Hiệu quả tu từ của phép đảo cú pháp trong một số văn bản thơ Việt Nam hiện đại - Pdf 47

luan van,khoa luan, thac si , su pham 1document,pdf,docx

Lời cảm ơn
Trong trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn nheịet
tình và chud dáo của cô giáo Phan Thị Thạch - giảng viên tổ Ngữ văn, các
thầy cô trong tôt Ngôn ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Thạch cùng toàn thể các
thầy cô giáo trong khoa đã giúp đxơ em hoàn thành tốt khoá luận này.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những hạn
chế, chúng tôi rất mong nhạn được sự đónggóp của thầy cô và bạn bè để có
thể tiếp tục hoan thiện trong quá trình học tập và gioảng dạy sau này.
Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên

Cao Thị Kim Thảo

tai lieu,dh su pham, luan van thac si1download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 2document,pdf,docx

Lời cam đoan
Trong quá trình thực heịen khoá luận, chúng tôi đã được sự gợi ý, soi
sáng bởi nheieù ý keíen của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Đây là kết quả nghiên cứu mới, tôi xin camđoan kết quả này không
trùng với kết quả nghiên cứu tác giả khác. Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm
Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 2007
Sinh viên

Cao Thị Kim Thảo

2.1. Tiêu chí và kết quả phân loại đảo cú pháp
2.2. Miêu tả két quả phân loại đảo cú pháp trong một số văn
bản thơ Việt Nam hiện đại
2.3. Nhận xét sơ bộ từ kết quả thống kê phân loại

tai lieu,dh su pham, luan van thac si3download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 4document,pdf,docx

Chương 3: Hiệu quả tu từ của đảo cú pháp trong một số văn
bản thơ Việt Nam hiện đại
3.1. Hiệu quả của đảo cú pháp với tổ chức văn vản thơ
3.2. Hiệu quả của đảo cú pháp với việc tạo tính nhạc cho thơ
3.3. đảo cú pháp với việc thể hiện tính cá thể hoá trong thơ

Kết luận
Tài liệu tham khảo

tai lieu,dh su pham, luan van thac si4download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 5document,pdf,docx

Kí hiệu viết tắt
VD

: Ví dụ

VD1


: Động từ

DT

: Danh từ

BN

: Bổ ngữ

ĐN

: Định ngữ

TRN

: Trạng ngữ

Tr

: Trang

Sđđ

: Sách đã dẫn

PCT

: Thành phần phụ cảm thán

cú pháp trong một số văn bản thơ Việt Nam hiện đại.
2. Lịchh sử vấn đề

tai lieu,dh su pham, luan van thac si6download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 7document,pdf,docx

Đảo cú pháp là một vấn đề đã được một nhà nghiên cứu quan tâm.
Những kết quả về biện pháp tu từ cú pháp được phản ánh chủ yếu trong những
giáo trình Phong cách học tiếng Việt của một số nhà khoa học tiêu biểu.
2.1. Đinh Trọng Lạc (1964), trong cuốn Giáo trình Việt ngữ Tập III,
NXBGD, H, đã để dành phần thứ ba trình bày về tu từ học cú pháp của tiếng
Việt hiện đại. Trong phần này, tác giả đã dành riêng một mục bàn về: Trật tự
câu và cú pháp đảo ngược. Vấn đề này đã được ông xem xét ở các phương
diện sau:
- Trật tự các thành phần trong câu đơn giản.
- Trật tự các bộ phận trong câu đơn giản phát triển
- Trật tự các mệnh đề trong câu phức hợp
Theo tác giả, thứ tự của từ trong câu là một phương tiện tu từ quan
trọng. Với quan niệm như vậy ông đã xem xét trật tự của các thành phần trong
câu đơn giản và trật tự của các bộ phận trong kiểu câu này.
Về trật tự của thành phần trong câu đơn giản, tác giả cho rằng, trong cú
pháp tiếng Việt, câu đơn giản thường có ba bộ phận; chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ.
Trật tự này, nói chung khôngthay đổi dù là mục đích dùng câu khác nhau.
Nhưng, trong thơ ca và trong một số câu cấu tạo đặc biệt, do muốn có một tác
dụng tu từ nào đó, để thay đổi cảm xúc của người đọc, nhà thơ, nhà văn có thể
đảo lộn trật tự thông thường đó.
Ví dụ:


- Anh cứ lấy mà dùng, khi cần.
Như vậy, từ năm 1964, Đinh Trọng Lạc tá giả cuốn giáo trình đầu tiên
viết về tu từ học (sau này gọi là Phong cách học), mặc dù khôngtrực tiếp giải
thích đảo cú pháp là một biện poháp tu từ cú pháp, nhưng ông đã bước đầu
phát hiện tác dụng của việc sử dụng những câu có trật tự cú pháp không bình
thường. Tuy rằng, trong giáo trình của mình, tá giả chưa trình bày hiện tượng
đảo cú pháp thật hệ thống và sâu sắc, nhưng nhữgn ý kiến mà ông đã trình bày
về hiện tượng cú pháp đảo ngược là những ý tưởng quý báu để các nhà khoa
học phát triển, cụ thể hoá.
2.2. Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà (1982), trong cuốn
Phong cách học tiếng Việt đã giới thiệu đảo ngữ với tư cách một biện pháp
tu từ cú pháp. Họ đã định nghĩa biện pháp tu từ này như sau:
Đảo ngữ là biện pháp thay đổi vị trí các thành phần cú pháp mà không
làm thay đổi nội dung thông báo cơ sở của câu.
(4,tr. 205)

tai lieu,dh su pham, luan van thac si8download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 9document,pdf,docx

Theo các tác giả, vị trí của các thành phần chính trong câu tiếng Việt
được qui định khá chặt chẽ. Trật tự này là một phương thức cú pháp. Khi đảo
vị trí chức năng cũng thay đổi và do đó ý nghĩa sẽ thay đổi theo.
Ví dụ:

Bạc phơ mái tóc Người Cha: - Tố Hữu.

Các tác giả đã trình bày các kiểu đảo ngữ như:
a. Đảo vị ngữ

biểu như:
a. Đảo vị ngữ - động từ ra trước chủ ngữ.
b. Đảo vị ngữ - tính từ ra trước chủ ngữ.
c. Đảo bổ ngữ - khách thể hiện lên đâu câu.
d. Đảo bổ ngữ - phương thức lên đâu câu.
2.5. Trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXBGD, Đinh
Trọng Lạc (1995) vẫn sử dụng thuật ngữ đảo ngữ để gọi tên biện pháp tu từ
cú pháp. Ông đã định nghĩa biện pháp tu từ này như sau:
Đảo ngữ là hiện tượng vi phạm có chủ định trật tự chuẩn mực của các
đơn vị lời nói nhằm mục đích tách ra một thành tố nghĩa - cảm xúc nào đó.
( 13,tr.111)
Theo tác giả,d dảo ngữ có thể phân chia thành những kiểu cụ thể như:
a. Đảo vị ngữ - động từ ra trước chủ ngữ.
b. Đảo vị ngữ - tính từ ra trước chủ ngữ.
c. Đảo bổ ngữ - khách thể.
d. Đảo bổ ngữ - phương thức của vị từ.
e. Đảo lên đầu câu bổ ngữ phương thức của từ.
g. Đảo bổ ngữ câu chỉ phương thức hay bổ ngữ chỉ tình huống sự vật
i. Đảo bổ ngữ của câu chỉ nguyên nhân.
k. Dảo vị trí của vị từ là những từ chuyên dùng với ý nghĩa tồn tại và
những từ tượng thanh, tượng hình.
1. Đảo vị trí của vị từ là những từ chuyên dùng với ý nghĩa biểu tượng
và những từ chỉ sự tự dời chuyển, tự vận động; chuyển kiểu câu tường thuật
bình thường thành kiểu câu miêu tả đặc biệt hiển hiện.
m. Đảo vị trí của vị từ là động từ chỉ hành động, hoặc là tính từ, chuyển
kiểu câu tường thuật bình thường thành kiểu câu nêu sự việc chỉnh thể.

tai lieu,dh su pham, luan van thac si10download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc



tai lieu,dh su pham, luan van thac si11download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 12document,pdf,docx

Hiệu quả tu từ của phép đảo cú pháp trong một số văn bản thơ Việt
Nam hiện đại
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu.
4.1. Lựa chọn sử dụng những lý thuyết của các chuyên ngành
Phong cách học, Ngôn ngữ học văn bản, Lí luận văn học, làm cơ sở lí
luanạ cho việc thực hiện đề tài khoá luận.
4.2. Thống kế, phân loại các kiểu đảo cú pháp trong những văn bản thuộc
phạm vi khảo sát.
4.3. Sử dụng các phương pháp phân tích Phong cách học, phương pháp hệ
thống, tổng hợp, để xác định hiệu quả của đảo cú pháp trong một số văn
bản thơ Việt Nam hiện đại.
4.4. Dựa vào những kết quả nghiên cứu trên rút ra những kết quả cần thiết.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Khoa luận tập trung vào việc nghiên cứu hiệu quả của
- Đảo cú pháp với việc tổ chức văn bản thơ
- Đảo cú pháp với việc tạo tính nhạc văn bản thơ
- Đảo cú pháp với tính cá thể hoá trong thơ.
5.2. Giới hạn tác phẩm khảo sát thống kê
- Thơ Nguyễn Bính, NXB Văn hoá thông tin, H, Hoàng Xuân, 2006.
- Thơ, NXBGD, Tố Hữu, 2003
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài khoá luận, chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp thống kê

tự của các thành tố trong một ngữ ( một cụm từ), cho nên thuật ngữ này không
thể bao quát hết các kiểu đảo cú pháp trong tiếng Việt.
Dựa vào cách gội cú pháp đảo ngược của Đinh Trọng Lạc (1964),
dựa vào các bài tập biến đổi câu của Nguyễn Minh Tuyết, Nguyễn Văn Thiệp
(1996) và dựa vào kết quả khảo sát hiện tượng thay đổi trật tự thông thường
cau câu, của cụm từ, chúng tôi lựa chọn thuật ngữ đảo cú pháp để gọi tên
hiện tượng tu từ thuộc đối tượng nghiên cứu khoá luận.
1.1.1.2. Khái niệm
Dựa vào định nghĩa của các nhà Phong cách học, chúng tôi đưa ta cách
hiểu về biện pháp tu từ này như sa:
Đảo cú pháp là một biện pháp tu từ, trong đó cá nhân có ý thức thay
đổi trật tự thông thường các bộ phận, các thành phần của câu, hoặc thay đổi
trật tự thông thường các thành tố của cụm từ trong câu nhằm một mục đích tu
từ nào đó.
Sự thay đổi trật tự cú pháp thông thường chính là sự thay đổi trật tự cú
pháp mang tính chất chuẩn mực ngôn ngữ. Sự thay đổi trật tự cú pháp chuẩn
mực chỉ được thực hiện khi người nói, người viết có ý thức đưa thành phần
hoặc thành tố vốn đứng sau lên phía trước dạo ta lượng nghĩa bổ sung cho câu,
để câu có thể thực hiện tốt nhất những chức năng của nó trong hoạt độnggiao
tiế.

tai lieu,dh su pham, luan van thac si14download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 15document,pdf,docx

1.1.2. Phong cách chức năng ngôn ngữ và đặc trưng của phong cách ngôn
ngữ nghệ thuật
1.1.2.1. Phong cách chức năng ngôn ngữ
a. Khái niệm

có sức khái quát hơn. Mục đích của khoá luận không chỉ dừng lại ở việc xác
định sắc thái biểu cảm và mằu sắc phong cách của đảo cú pháp, mà còn quan
tâm khai thác giá trị của biện pháp tu từ này trong việc phản ánh nội dung
nghệ thuật, tổ chức văn bản thơ, nhằm tạo ra chất thơ và làm rõ cá tính sáng
tạo của nhà thơ.
1.2. Một số lí luận của Ngữ pháp học
12.1. Cụm từ
Trong Ngữ pháp học, cụm từ ( còn được gọi là ngữ), khái niệm về cụm
danh từ, cụm động từ, cụm tính từ và những mô hình cấu tạo ngữ pháp theo
chuẩn mực ngôn ngữ của chúng được chúng tôi sử dụng làm những căn cứ
khoa học để nhận diện hiện tượng đảo trật tự các thành tố trong các cụm từ
chính phụ. Chẳng hạn; đảo bổ ngữ lên trước động từ, tính từ trung tâm của
cụm động từ, tính từ, đảo bổ ngữ lên trước danh từ trung tâm của cụm danh từ.
1.2.2. Câu
1.2.2.1. Khái niệm về câu
Diệp Quang Ban (1992), trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, đã
định nghĩa về câu như sau:
Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp 9 bên
trong và bana ngoài ) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương tối
trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện,
truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất
bằng ngôn ngữ.
(1, tr. 107)
1.2.2.2. Sự phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Dựa vào cấu tạo ngữ pháp, các nhà Việt ngữ học đã phân chia câu tiếng
Việt thành câu đơn, câu phức, câu ghép. Đặc điểm câu tạo ngữ pháp của từng
kiểu câu đã được các tác giả mô tả trong các giáo trình Ngữ văn tiếng Việt,
trong các sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học, sách giáo khoa tiếng Việt trung

tai lieu,dh su pham, luan van thac si16download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc

( Hữu Loan, Hoa lúa)

Có những trường hợp sau hai, hay nheieù câu thơ, thi sĩ mới sử dụng
một dấu cuối làm dấu hiệu kết thúc.
Ví dụ:

Chim rừng quân cất cánh

tai lieu,dh su pham, luan van thac si17download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 18document,pdf,docx

Giáo say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
(Hồ DZếch, Chiều)
Lại có trường hợp trong một câu thơ - một sòng thơ, tá giả sử dụng một
hoặc một số dấu cuối câu nhằm dụng ý tu từ.
Ví dụ:

Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!
( Thâm Tâm, Tống biệt hành)

Việc tổ chức các câu thơ có hình thức như vậy là để có được những âm
vang, những tiếng rung phù hợp với tình thơ, ý thơ trong mỗi tác phẩm.
b. Những căn cứ xác định đảo cú pháp trong văn thơ
Mặc dù thơ có cấu trúc cú pháp rất khác lạ, nhưng để nhận diện biện
pháp đảo cú pháp, chúng tôi vẫn dựa vào đặc điểm cú pháp chuẩn mực làm
căn cứ xác định.

- Cấu trúc văn bản nội tại đối với câu: đó là các tổ chức của câu và của
các bộ phận trong câu theo cách làm cho câu quan hệ được với chu cảnh của
nó.
ở phương diện ngoại tại, chất văn bản là cấu trúc của diễn ngôn.
Theo Diệp Quang Ban, cấu trúc của diễn ngôn về mặt tình huống hay còn gọi
là ngữ cảnh tình huống. Nó bao gồm nhiều nhân tố: đề tài - chủ thể của văn
bản, mục đích của người nói ( người viết); các quan hệ xã hội và hoàn cnảh (
khôngkhí) để các quan hệ xã hội được xác định và thể hiện vai trò của ngôn
ngữ trong tình huống, các biện pháp tu từ và cả thể loại của văn bản,
1.3.2. Các đặc trưng của văn bản từ góc nhìn của Ngôn ngữ học văn bản
1.3.2.1. Trần Ngọc Thêm (1985), đã chỉ ra; đặc trưng cơ bản của văn bản là
tính liên kết. Tác giả coi liên kết trong văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ
thống ngôn ngữ, liên kết được xem ở hai phương diện: mặt hình thức và mặt
nội dung.
Theo tác giả, liên kết được hiêủ trên cả hai phương diện này mới được
coi là cái quyết định cho một sản phẩm ngôn ngữ có phải là văn bản hay
không, từ đó xác định có hai loại liên kết: liên kết nội dung và liên kết hình
thức.

tai lieu,dh su pham, luan van thac si19download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 20document,pdf,docx

1.3.2.2. Diệp Quang Ban (1998) phát hiện ra năm đặc trưng của văn bản, đó
là:
- Yếu tố chức năng:
Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản, cụ thể là
người tạo ra văn bản dùng lời nói ( miệng hay viết) của mình để thực hiện một
hành động nào đó nhằm tác động vào người nghe. Chức năng này của văn bản

(2, tr.23)
Những lí luận về khái niệm văn bản và đặc trưng văn bản sẽ cung cấp
cho chúng tôi những tri thức quý báu để dựa vào đó tìm hiểu kỹ hơn về phép
đảo cú pháp, đồng thời có những căn cứ khoa học để xác định chính xác, đầy
đủ hiệu quả của đảo cú pháp trong các văn bản nghệ thuật.
1.3.3. Ngữ cảnh
khái niệm ngữ cảnh
cho đến nay, ngữ cảnh được các nhà ngôn ngữ học giải thích khác nhau theo
biên độ rộng, hẹp của khái niệm.
Vũ Đức Nghiệu (1992, cho rằng: Ngữ cảnh của một từ là một chuỗi từ kết
hợp với nó hoặc bao quanh nó, đủ để làm cho nó được cụ thể hóa và hoàn
toàn xác định về nghĩa.
(Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến,,tr.200)
Đồng quan điểm hiểu nngữ cảnh của từ là các từ bao quanh nó, để cho nó xác
định về nghĩa , còn phải kể đến Nguyễn Thiện Giáp (1998). Trong cuốn Từ
vựng học tiếng việt, tác giả đã đưa ra sự phân biệt ngữ cảch với hoàn cảnh nói
năng. Theo tác giả: hoàn cảnh nói năng là cái tình huống, cái bối cảnh phi
ngôn ngữ mà từ xuất hiện.
(Nguyễn Thiện Giáp, Sđd,tr.134)
theo Đỗ Hữu Châu, ngữ cảnh là tổng thể của những hợp phần sau: Nhân vật
giao tiếp (vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân của những người tham gia vào
một cuộc giao tiếp) và hiện thực ngòi diễn ngôn(bao gồm hiện thực đề tài của
diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ qui chiếu, hoàn cảnh giao riếp rộng và hoàn
cảnh giao tiếp hẹp, ngữ huống).
(Xem Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học,tr. 39).

tai lieu,dh su pham, luan van thac si21download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 22document,pdf,docx

tai lieu,dh su pham, luan van thac si22download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 23document,pdf,docx

1.4. Đặc trưng của thơ từ góc nhìn của Lí luận và phê bình văn học
1.4.1. Các lí luận và phê bình văn học đã phân chia các tác phẩm văn chương
thành ba thể loại lớn: thơ, văn xuôi và kịch. Theo họ, mỗi thể loại có những
đặc trưng riêng. hà Minh Đức cho rằng, thơ khác thể loại khác vì nó có chất
thơ. Theo ông, chất thơ được tạo nên bởi các yếu tố sau:
- Trước hết chất thơ gắn liền với sự rugn động và cảm xúc mãnh liệt của
thi sĩ.
- Thơ là tấm lòng của nhà thơ, những cũng chính là cuộc sống.
- Thơ gắn với tưởng tượng của nhà thơ. Nói như Sóng Hồng: Thơ là
nghệ thuật kì diệu nhất của trí tưởng tượng.
- Chất thơ gắn liền với cái đẹp.
(7, tr. 236 - 54)
Mã Giang Lâm khi tìm cách lí giải: Thơ là gì đã đưa ra một định
nghĩa rất ngắn gọn, rất khái quát.
Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố: ý - Tình Hình - Nhạc. Gắn với bốn yếu tố: ý Tình Hình Nhạc. Gắn với bốn yếu tố
đó là bốn đặc trưng rất cơ bản của thơ
(15,tr. 9 17)
1.4.2. Trong khoá luận, chúng tôi đã sử dụng những lí thuyết về đặc trưng thể
loại thơ làm cơ sở lí luận của đề tài, để tìm hiểu hiệu quả của đảo cú pháp đối
với việc tạo ra chất thơ và làm rõ cá tính sáng tạo của nhà thơ.
Nhà vậy, để xử lí đề tào kháo luận, chúng tôi sử dụng lý thuyết của một số
ngành khoa học bộ phận của ngôn ngữ học. Nhưng lý thuyết liên ngành được
lựa chọn làm cơ sở lí luạn chắc chắn sẽ giúp chúng tôI thực hiện những mục
đích nghiên cứu của mình.


càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết cướp nước ta
một lần nữa.

tai lieu,dh su pham, luan van thac si24download,bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc


luan van,khoa luan, thac si , su pham 25document,pdf,docx

( Trích Lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chủ Tịch)
Câu thứ hai của ví dụ trên là một câu ghép nguyên nhân hệ quả, trong
đó vế chính vế hệ quả lại có cấu trúc của một câu ghép qua lại. Trong đoan
trích để nhẫn mạnh ý nghĩa được nêu ở vế chính, để tạo ra liên kết chặt chẽ về
nội dung câu văn liền trước ( câu thứ nhất), bác đã sử dụng phép đảo cú pháp,
đưa vế chính lên trước vế phụ. Theo qui tắc biến đổi câu, khi thay đổi trật tự
thông thường giữa hai vế của câu ghép, kết từ đúng ở đầu vế chính sẽ bị tỉnh
lược.
2.1.2.2. Đảo trật tự thành phần chủ ngữ, vị ngữ ( đảo C V)
Thông thường trong câu của tiếng Việt, CN đứng trước VN, tuy vậy,
trong một số trường hợp sử dụng, để nhấn mạnh vào nội dung thông báo, để
gây ấn tượng với người đọc, người nghe, để làm thay đổi tiết tấu, âm hưởng
của câu nhằm đáp ứng yêu cầu của một thể loại văn bản, người viết, người nói
có thể đưa VN lên trước CN.
Ví dụ:
Đã tan tác những bóng thù hắc ám
V

C

Đã sáng lại trời thu tháng Tám
V


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status