Lời cảm ơn
Trong trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn nheịet
tình và chud dáo của cô giáo Phan Thị Thạch - giảng viên tổ Ngữ văn, các
thầy cô trong tôt Ngôn ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Thạch cùng toàn thể các
thầy cô giáo trong khoa đã giúp đxơ em hoàn thành tốt khoá luận này.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những hạn
chế, chúng tôi rất mong nhạn được sự đónggóp của thầy cô và bạn bè để có
thể tiếp tục hoan thiện trong quá trình học tập và gioảng dạy sau này.
Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Cao Thị Kim Thảo
Lời cam đoan
Trong quá trình thực heịen khoá luận, chúng tôi đã được sự gợi ý, soi
sáng bởi nheieù ý keíen của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Đây là kết quả nghiên cứu mới, tôi xin camđoan kết quả này không
trùng với kết quả nghiên cứu tác giả khác. Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm
Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Cao Thị Kim Thảo
Mục lục
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
3.3. đảo cú pháp với việc thể hiện tính cá thể hoá trong thơ
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Kí hiệu viết tắt
VD
: Ví dụ
VD1
: Ví dụ 1
VD2
: Ví dụ 2
Câu (1)
: Câu thứ nhất
Câu (2)
: Câu thứ hai
C,CN
Tr
: Trang
Sđđ
: Sách đã dẫn
PCT
: Thành phần phụ cảm thán
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đảo cú pháp là một trong những biện pháp tu từ đượcgiới thiệu trong
chương trình học tập ở năm cuối của sinh viên Ngữ văn trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2. Tìm hiểu hiệu quả của biện pháp tu từ này trong một số văn
bản thơ Việt Nam hiện đại, tác giả kháo luận có điều kiện hệ thống hoá kiến
thức về ngữ pháp câu, về các biện pháp tu từ cú pháp, về những vấn đề lý luận
có liên quan đến đảo cú pháp Nghiên cứu đề tài này, tác giả khoá luận sẽ
hiểu hơn đặc điểm cú pháp của ngôn ngữ văn chương và những đặc trưng cơ
bản của phong cách ngôn ngữ này. nhơ vậy, người làm khoá luận sẽ học tập
tốt hơn phần Phong cách học, đông fthời có được kĩ năng vận dụng đảo cú
pháp vào việc lĩnh hội văn bản văn chương.
Từ năm học 2006 - 2007, việc giảng dạy Ngữ văn ở trường Trung học
phổ thông (THPT) có nhiều thay đổi, trong đó nội dung giảng dạy về văn bản
nói chung, văn bản văn chương nói riêng được chú trọng. Việc tìm heieủ một
biện pháp tu từ cú pháp trong một số văn bản văn chương sẽ giúp chúng tôi
dụng tu từ nào đó, để thay đổi cảm xúc của người đọc, nhà thơ, nhà văn có thể
đảo lộn trật tự thông thường đó.
Ví dụ:
- Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi!
- Bạc phơ mái tóc Người Cha
Ba mười năm Đảng nở hoa tặng Người
( Tố Hữu)
Về trật tự cá bộ phận trong câu đơn giản, đây là câu có trạng ngữ được
mở rộng. Theo Đinh Trọng Lạc, việc đặt trạng ngữ ở trước hay sau vị ngữ còn
phụ thuộc vào sự hài hoà của âm thanh, nhịp điệu của câu. Đinh Trọng Lạc
cũng cho rắng: Khi đảo trạng ngữ lên trên vị ngữ, chủ ngữ thì câu văn nhiều
hình tượng, có tính chất gợi cảm rất rõ rệt.
Ví dụ:
- Rồi rưng rưng, cô khóc không ra tiếng.
( Nguyễn Công Hoan)
- Sẽ sàng, chị Dậu nhắc nó ra cạnh vại nước.
( Ngô Tất Tố)
Về trật tự các mệnh đề trong câu trực tiếp. Đinh Trọng Lạc đã nêu ngắn
gọm về việc để nhấn mạnh vào mệnh đề chính, nhiều khi người ta cũng đã để
mệnh đề chính ở trước và mệnh đề phụ có nếu:, vì, khi.ở sau. Nhưng,
nói chung, để đảm bào đặc điểm của Tiếng Việt thì người ta tuân theo thứ tự
thời gian mà đặc câu.
Ví dụ: Hai câu nói:
- ( Khi) cần thì anh cứ lấy mà dùng.
trình Phong cách học tiếng Việt, ( 1982), đã khẳng định một bước tiến mới
của chuyên ngành Phong cách học ở Việt Nam, đồng thời việc làm đó đã góp
phần làm phong phú nội dung giảng dạy về Phong cách học ở trường đại học
sư phạm. Tuy vậy, cách dùng thuật ngữ đảo ngữ và việc đặt tên bốn kiểu
đảo ngữ như các tá giả đã lựa chọn phần nào phản ánh hạn chế của họ trong
cách nhìn nhận về biện pháp tu từ này.
2.3. Trong cuốn Phong cách học và đặc điển tu từ Tiếng Việt, Cù
Đình Tú (1983), khi Khi sát đặc điểm tu từ của kết cấu cú pháp tiếng Việt
đã xem xét một loại Biến thể trật tự sắp xếp của kết cấu chủ vị (C - V
trong hoạt động sử dụng.
Vì không có mục đích giải thích biện pháp tu từ cú pháp, nên Cù Đình
Tú trong giáo trình của mình chỉ dừng lại ở việc mô tả biến thể cú pháp của
những câu có mô hình kết cấu V - C.
Khi xem xét loại biến thể cú pháp này, Cù đình Tú đã chỉ ra đó là
những biến thể có màu sắc đơn phong cách
(18, tr.336 - 338)
2.4. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) - Nguyễn Thái Hoà (1993), trong Phong
cách học tiếng Việt thống nhất sử dụng thuật ngữ đảo ngữ như các tá giả
giáo trình Phong cách học tiếng Việt , (1982). Tuy vậy, ở giáo trình này.
Đinh Trọng Lạc Nguyễn Thái Hoà đã nêu ngắn gọn một số kiểu đảo ngữ tiêu
biểu như:
a. Đảo vị ngữ - động từ ra trước chủ ngữ.
b. Đảo vị ngữ - tính từ ra trước chủ ngữ.
c. Đảo bổ ngữ - khách thể hiện lên đâu câu.
d. Đảo bổ ngữ - phương thức lên đâu câu.
2.5. Trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXBGD, Đinh
Trọng Lạc (1995) vẫn sử dụng thuật ngữ đảo ngữ để gọi tên biện pháp tu từ
cú pháp. Ông đã định nghĩa biện pháp tu từ này như sau:
Điểm lại tình hình nghiên cứu về biện pháp tu từ đảo cú pháp, chúng ta
thấy: đây không phải là một vấn đề hoàn toàn mới. Bởi vì, gần nửa thế kỉ qua
một số nhà phong cách học đã dành sự quan tâm nghiên cứu đến biện pháp tu
từ này. Đóng góp của các nhà khoa học được thể hiện ở sự nõo lực thông
thường của thành phần câu, hoặc thay đổi trật tự của các thành tố trong cụm từ
trong thành phần câu. Những đóng góp về mặt lí luận trên của họ làm phong
phú hơn nội dung nghiên cứu, nội dung dạy và học Phong cách học tiếng Việt.
Từ kết quả nghiên cứu về đảo cú pháp của các nhà Phong cách học
tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy: việc sử dụng đảo ngữ làm tên gọi cho một
biện pháp tu từ cú pháp chưa phản ánh đầy đủ các cách tổ chức biện pháp này.
Bản thân đảo ngũ chỉ biểu thị hiện tượng đảo trật tự của thành tố trong một
cụm từ. Thực tế nghiên cứu cũng cho thấy: việc nghiên cứu hiệu quả của đảo
cú pháp trong một số văn bản ở một thể loại theo góc nhìn của phong cách
chức năng ngồn ngữ vẫn là khoảng trống để sinh viên Ngữ văn và những người
quan tâm đến vấn đề này khai thác.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận
Hiệu quả tu từ của phép đảo cú pháp trong một số văn bản thơ Việt
Nam hiện đại
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu.
4.1. Lựa chọn sử dụng những lý thuyết của các chuyên ngành
Phong cách học, Ngôn ngữ học văn bản, Lí luận văn học, làm cơ sở lí
luanạ cho việc thực hiện đề tài khoá luận.
4.2. Thống kế, phân loại các kiểu đảo cú pháp trong những văn bản thuộc
phạm vi khảo sát.
4.3. Sử dụng các phương pháp phân tích Phong cách học, phương pháp hệ
thống, tổng hợp, để xác định hiệu quả của đảo cú pháp trong một số văn
bản thơ Việt Nam hiện đại.
Chương 1
Những cơ sở lí luận chung
1.1. Một số vấn đề lí luận cung của Phong cách học.
1.1.1. đảo cú pháp
1.1.1.1. Vấn đề lựa chọn thuật ngữ
Vì bản thân ý nghĩa của thuật ngữ đảo ngữ chỉ biểu thịư thay đổi trật
tự của các thành tố trong một ngữ ( một cụm từ), cho nên thuật ngữ này không
thể bao quát hết các kiểu đảo cú pháp trong tiếng Việt.
Dựa vào cách gội cú pháp đảo ngược của Đinh Trọng Lạc (1964),
dựa vào các bài tập biến đổi câu của Nguyễn Minh Tuyết, Nguyễn Văn Thiệp
(1996) và dựa vào kết quả khảo sát hiện tượng thay đổi trật tự thông thường
cau câu, của cụm từ, chúng tôi lựa chọn thuật ngữ đảo cú pháp để gọi tên
hiện tượng tu từ thuộc đối tượng nghiên cứu khoá luận.
1.1.1.2. Khái niệm
Dựa vào định nghĩa của các nhà Phong cách học, chúng tôi đưa ta cách
hiểu về biện pháp tu từ này như sa:
Đảo cú pháp là một biện pháp tu từ, trong đó cá nhân có ý thức thay
đổi trật tự thông thường các bộ phận, các thành phần của câu, hoặc thay đổi
trật tự thông thường các thành tố của cụm từ trong câu nhằm một mục đích tu
từ nào đó.
Sự thay đổi trật tự cú pháp thông thường chính là sự thay đổi trật tự cú
pháp mang tính chất chuẩn mực ngôn ngữ. Sự thay đổi trật tự cú pháp chuẩn
mực chỉ được thực hiện khi người nói, người viết có ý thức đưa thành phần
hoặc thành tố vốn đứng sau lên phía trước dạo ta lượng nghĩa bổ sung cho câu,
để câu có thể thực hiện tốt nhất những chức năng của nó trong hoạt độnggiao
tiế.
1.1.2. Phong cách chức năng ngôn ngữ và đặc trưng của phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật
tâm khai thác giá trị của biện pháp tu từ này trong việc phản ánh nội dung
nghệ thuật, tổ chức văn bản thơ, nhằm tạo ra chất thơ và làm rõ cá tính sáng
tạo của nhà thơ.
1.2. Một số lí luận của Ngữ pháp học
12.1. Cụm từ
Trong Ngữ pháp học, cụm từ ( còn được gọi là ngữ), khái niệm về cụm
danh từ, cụm động từ, cụm tính từ và những mô hình cấu tạo ngữ pháp theo
chuẩn mực ngôn ngữ của chúng được chúng tôi sử dụng làm những căn cứ
khoa học để nhận diện hiện tượng đảo trật tự các thành tố trong các cụm từ
chính phụ. Chẳng hạn; đảo bổ ngữ lên trước động từ, tính từ trung tâm của
cụm động từ, tính từ, đảo bổ ngữ lên trước danh từ trung tâm của cụm danh từ.
1.2.2. Câu
1.2.2.1. Khái niệm về câu
Diệp Quang Ban (1992), trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, đã
định nghĩa về câu như sau:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp 9 bên
trong và bana ngoài ) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương tối
trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện,
truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất
bằng ngôn ngữ.
(1, tr. 107)
1.2.2.2. Sự phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Dựa vào cấu tạo ngữ pháp, các nhà Việt ngữ học đã phân chia câu tiếng
Việt thành câu đơn, câu phức, câu ghép. Đặc điểm câu tạo ngữ pháp của từng
kiểu câu đã được các tác giả mô tả trong các giáo trình Ngữ văn tiếng Việt,
trong các sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học, sách giáo khoa tiếng Việt trung
học cơ sở )THCS) trước đây và sách giáo khoa Ngữ văn THCS những năm gần
đây. Những lý thuyết về các kiểu câu được phân chia theo đặc điểm cấu tạo
Chim rừng quân cất cánh
Giáo say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
(Hồ DZếch, Chiều)
Lại có trường hợp trong một câu thơ - một sòng thơ, tá giả sử dụng một
hoặc một số dấu cuối câu nhằm dụng ý tu từ.
Ví dụ:
Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!
( Thâm Tâm, Tống biệt hành)
Việc tổ chức các câu thơ có hình thức như vậy là để có được những âm
vang, những tiếng rung phù hợp với tình thơ, ý thơ trong mỗi tác phẩm.
b. Những căn cứ xác định đảo cú pháp trong văn thơ
Mặc dù thơ có cấu trúc cú pháp rất khác lạ, nhưng để nhận diện biện
pháp đảo cú pháp, chúng tôi vẫn dựa vào đặc điểm cú pháp chuẩn mực làm
căn cứ xác định.
Chẳng hạn; Trong cụm động từ hoặc cụm tính từ, bổ ngữ thường đứng
sau. Khi bổ ngữ được nhà thơ đưa lên trước thành tố chín, hoặc đưa lên đầu
câu thơ, lúc đó sẽ có đảo ngữ động từ hoặc đảo ngữ tình từ.
Dựa vào cấu trúc C - V chuẩn mực, khi gặp trường hợp câu thơ được tổ
chức theo cấu trúc V - C, ta có thể xác định ở đó có đảo tự chủ - vị
1.3. Một số lí luận của ngôn ngữ học văn bản
1.3.1. Khái niệm văn bản
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa về văn bản, song trong đề tài
nàychúng tôi khái niệm mà Diệp Quang Ban đã đưa ra trong cuốn Văn bản
và liên kết văn bản trong tiếng Việt, NXBGD, H, 1998.
Theo tác giả, liên kết được hiêủ trên cả hai phương diện này mới được
coi là cái quyết định cho một sản phẩm ngôn ngữ có phải là văn bản hay
không, từ đó xác định có hai loại liên kết: liên kết nội dung và liên kết hình
thức.
1.3.2.2. Diệp Quang Ban (1998) phát hiện ra năm đặc trưng của văn bản, đó
là:
- Yếu tố chức năng:
Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản, cụ thể là
người tạo ra văn bản dùng lời nói ( miệng hay viết) của mình để thực hiện một
hành động nào đó nhằm tác động vào người nghe. Chức năng này của văn bản
gắn trực tiếp với chức anưng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp.
(2,tr.22-23)
- Yếu tố nội dung:
Diệp Quang Bancho rằng mỗi văn bản có một hoặc vài ba đề tài,chủ thể
xác định. Yếu tố này giúp ta phân biệt văn với hiện tượng phi văn bản. Như
vậy, yếu tố nội dung của văn bản không những thể hiện ở chủ đề mà còn thể
hiện ở việc khai triển, duy trì chủ đề của văn bản.
(2,tr. 23)
- Yếu tố cấu trúc - hình thức:
Theo tác giả, yếu tố cấu trúc- hình htức là yếu tố quyết định việc hình
thành văn bản, trong đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài - chủ
để mạch lạc - đây là yếu tố giúp phân biệt văn bản với hiện tượng phi văn
bản ở mặt tổ chức hình thức. Diệp Quang Ban cho rằng: người ta có thể sử
dụng các phương tiện liên kết để tạo tính mạch lạc cho văn bản. Tuy vậy, có
liên kết, theo Diệp Quang Ban chưa chắc đã có mạch lạc
(2, tr. 23)
- Yếu tố định biên:
Cũng theo Diệp Quang Ban, văn bản có biên giới bên trái ( đầu vào) và
diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ qui chiếu, hoàn cảnh giao riếp rộng và hoàn
cảnh giao tiếp hẹp, ngữ huống).
(Xem Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học,tr. 39).
Nguyễn Văn Khang cho rằng: ngữ cảnh có thể hiểu là vật chất và hoàn cảnh
xã hội mà hành vi nói năng dựa vào đó để thực hiện. Từ cách ngữ cảnh
chung, ông phân biệt ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ.
Theo ông, ngữ cảnh ngôn ngữ có những tác dụng sau:
Ngữ cảnh có tác dụng chế ước và cưỡng chế việc sử dụng ngôn ngữ.
Ngữ cảnh có tác dụng hỗ trợ việc lí giải ngôn ngữ.
- Lượng thôngtin và ý nghĩa trở nên rõ ràng trong ngữ cảnh
- Ngữ cảnh có yêu cầu và hạn chế đối với người nói.
Trong khi đó, ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ có tác dụng chỉ ra hang floạt
các yếu tố như văn hoá, phong tục tập quán, chuẩn tắc hành vi, quanniệm giá
trị, sự kiện lịch sử, làm rõ quan hệ với người sử dụng.
(Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ xã hội, tr. 261 - 262)
Ngữ cảnh là một vấn đề phức tạp, vì nó là một mạng lưới chằng chịt
những mối quan hệ, nó có tác dụng làm cho giao tiếp trở nên phong phú, đa
dạng, sinh động và trở thành một bài toán luôn chờ đợi người tham gia giao
tiếp phải tìm lời giải. Vì thế, muốn xác định giá trị của một yếu tố trong hoạt
động sử dụng, người nghiên cứu phải dựa vào ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh
ngoài ngôn ngữ. đặt một yếu tố ngôn ngữ trong mối quan hệ với những yếu tố
ngôn ngữ khác bao quanh nó, tức là chúng ta đặt nó trong môi trường ngôn
ngữ mà nó lựa chọn, sử dụng và có khả năng phát huy tác dụng. Đặt yếu tố
ngôn ngữ trong cảnh ngôn ngữ, người nghiên cứu còn có thể trả lời được
những câu hỏi: yếu tố ngôn ngữ đó được sử dụng với chức năng nào, nó thích
hợp với phong cách ngôn ngữ nào, phù hợp với văn bản nào. Đặt một yếu tố
ngôn ngữ cần tìm hiểu trong ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ là chúng ta đặt nó trong
mối quan hệ với những nhân tố đóng vaui trò tiền đề, quy định việc lạư chọn,
Chương 2
Miêu tả kết quả thống kê, phân loại đảo cú pháp
trong một số văn bản thơ việt nam hiện đại
2.1. Tiêu chí và kết quả phân loại đảo cú pháp
2.1.1. Tiêu chí phân loại
ở chương 1, mục 1.1.1, chúng tôi căn cứ vào đặc điểm đấu cấu tạo ngữ
pháp chuẩn mực của cụm từ, câu đơn hai thành phần và câu ghép chính phụ để
nhận diên biện pháp tu từ đảo cú pháp. Chúng tôI cũng dựa vào trật tự các
thành tố trong một cụm từ chính phụ, trật tự của hai thành phần chính CN
VN của câu đơn hai thành phần, hoặc của cụm C V trong câu, đồng thời dựa
vào trật tự của hai về trong câu ghép chính phụ để phân loại đảo cú pháp trong
tiếng Việt.
2.1.2. Phân loại đảo cú pháp dựa vào tiêu chí đã xác định
Kế thừa, bổ sung vào kết quả phân loại đã được các nhà Phong cách học
tringh bày, chúng tôi phân chia đảo cú pháp thành các tiểu loại sau:
2.1.2.1. Đảo vế của câu ghép chính phụ
Quan hệ giữa hai vế của câu ghép chinh sphụ vốn là một quan hệ ngữ
pháp chặt, rất khó tách. Theo chuẩn mực ngôn ngữ, trong câu ghép chính phụ,
về phụ (vế 1) thường đứng trước vế chính, đầu hai vế thường có quan hệ từ (
gọi théo chức năng đó là những kết từ) nối kết để làm rõ quan hệ ngữ pháp
ngữ nghĩa của chúng. Tuy vậy, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, để thực hiện
một mục đích tu từ, người nói, người viết có thể thay đổi trật tự thông thường
đó.
Ví dụ:
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta
càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết cướp nước ta
một lần nữa.
- Đảo trật tự của thành tố trong cụm danh từ (gọi tắt là đảo ngữ danh từ)
2.2. Miêu tả kết quả thống kê phân loại đảo cú pháp trong một số văn bản Việt
Nam hiện đại.