer trong các tác
phẩm “The bear came over the mountain” (1999) của Alice Munro (chuyển thể
thành phim Away from her) và phim Shi (2010) của Lee Chang Dong như những
quan niệm, những nhận thức mới về căn bệnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận văn nghiên cứu sự kiến tạo
diễn ngôn trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, văn học, mỹ thuật, điện
khỏe; cơ may" (ease). Như vậy ngoài ý nghĩa về sự bất thường, ốm đau, bệnh tật
còn mang cảm giác về sự khó chịu, sự không thoải mái, sự buồn phiền và âu lo.
Trong tiếng Việt “ốm” vừa có nghĩa “đau” và “khó ở”, còn theo phương ngữ miền
Nam có có nghĩa là “gầy”, biểu hiện gắn với tình trạng yếu, không khỏe (còn sắc
thái lại phụ thuộc vào ngữ cảnh). Trong tiếng Nga, “болень” là “ốm”, có các nét
nghĩa “bệnh”, "bệnh", "bệnh tật", "chứng bệnh". Cũng ở trang này có chữ “боль”
(“боль" là căn tố của danh từ болень) với các nét nghĩa: ""đau", "đau đớn", "nhức",
"rức", "đau nhức"
3
. Ngay cả ý niệm bệnh, ốm trong phạm trù vô thường của Phật
giáo là “sinh-trụ-dị-diệt”, thì “dị” cũng là “khác”, là “không bình thường”, cũng
tương đương với “ốm”, “bệnh” trong “sinh-lão-bệnh-tử” Xét qua nghĩa biểu niệm
của ốm, bệnh trong một vài ngôn ngữ trên thế giới, chúng tôi có thể kết luận được
về tính phổ quát của tư duy về đối tượng này.
Bệnh tật là hiện tượng phổ biến của nhân sinh, vì đã sống là có bệnh. Từ
trạng thái đó, bệnh tật gợi ra cho con người ta rất nhiều cảm thức về đời sống, về sự
hữu hạn, đặc trưng của kiếp người. Bệnh tật gắn với cái chết, mà cái chết là cái mà
con người ta không giải thích được. Vì thế bệnh thường đặt con người ta vào
ngưỡng giới hạn của sinh mệnh. Có lẽ do đó mà văn học, nghệ thuật hay tôn giáo
thường quan tâm đến tình trạng bệnh tật ở cõi nhân sinh.
Tôn giáo là hình thái cứu vớt, an ủi linh hồn con người, nên nó quan tâm đến
bệnh tật. Người phương Đông chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Phật giáo trong tâm thức
về thế giới, quy luật của vũ trụ. Chân lý thứ nhất về sự Khổ - Khổ đế (苦 諦) - xuất
hiện trong Tứ diệu đế cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không
trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là
khổ. Như vậy có bệnh là khổ. Khổ vì nỗi đau đớn thân xác. Khổ vì sự lo âu dày vò
trong tâm tưởng. Khổ vì phải phiền lụy tới những người xung quanh. Người Á
2
http://www.etymonline.com/index.php
3
ơ 9:20-22, Mác 5:21-43, Lu-ca 8:40-56): “Người đàn bà mắc bịnh mất huyết đã
mười hai năm. Không những bị bịnh trong thân thể, người đàn bà này còn bị coi
như “ô uế.” Luật pháp Môi-se, được chép trong sách Lê-vi Ký 15:19 viết, “Khi nào
một người nữ có kinh nguyệt, phải chịu ô uế trong bảy ngày; hễ ai đụng đến người,
sẽ bị ô uế đến chiều tối.” Gặp người khác, bà phải la lớn “Ô uế!” Bà bị xã hội xem
không khác gì một người cùi. Bà cũng bị cắt đứt khỏi sự thờ phượng Ðức Chúa
Trời, vì không được bước chân vào đền thờ. Người đã nghe tin về Ðức Chúa Giê-
xu, bèn lẩn vào đằng sau giữa đám đông, lại gần sau lưng mà rờ trôn áo Ngài. Vì
người đàn bà ấy tự nghĩ rằng: Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng sẽ được lành. Ðức
4
Mục từ “Black Death” trên http://en.wikipedia.org/wiki/Black_Death
-11-
Chúa Giê-xu bèn phán rằng: Ai sờ đến ta? Ai nấy đều chối; Phi-e-rơ và những
người đồng bạn thưa rằng: Thưa thầy, đoàn dân vây lấy và ép thầy. Ðức Chúa Giê-
xu phán rằng: Có người đã rờ đến ta, vì ta nhận biết có quyền phép từ ta mà ra.
Người đàn bà thấy mình không thể giấu được nữa, thì run sợ, đến sấp mình xuống
nơi chân Ngài, tỏ thật trước mặt dân chúng vì cớ nào mình đã rờ đến, và liền được
lành làm sao. Ðức Chúa Giê-xu phán rằng: “Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa
lành ngươi; hãy đi cho bình an”. Liền trong giờ đó, người đàn bà lành
bịnh”[9;1433]
. Như vậy, chỉ cần có đức tin, con người ta sẽ được chữa lành bệnh.
Kinh Thánh còn kể rất nhiều chuyện tương tự vể việc Chúa chữa bệnh hủi, chữa đui
mù, câm, bệnh quỷ ám, Chúa hồi sinh người đã chết Nếu đọc hết Phúc âm, ta sẽ
thấy Chúa dành nhiều thời gian để chữa lành người đau, nuôi người đói, an ủi người
buồn bực hơn là chỉ rao giảng về Đức Chúa Trời. Chúa Jesus hiện lên với tư cách
của Đấng chữa bệnh. Kinh Thánh chi phối mọi quan niệm của thời kì Trung cổ,
trước hết của các nhà thần học, về vũ trụ và về con người. Vì thế, quan niệm về
bệnh tật của người phương Tây cũng bị ảnh hưởng. Nó buộc họ phải luôn giữ đức
tin, không làm điều ác để không bị trừng phạt, và hơn hết là tin vào lòng thương của
kể so với tinh thần và khí thế hào hùng của dân tộc. Bài thơ Tây Tiến bị vùi dập
không thương tiếc, cũng là do những câu viết về cảm giác mệt mỏi, đau đớn: “Anh
bạn dãi dầu không bước nữa. Gục lên súng mũ bỏ quên đời” trong khi tâm thế của
Cách mạng “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”. Tác phẩm
bị quy chụp là phản ánh sai lệch hình ảnh người chiến sĩ mới, làm méo mó, mất
hình tượng người chiến sĩ, bi quan, không tích cực, ảnh hưởng xấu đến nhuệ khí của
quân ta. Từ điểm nhìn hiện đại, có thể lí giải rằng Quang Dũng thời đó đã có cảm
giác về sinh mệnh cá nhân. Thời kì mà sự thật về cá nhân bị cố ý che lấp một cách
có mục đích là thời kì văn học không nghe thấy tiếng nói của thân thể. Hơn nữa,
văn học 1945 – 1975 lấy “khởi nguyên” làm khung văn bản. Vì là “khởi nguyên”,
nên thế giới và con người khoẻ mạnh. Nó cũng nói tới bệnh, nhưng đó là bệnh của
thời khác, của “cha ông xưa”, của “nghìn đêm thăm thẳm sương dày” (Việt Bắc –
Tố Hữu). Những giai đoạn văn học lấy “mạt thế”, “loạn pháp”, “tận thế” làm
“khung” cho bức tranh thế giới mới thấy “bệnh” là của mình, trong mình.
Chỉ đến giai đoạn sau 1975, văn học đặt vấn đề đổi mới cách nhìn về con
người, nó mới được tự do sống với cái cá nhân, mới cảm nhận được nỗi đau của
mình là đáng kể. Nỗi đau ấy cay đắng và xúc động trong những bài thơ Xuân
Quỳnh “tự hát” về thân thể ốm yếu của mình. Nỗi đau ấy như giọt nước mắt rơi
thương cho những thân phận cá nhân như Nhĩ trong “Bến quê”, Quỳ trong “Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” của Nguyễn Minh Châu, nỗi đau cho những thân
phận lạc thời, những người già không thấy tương lai, như ông Thuấn và vợ trong
“Tướng về hưu”, lão Kiền trong “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp, anh Hòa
trong “Ngôi nhà xưa” của Đặng Nhật Minh Tiếng nói của những con người mang
bệnh được cất lên, được nghe thấy, vừa yếu ớt lại vừa mãnh mẽ. Đó là tiếng nói về
tình yêu, định kiến, về những khổ đau rất riêng tư trong góc khuất nơi thân phận
người, đòi được kêu lên, được thở than và trách móc, được bày tỏ và chiêm nghiệm.
-13-
Như vậy miêu tả người ốm, người bệnh, nghịch lý thay, chính là biểu hiện của sự
phục sinh ý thức cá nhân trong văn học.
Khoa học là lĩnh vực phát hiện ra các loại bệnh tật và bản thân sự phát triển
bố của cậu ấy không chịu đựng nổi sự bất thường của con trai mình. Một trong
những biện pháp chữa trị kinh khủng nhất là chích điện tinh hoàn của bệnh nhân,
nếu nhận thấy có sự cương cứng trong khi buộc họ xem phim sex đồng tính”. Một
-14-
người khác cho biết thậm chí những trại kiểu này đã sử dụng cả phương pháp tẩy
não nạn nhân để ép họ tin rằng xu hướng tình dục của họ là kết quả của một cú chấn
thương tinh thần trước đây: “Họ đã cố gắng ép anh ta nghĩ rằng mình là người đồng
tính vì bị chính cha đẻ của mình lạm dụng, hoặc phẫn nộ người cha nuôi, hoặc bị
chính mẹ đẻ của mình xa lánh. Họ đã cố gắng tiêm vào đầu nạn nhân những kịch
bản kỳ lạ với lý do anh ta đồng tính chỉ vì muốn mình nổi bật”.
Bên cạnh đó, cũng có những người kể lại, nơi họ đến hoàn toàn là một thứ gì
khác, chứ không phải “trại chữa trị” như cái tên. Trong thế ki XX phổ biến mô hình
“liệu pháp chuyển đổi” (conversion therapy hay reparative therapy
5
) - liệu pháp
tâm thần dựa trên giả thuyết rằng "đồng tính luyến ái là một rối loạn tâm thần và
người ta nên thay đổi thiên hướng tình dục đồng tính của mình" - để chữa đồng tính
nhưng hiện tại nó chỉ được ủng hộ bởi vài cộng đồng tôn giáo. Nhiều trại “Pray the
gay away” (cầu nguyện đồng tính biến mất) lại hoạt động theo phương hướng tách
riêng nam và nữ. Một nhân chứng tường thuật: “Bạn của em họ tôi đã được đưa đến
một trong số trại chữa trị kiểu này. Cô bé đã nhiều lần van xin cha mẹ thống thiết
rời khỏi trại, bởi phương pháp này hoàn toàn không hiệu quả mà còn mang lại cho
cô cảm giác tự ghê tởm bản thân. Thế nhưng sau mọi nỗ lực, cô bé vẫn bị buộc phải
hoàn tất chương trình. Cô bé đã tự tử một tháng sau đó kèm theo bức di thư: "Con
yêu bố mẹ dù cho bố mẹ có sai lầm như thế nào đi nữa. Bố mẹ đã dạy con cách ghê
tởm và chán ghét thay vì học cách yêu thương bản thân mình”. Cô chỉ vừa tròn 17
tuổi. Gần đây, California đã trở thành bang đầu tiên cấm những “chuyên viên trị
liệu” được phép hoạt động
6
. Và động thái này dựa trên nhận thức rằng: đồng tính
1.2.1. Diễn ngôn về các danh y
Theo Kinh Thánh, một trong những quyền năng của Chúa là chữa bệnh. Paul
Tournier trong A Doctor's Casebook in the Light of the Bible (Sách ghi ca bệnh của
một bác sĩ dưới ánh sáng của Kinh Thánh) đã đưa ra vấn đề lớn về Đức Chúa Trời và
sự chữa bệnh. Giáo sư Courvoisier viết rằng nghề bác sĩ là “một chức vụ cho những
người được kêu gọi, những người nhờ học hỏi và năng khiếu tự nhiên thiên phú, có
thể chăm sóc và chữa trị cho người bệnh [ ] người thầy thuốc lành nghề như vậy là
đồng công với Đức Chúa Trời”. Bác sĩ Pouyanne nói: “sự đau ốm và sự chữa lành là
một hành động của ân sủng”. Mục sư Alain Perrot cho rằng: “Bác sĩ là công cụ của
lòng nhẫn nhục của Thiên Chúa. Thuốc men là một sự ban phát ân sủng của Đức
Chúa Trời. Đấng nhân lành đã thương xót con người và cung ứng những phương
cách trị liệu cho những hậu quả xấu xa của tội lỗi”. Calvin mô tả thuốc men như là
ơn ban của Thiên Chúa, chữa trị thân thể con người là sứ mệnh Chúa giao, cũng như
việc chữa lành linh hồn con người (các trích dẫn lấy theo [1;35]). Tự sự về Đức Chúa
chữa bệnh cho con người trong Kinh Thánh nêu cao một niềm tin rằng: Cơ Đốc giáo
có thể biến đổi đời sống cho người yếu đuối và người bệnh tật. Đối với người ngoại
đạo, đời sống yếu đuối và bệnh tật là gánh nặng. Ở Sparta khi một đứa trẻ sinh ra,
phải được đem khi khám nghiệm, nếu nó khỏe mạnh thì mới được phép sống, nếu nó
ốm yếu hay tật nguyền thì phải bỏ chết bên sườn núi. Tiến sĩ Rendle Short cho biết
viện người mù đầu tiên Thalasius, một tu sĩ Cơ Đốc thành lập, chẩn y viện miễn phí
đầu tiên do Apollonius, một thương gia Cơ Đốc thành lập, bệnh viện đầu tiên mà con
người ta biết được là do Fabiola, một phụ nữ người Cơ Đốc thành lập [1;36]. Thực
chất, những thông tin ấy đều để khẳng định, Cơ Đốc giáo là tôn giáo đầu tiên quan
tâm đến những rách nát của đời sống.
-16-
Tuy nhiên, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới trong mục từ “Y khoa” lại kể
rằng: “Đối với người Hy Lạp, chính con Nhân sư Chiron đã dạy nghề thuốc cho
Asclepios. Thần chữa khỏi được bệnh, thậm chí làm người ta sống lại [ ] Zeus cho
sét đánh chết thần và biến thần thành một chòm sao” [5;1033]. Khả năng chữa bệnh
là độc quyền của Chúa. Vì thế, việc thầy thuốc chữa được bệnh cho phép thầy thuốc
bệnh bị đối xử, cách nhìn bệnh tật Người chồng trong phim Amour (Tình yêu
-2012) của đạo diễn người Đức Michael Haneke không đưa vợ vào bệnh viện vì ám
ảnh cách li, nơi con người có cảm giác mình bị đối xử như những thành phần bị loại
7
Xem http://hn.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/co-tich-ngot-ngao-o-trai-hui-c46a296293.html
http://citinews.net/doi-song/ron-nguoi-buoc-vao-trai-hui-bo-hoang-o-hy-lap-ADZ535A/
8
Xem http://kenh14.vn/ban-doc-tam-su/qua-hoang-tuong-em-gai-toi-phai-vao-trai-tam-than-629.chn
http://ngoisao.net/tin-tuc/thoi-cuoc/24h/ke-loan-luan-co-the-phai-vao-trai-thuong-dien-2523619.html
9
Xem http://www.vietnamplus.vn/da-den-luc-khuyen-khich-dau-tu-vao-cac-trai-duong-lao/236960.vnp
http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Trai-duong-lao-can-thiet-cho-nguoi-gia/10981404/484/
-17-
bỏ. Cho dù dịch vụ y tế có tân tiến, nó vẫn không thể đem lại tình cảm như của một
người chồng chăm sóc vợ.
Hãy chỉ xét cách truyền thông nói về cộng đồng người hủi: “Đổi thay trên
“đảo hủi””
10
, “Thăm làng "hủi" biệt lập ở Trung Quốc”
11
, “Thiên đường dưới vực
sâu của những phận người làng hủi”
12
, “Bị bỏ vào rừng vì bệnh hủi, hai mảnh đời
tìm thấy nhau”
13
, “Ám ảnh làng hủi "gặm nhấm" thân người”
14
, ta đã có thể thấy
sự cô lập người hủi được thể hiện trong thời hiện đại. Cách thể hiện ấy đã vô tình
Xem http://kenh14.vn/xa-hoi/ngoi-lang-hui-biet-lap-o-trung-quoc-20130613085924908.chn
12
Xem http://news.zing.vn/Thien-duong-duoi-vuc-sau-cua-nhung-phan-nguoi-lang-hui-post236511.html
13
Xem http://danviet.vn/tieng-dan/bi-bo-vao-rung-vi-benh-hui-hai-manh-doi-tim-thay-
nhau/2014030604045496p1c36.htm
14
Xem http://hn.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/am-anh-lang-hui-gam-nham-than-nguoi-c46a350062.html
15
Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Patch_Adams
16
Xem chi tiết tại http://mangamnhacdenbenhvien.vn/
-18-
trong thời hiện đại, khi con người nhận thức họ có thể làm điều gì đó để giảm dần
hoặc xóa hẳn những ấn tượng nặng nề về môi trường chữa bệnh.
1.2.3. Diễn ngôn về người bệnh
Xét cho cùng, phạm vi lớn nhất của diễn ngôn bệnh tật đương nhiên phải là
người bệnh. Họ thường được miêu tả là những người mong manh, dễ tổn thương và
đáng thương. Tuy nhiên, diễn ngôn về người bệnh cũng trải qua những vận động, va
đập, biến thiên.
Chẳng hạn, diễn ngôn về người mắc bệnh hủi trong Mathew 8:1-4 viết: “Khi
Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. Bỗng có một người
phong hủi tiến lại, bái lạy Người và nói: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể
làm cho tôi được sạch." Người giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch
đi." Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi." [9;1856]. Mười hai sứ đồ của Jesus
cũng có nhiệm vụ phải đem lại sự tinh sạch cho người ô uế. Một người bị ô uế là do
tội lỗi làm tâm trí nhơ nhớp, tấm lòng và thân thể bị ô uế vì những hậu quả của tội.
Lời nói và hành động của họ có thể làm ảnh hưởng hoặc lây ô uế cho môi trường tiếp
xúc. Chúa làm sạch tội lỗi loài người bằng sự tinh khiết thiên thượng (Mt,10:5-8a)
Chúng ta ngầm hiểu rằng trong thế giới xưa, người ta coi phong cùi là bệnh
tận cây kèo trên mái. Ngay ở chỗ lộ thiên cũng không ai được phép chào hỏi người
phong, cũng không được đến gần hơn hai thước. Nếu người phong hủi đứng ở đầu
gió, người ở cuối gió phải cách bốn mươi lăm mét. Ngay cả một quả trứng, các rabi
Do Thái cũng không ăn nếu bán ở chợ có người phong hủi đi qua. Chưa có bệnh
nào lại phân rẽ đồng bào như bệnh phong hủi.
Ở nước ta, bệnh hủi là một ám ảnh kinh hoàng, là một trong “tứ chứng nan
y”. Từ trong Lan trì kiến văn lục được Vũ Trinh viết vào đầu thế kỉ XIX đã kể về cô
gái bị bệnh hủi phải dọn ra ngôi nhà tranh ở riêng trong truyện “Tháp Báo Ân”. Bản
thân Thị Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao cũng là người có dòng giống của một
nhà có mả hủi, và điều này “khiến không một chàng trai nào phải phân vân”,
“người ta tránh thị như tránh con vật nào rất tởm” [3;14], tư cách hủi đã trở thành
một chỉ thị về con người, đưa Thị Nở trở thành hình tượng kẻ dị thường bị tẩy chay,
xa lánh (theo PGS.TS Lê Nguyên Cẩn, riêng tên của nhân vật đã là một điểm thú vị
- Nở là từ đọc chệch của “lở”, một triệu chứng trên da của người bị bệnh hủi [4;3]).
Hủi còn trở thành một ẩn dụ để lên án sự kì thị đẳng cấp trong tác phẩm Con hủi
của nữ văn sĩ người Ba Lan Helena Mniszek (1878–1943). Những bức thư nặc danh
được gửi liên tiếp cho Stefcia, nói rằng nàng không xứng đáng với cuộc hôn nhân
này và đối với giới quý tộc, nàng sẽ mãi mãi là một "con hủi" đã khiến nàng gục
ngã. Nàng chết đúng vào ngày cưới do bệnh viêm não, trong tấm áo cưới trắng tinh
như tâm hồn trinh bạch và cao quý của nàng. Ở đây, nhân vật không mang bệnh,
nhưng ý nghĩa kì thị và cô lập của bệnh đã khiến nhân vật rơi vào một bi kịch không
lối thoát.
Tuy nhiên, ca bệnh hủi nổi tiếng nhất ở Việt Nam mà nếu không nhắc đến sẽ
bị xem là thiếu sót, chính là thi sĩ quái dị nhất của phong trào Thơ Mới - Hàn Mặc
Tử. Ông theo Thiên Chúa giáo, nên khi mắc hủi luôn mặc cảm day dứt. Thi sĩ luôn
có cảm giác như mình bị trục xuất ra khỏi xã hội. Lòng mặc cảm không nói ra thành
lời nhưng chuyển vị thành thi tứ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Nhân vật trữ
tình trong “Đây thôn Vĩ Dạ” đứng “nép mình” (chữ của Chu Văn Sơn [13;263] vào
lá trúc, hoàn toàn có thể hiểu rằng nhân vật mặt chữ điền ấy là nhà thơ tự ti chủ
-20-
mạnh mẽ nhất, và là một trong những cảm giác khó khăn nhất để truyền đạt. Những
nghệ sĩ thị giác có nhiều cơ hội để kể kinh nghiệm về sự đau đớn, bởi cảm xúc
truyền tải trực diện sẽ mạnh mẽ hơn là trông đợi người ta phải tưởng tượng ra cảm
xúc đó. Đau đúng là một motif nhất quán trong nghệ thuật phương Tây và nghệ
thuật hội họa. Sự thể hiện thân thể đau đớn giữ một vị trí trung tâm trong nghệ
-21-
thuật, và những bức chân dung tự họa dường như nắm giữ vai trò đặc quyền trong
tự sự về nỗi đau.
Bức The Young Sick Bacchus (Chàng Bacchus ốm yếu), tiếng Ý: Bacchino
Malato, còn được gọi là bức Sick Bacchus hay Tự họa Bacchus của Michelangelo
Merisi da Caravaggio (1571-1610) là bức tự họa đầu tiên của nghệ sĩ Baroque này,
vẽ vào khoảng năm 1593 - 1594. Theo Giovanni Baglione - người viết tiểu sử đầu
tiên về Caravaggio, tác phẩm được họa sĩ tạo nên bằng cách nhìn vào gương.
The Young Sick Bacchus
Bức tự họa hẳn nhiên có một nội dung tự truyện của riêng nó. Caravaggio
chọn vẽ góc ba phần tư của khuôn mặt mình để làm nổi bật lên cái nhăn mặt và độ
nghiêng của đầu, tạo ra một cảm giác đau đớn rất thật. Sắc da vàng cũng tạo một
nỗi sợ vô hình khi xem tranh, bởi đó là nước da bệnh tật, lằn sâu thêm đường nét
tiều tụy trên gương mặt không quá hốc hác.
Chân dung tự họa là một phần quan trọng trong sự nghiệp của Vincent van
Gogh (1853-1890). Ông vẽ nhiều bức chân dung chính mình, nhưng có lẽ nổi tiếng
nhất là bức Self-portrait with Bandaged Ear, Easel and Japanese Print (Tự họa với
bên tai băng bó, giá vẽ và bức tranh Nhật Bản), vẽ năm 1889.
-22-
Self-portrait whit bandaged ear, Easel and Japanese Print - 1889
Không khó để nhận ra một tâm hồn đau đớn trên khuôn mặt ấy: Ông tự vẽ
mình sau khi cắt tai (được coi như biểu hiện của chứng điên ở Van Gogh). Sự đau
đớn được tập trung đặc tả qua ánh mắt, chúng như bị tra tấn, mỏi mệt và nội tâm
dẫn người xem hút vào thế giới tâm hồn của chủ thể trong tranh. Bất chấp sự đau
đớn ở bề mặt, vẻ mặt nhân vật giống như đang giao tiếp với người xem, kể với họ