sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975 - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ MỘNG LÀNH
LỚP DH5C2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN

SỰ THỂ HIỆN TÌNH YÊU TRONG MỘT SỐ BÀI
THƠ TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN 1945 – 1975

I. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975:
1. Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,
phục vụ các nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu: 6
2. Văn học hướng về đại chúng: 7
3. Nền văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi: 8
II. Quan niệm nghệ thuật về
con người trong văn học giai đoạn 1945 – 1975:
1. Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1945 – 1954: 10
2. Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1955 – 1964: 11
3. Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1965- 1975: 12
4. Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến 1945 – 1975:
4.1. Từ “cái tôi” lãng mạn trong Thơ mới đến “cái ta” lãng mạn
cách mạng trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến: 13
4.2. Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến
(1945 – 1975): 14

CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH
LÃNG MẠN TRONG THƠ TÌNH YÊU THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN
(1945-1975)

I. Tình yêu hồn nhiên, tươi trẻ, đằm thắm giữa đạn lửa chiến tranh: 17
II. Tình yêu và nỗi nhớ vượt không gian, thời gian: 20
III. Tình yêu lí tưởng vượt qua những mất mát đau thương trong chiến tranh:
1. Tình yêu lí tưởng: 30
2. Niềm đau xót, sự vượt lên những mất mát đau thương
trong tình yêu: 32

CHƯƠNG III: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC, NGHỆ THUẬT BIỂU
HIỆN
I. Môtíp riêng – chung: 40

nhân dân ta. Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng về quê hương, đất
nước về những tình cảm cộng
đồng. Thơ tình yêu ra đời trong bối cảnh lịch
sử đó.
Mặc dù viết về tình yêu riêng tư, đời sống cá nhân nhưng thơ tình
yêu giai đoạn này đã thật sự góp phần làm đa dạng nền thơ Việt Nam hiện
đại. Qua cái riêng, số phận mỗi cá nhân, người đọc vẫn thấy được số phận,
hoàn cảnh chung của cả cộng đồng, dân tộc. Hiện thực của cuộ
c chiến được
tái hiện sống động trong thơ làm cho thơ tình yêu giai đoạn này có những
giá trị, đóng góp nhất định.
Nhà thơ Thụy Điển Nazim Hitmet từng phát ngôn: Đừng hi vọng
những câu thơ anh viết sẽ làm rung động trái tim người khác nếu trước tiên
nó không làm trái tim anh rung động. Quả thật, những cảm xúc nhớ thương
da diết, những khát vọng hạnh phúc sum vầy, tình yêu trong đời sống cá
nhân thời chiến tranh từng làm rung
động trái tim người đọc. Sau những
cuộc hành quân chiến đấu, đôi mắt người yêu lại hiện về trong nỗi nhớ
mong khao khát, khắc khoải, đầy suy tư:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
( Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Và nỗi nhớ mong yêu thương vừa trừu tượng, vừa cụ thể như có dáng hình:
Rút sợi thương
Chằm mái lợp
Rút sợi nhớ
Đan vòm xanh
hay đó là nỗi đau li biệt cồn cào oặn thắt từ hình sông, dáng núi:
Núi vẫn đôi mà anh mất em
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

(NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội – 1998), nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Bắc
đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về nền thơ ca Việt Nam trong 30
năm. Tác phẩm được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Những biểu trưng về Tổ quốc trong th
ơ ca Cách mạng
Việt Nam (1945 – 1975).
Chương II: Những biểu trưng về người anh hùng trong thơ ca Cách
mạng Việt Nam (1945 – 1975).
Chương III: Những biểu trưng về kẻ thù trong thơ ca Cách mạng
Việt Nam.
Ở chương II “Những biểu trưng về con người anh hùng trong thơ ca Cách
mạng Việt Nam 1945 – 1975”, tác giả đã trình bày “biểu trưng về con người
tình nghĩa”. Theo Nguyễn Duy Bắc, trong giai đoạn đất nước có chiế
n
tranh, “con người vì nghĩa, vì đại nghĩa” là lẽ sống cao nhất của người anh
hùng. Hạnh phúc lớn nhất của con người là hi sinh tình yêu cá nhân cho
tình yêu nước, yêu giai cấp, yêu nhân dân. Tình yêu quê hương, đất nước là
nền tảng để tôn thêm ý nghĩa và màu sắc mới mẻ cho tình yêu lứa đôi. Do
vậy, tình yêu lứa đôi được tác giả xác định trên quan điểm hòa cái riêng vào
cái chung, theo các tiêu chuẩn về lẽ sống của người anh hùng.
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 3 - 2. Qua chuyên đề nghiên cứu “Về một đặc điểm của thơ Việt Nam từ
1955 đến 1975” (in trong tác phẩm: “Năm mươi năm văn học Việt Nam sau
Cách mạng tháng Tám” của nhiều tác giả, NXB đại học quốc gia, Hà Nội –
1996), giáo sư Trần Đăng Xuyền đã nêu lên một trong những đặc điểm cơ
bản nhất của thơ Việt Nam giai đ

nhìn nhận quan niệm về tình yêu biểu hiện trong văn học và thơ ca thời kì
kháng chiến là đặt cái tôi riêng tư, tình yêu đôi lứa hài hòa với cái ta chung,
tình yêu Tổ quốc. Qua đây, nó t
ạo điều kiện cho người viết nắm vững đặc
điểm biểu hiện của thơ tình yêu, vận dụng vào phân tích, khám phá triển
khai.
Bên cạnh những tài liệu nêu trên, người viết còn tiếp cận các giáo
trình như: “Văn học Việt Nam hiện đại tập II” (từ sau Cách mạng tháng
Tám 1945, NXB Đại học Sư phạm – 2007) do giáo sư Nguyễn Văn Long
chủ biên; “Tiếp cận và đánh giá văn h
ọc Việt Nam sau Cách mạng tháng
Tám”(NXB Giáo dục, năm 2001) cùng của giáo sư Nguyễn Văn Long
(NXB Giáo dục, năm 2001). Hai quyển giáo trình trên đã giúp người viết có
cái nhìn tổng hợp và hệ thống về giai đoạn phát triển 1945 – 1975 của nền
văn học Việt Nam hiện đại. Nền văn học Việt Nam thời kì này có những
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 4 - đặc điểm riêng, và quan niệm nghệ thuật về con người cũng có sự thay đổi
qua từng chặng đường văn học.
Tóm lại, nguồn tư liệu giúp cho việc nghiên cứu về thơ tình yêu giai
đoạn 1945 – 1975 còn rất hạn chế. Dù vậy, đây vẫn là những nguồn thông
tin cơ sở quý báu, làm tiền đề giúp người viết đi sâu khám phá sự thể hiện
về nội dung và nghệ thuật củ
a thơ tình yêu giai đoạn 1945 – 1975.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu, phân tích một số bài thơ tiêu
biểu viết về tình yêu lứa đôi ra đời trong giai đoạn 1945 – 1975 như: Màu

Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 5 - hệ thống lại khái quát thành những biểu hiện khác nhau của thơ tình yêu về
cả hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật.
2. Phương pháp so sánh:
Luận văn có sự so sánh, đối chiếu những biểu hiện cảm xúc trữ tình
trong Thơ mới với cảm hứng trữ tình trong thơ tình yêu thời chiến để thấy
được những đặc điểm riêng của thơ tình yêu giai đoạn 1945 - 1975.
3. Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Đây là hai phương pháp được sử dụng thường xuyên trong luận văn.
Phân tích những đoạn thơ hay, tiêu biểu để phục vụ cho việc làm sáng tỏ
vấn đề cần nghiên cứu, nhằm đưa ra những lí lẽ xác đáng làm cơ sở vững
chắc cho luận văn.
Các phương pháp trên đây được vận dụng, phối hợp với nhau trong
quá trình phân tích, đánh giá các vấn đề trong nội dung của luận văn.
VII. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN :
Khóa luận được kết cấu thành ba phần chính:
Phần I
: Mở đầu
Phần II
: Nội dung
Chương I
: Những đặc điểm cơ bản và quan niệm nghệ thuật
về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
Chương II
: Những biểu hiện của cái tôi trữ tình lãng mạn
trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến (1945 – 1975).

đây:

1. Nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ các
nhiệm vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu:
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới cho
đất nước, đồng thời cũng mở ra một thời đại mới cho nền văn học dân tộc.
Trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 – 1975, dân tộc ta phải đối đầu với hai
cường quốc xâm lược hùng mạnh: thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Do vậy,
nội dung bao trùm của văn học thời kì này là phản ánh cuộc chiến
đấu cho
độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, cho lí tưởng xã hội chủ nghĩa.
[10;15]. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Cuộc đấu tranh ấy do đội
tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc là Đảng cộng sản Việt Nam
tổ chức, lãnh đạo. Vì thế, mọi bình diện của đời sống xã hội, từ chính trị,
quân sự, đến kinh tế, văn hóa đều đặt dưới sự lãnh đạo c
ủa Đảng. [10;15]
Văn học là một hình thái ý thức xã hội nên bao giờ văn học cũng
phản ánh cuộc sống. Từ xưa, cụ Đồ Chiểu đã ý thức dùng văn học làm vũ
khí chiến đấu.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
(Đạo)
Đến chủ tịch Hồ Chí Minh, Người cũng đã khẳng định:
Nay ở
trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”)
Nhà thơ cũng là người chiến sĩ và thơ văn của họ là thứ vũ khí sắc
bén đánh gián tiếp vào quân thù. Văn học là một bộ phận của văn nghệ. Thế
nên, trong “Thư gởi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa toàn quốc năm 1951

giai đoạn văn học này chính là hình tượng về người chiến sĩ và quần chúng
cách mạng.
Những tình cảm được thể hiện phong phú và đa dạng trong văn học
giai đoạn này là những tình cảm trong các quan hệ cộng đồng: tình yêu quê
hương đất nước, tình đồng bào, đồ
ng chí, tình quân dân, tình cảm giai cấp,
tình cảm với Đảng và với lãnh tụ,…Đây cũng là những nguồn cảm hứng
lớn, chủ đạo chi phối hầu hết các sáng tác thơ ca giai đoạn này.
Những tình cảm trong các quan hệ cộng đồng nói trên được xem là
nguồn cảm hứng chính của văn học và thơ viết về đề tài tình yêu trong hoàn
cảnh chiến chinh của đất nước cũng có thể xem là một nguồn riêng khá
đặc
biệt hòa vào giữa các nguồn chung đó. Tất nhiên, cảm hứng trữ tình lãng
mạn trong thơ tình yêu thời kháng chiến không tách rời mà luôn gắn liền
với vận mệnh chung, tình cảm của cộng đồng dân tộc, quê hương đất nước.
Thế nên, tình yêu trong văn học giai đoạn này vừa mới lạ, độc đáo mà cũng
rất gần gũi, thân quen. Chúng ta sẽ đi sâu khám phá điều này ở những phần
sau.
2. Văn học hướng về đại chúng:
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Viết cho ai? - Viết cho đại đa số: công
nông binh. Viết để làm gì? - Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để
phục vụ quần chúng.[6;52]. Như vậy, nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ
chiến đấu cũng phải là nền văn học hướng về đại chúng, phục vụ đại chúng.
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 8 - Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh, vừa là công chúng văn học và
là lực lượng sáng tác.

truyền đi và có sức sống lâu bền trong lòng nhân dân như: Màu tím hoa sim
– Hữu Loan, Núi đôi – Vũ Cao, Quê hương – Giang Nam,…Dù viết về đời
tư nhưng vẫn có những sợi dây liên lạc, gắn chặt với cái ta chung, như nhà
nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã nhận xét: Đặt tập thể cá nhân vào một thế hài
hòa sinh động, thể hiện cái chung thông qua cái riêng, không gạt bỏ cái
riêng, cái chung và cái riêng chuyển hóa vào nhau…[3;136] Như
vậy, qua
cái riêng người đọc vẫn cảm thấy cái chung.
3. Nền văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử
thi và cảm hứng lãng mạn:
Giai đoạn 1945 – 1975, dân tộc ta phải đối đầu với hai kẻ thù hùng
mạnh nhất thế giới. Do đó, vận mệnh của Tổ quốc đứng trước những thử
thách gay gắt, cả dân tộc mọi người như một đều sát cánh bên nhau để thực
hiện lí tưởng độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Thế nên, văn học giai
đoạn này không thể là tiếng nói củ
a cá nhân mà phải là tiếng nói của cộng
đồng, nhân danh cộng đồng, dân tộc.
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 9 - Những chủ đề bao trùm văn học thời kì này không ra ngoài hiện thực
lịch sử và vận mệnh, hoàn cảnh của con người đang đối mặt thử thách với
chiến tranh. Do vậy, nhân vật trung tâm luôn là những con người mang tính
tiêu biểu cho quần chúng nhân dân, cho dân tộc và thời đại cách mạng. Họ
là những người anh hùng đại diện cho sức mạnh dân tộc, giai cấp và kết
tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý củ
a cộng đồng,…và nhà
văn cũng trở thành người phát ngôn cho tư tưởng, lập trường, tình cảm,

đạn lửa chiến tranh.
Có thể mượn lời của GS. Nguyễn Đăng Mạnh để tổng kết lại, nêu
nhận định chung về những đặc điểm của nền văn học giai đoạn này như
sau: Văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, tất nhiên trước hết phải
nhằm tác động vào đại chúng công nông binh. Và để phản ánh và ngợi ca
cuộ
c chiến đấu vì độc lập tự do của cộng đồng dân tộc thì một cách tự
nhiên phải tìm đến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.[6;63]
Ba đặc điểm trên đây có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó giúp
nhận diện, phân biệt giai đoạn văn học này với giai đoạn văn học trước năm
1945 và sau 1975.
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 10 - II. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG
VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1945 – 1975:
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời đại mới trong
lịch sử dân tộc đồng thời lại mở ra một thời đại mới trong lịch sử văn học
dân tộc. Trong “Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng
tháng Tám”, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long thì những đổi mới của
văn học Việt Nam giai đoạn này có thể nhận thấy trên rất nhiều bình di
ện
và ở những cấp độ khác nhau. Nhưng ở trung tâm và chiều sâu của những
biến đổi ấy là sự thay đổi trong quan niệm về con người, là sự hình thành và
vận động của quan niệm nghệ thuật mới về con người và theo ông quan
niệm này mang tính thống nhất của cả nền văn học và trong suốt giai đoạn
1945 – 1975, nhưng cũng mang những nét đặc trưng của từng thời kì nhỏ


Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 11 - 2. Quan niệm về con người trong văn học Việt Nam 1955 –
1964:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, một nửa đất nước ta từ
Vĩnh Linh ra Bắc tạm thời được hòa bình. Nhân dân ta bắt tay vào khôi
phục đất nước sau chiến tranh. Giai đoạn này, văn học đứng trước những
yêu cầu đa dạng của xã hội: một mặt là nhu cầu tất yếu của con người trong
cuộc sống hòa bình, mặt khác phải tiếp tục cuộc đấu tranh cho nh
ững mục
tiêu cách mạng: thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan
niệm về con người trong văn học thời kì này trở nên đa dạng. Nhìn chung,
văn học giai đoạn này vẫn tiếp tục quan niệm về con người của văn học
1945 – 1954 và phát triển nó trong những điều kiện lịch sử mới và những
đòi hỏi mới của cuộc cách mạng.
Trước những yêu cầu và đòi hỏi của lịch sử trong giai đoạn mới,
quan niệm con người trong văn học thời kì này là khái niệm con người mới.
Cũng theo giáo sư Nguyễn Văn Long: Văn học những năm kháng
chiến chống Pháp chưa xây dựng được những tính cách riêng mà chỉ dừng
lại ở quan niệm con người tập thể. Cá nhân hòa tan vào trong tập thể.
Nhưng đến giai đo
ạn 1954 – 1964, văn học đã chú ý đến tính cách cá nhân
và ngày càng coi trọng giá trị của điển hình. Như Tố Hữu xây dựng hình
tượng chị Trần Thị Lý kiên gan trước quân thù, trở thành hình tượng người
con gái Việt Nam, người phụ nữ anh hùng, hình tượng mang sức mạnh tiêu
biểu của toàn dân tộc trong đấu tranh:
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

với toàn dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn này, nền văn học có sự đổi mới
trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học chống Mĩ là sự
tiếp tụ
c của quan niệm con người trong văn học hai mươi năm trước đó,
nhưng được phát triển tập trung vào một hướng lớn và đi tới đỉnh cao của
nó là quan niệm con người sử thi.
Theo ông Nguyễn Văn Long, con người sử thi là con người có lí
tưởng cao cả cho độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, ý thức sâu sắc về tầm
vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại, là đại biể
u tập trung của ý chí, khát vọng và
sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, thời đai, nhân loại.
Con người trong văn học chống Mĩ là con người của ý chí lớn, của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Lí tưởng và nhận thức đã hiện thành ý chí
và hành động, mỗi con người được thể hiện như là đại diện trọn vẹn cho sức
mạnh và quyết tâm của cả dân tộc, củ
a đất nước. Người bạn đời, người
đồng chí, đồng nghiệp của Dương Hương Ly đã ngã xuống (được thể hiện
qua bài thơ Bài thơ về hạnh phúc), những cô gái thanh niên xung phong
trong thơ Phạm Tiến Duật đã hi sinh oanh liệt hay cô em gái mở đường
trong bài thơ “Khoảng trời - Hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ đã nằm xuống
để cứu con đường… Từ đó, chúng ta th
ấy được dù hoàn cảnh thử thách
khác nhau, nhưng trước cái chết họ đều giống nhau trong sự dứt khoát,
thanh thản, trong sáng và cao cả chấp nhận sự hi sinh. Đó là những con
người sử thi, con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí và
khát vọng của cộng đồng, của dân tộc, đất nước.
Con người của thời đại chống Mĩ là sự kết tinh của quê hương, đất
nước và gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước. Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Long: Chưa bao giờ như ở văn học thời kì này, cảm hứng về

nhất cũng được nhìn nhận theo chiều hướng hòa hợp với cái ta chung, hòa
quyện vào lí tưởng chung, theo hệ quy chiếu nhiệm v
ụ chung của cả cộng
đồng.
4. Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến 1945 – 1975:
4.1. Từ “cái tôi” lãng mạn trong Thơ mới đến “cái ta” lãng mạn
cách mạng trong thơ tình yêu thời kì kháng chiến:
Biểu hiện của cái tôi lãng mạn trong Thơ mới là yêu hết mình, sống
hết mình cho tình yêu thế nhưng lại quan niệm tình yêu mà đi đến hôn nhân
trọn vẹn thì không còn mang màu sắc lãng mạn, thi vị nữa.
Chẳng hạn, Nguyễn Nhược Pháp đã chú thích thêm sau phần kết
thúc của bài thơ “Em đi chùa Hương” vốn rất nổi tiế
ng của mình như sau:
“Thiên kí sự đến đây là hết. Tôi tin rằng rồi hai người sẽ lấy nhau vì không
lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều, lấy nhau rồi là hết chuyện”. Nhiều
cây bút thuộc phong trào Thơ mới cũng đồng tình với quan niệm tình yêu
của Hồ Dzếnh:
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
( Hồ Dzếnh )
với Lưu Trọng Lư đ
ã yêu là phải sầu, phải khổ nếu không thì sẽ không còn
thơ mộng, lãng mạn nữa:
Thuyền yêu không ghé bến sầu
Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học GS. nghiên cứu Lê Đình Kỵ nêu
nhận định: “…Tình yêu trong thơ mới trước hết là tình mộng. Hiếm hoi lắm
mới thấy có tình yêu cụ thể, như cùng đi dạo với trăng, cùng đi dạo trên
đường làng …Như
ng chạm vào cụ thể thì tình yêu bị “sốc” ngay”. [ 3 ;43]

bên cạnh những đề tài lớn viết về quê hương, đất nước nhưng đã góp phần
làm nên sự đa dạng cho nền thơ ca thời kháng chiến. Do thơ tình yêu trong
thời kì này luôn có sự hài hòa đan xen các tình cảm riêng – chung; trong cái
chung người ta dễ dàng tìm th
ấy cái riêng và trong cái riêng vẫn có sự hiện
hữu của cái chung
Như vậy, thơ viết về tình yêu trong giai đoạn 1945 – 1975 cũng có
đầy đủ những cung bậc tình cảm, những trạng thái rung cảm yêu thương
nhưng nó không xa rời hiện thực, không xa rời cuộc đấu tranh giữ nước của
dân tộc. Tình yêu của nam nữ thanh niên trong giai đoạn này luôn gắn liền
với nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của đất nước. Đ
ây là nét đặc sắc làm nên
đặc điểm, màu sắc riêng của thơ tình yêu giai đoạn văn học 1945 – 1975.
4.2. Quan niệm về tình yêu trong thơ kháng chiến (1945 – 1975):
Bàn về chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam, giáo sư Lê
Đình Kỵ đã nêu lên thành vấn đề về hai mối quan hệ riêng và chung. Theo
ý kiến của giáo sư, giai đoạn đầu, âm hưởng của văn học là hướng về nhân
dân, Tổ quốc; cái riêng tự
quên, tự hòa vào cái chung. Nhưng càng về sau,
cái riêng càng được chú ý và đặt vào mối quan hệ hài hòa thống nhất: Tập
thể cách mạng không phải là tập thể của thị tộc hay của công xã nguyên
thủy mà là tập thể cao của những con người có ý thức đầy đủ về bước đi
của lịch sử, về nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Sự hài hòa giữa tập thể và
cá nhân không thủ tiêu cái “đơn vị con ng
ười” ở mỗi thành viên mà bao
gồm sự đa dạng phong phú của những đặc điểm cá nhân. [ 3; 136]
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 15 -


sáng dẫn đường, thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim. Tình yêu và lí tưởng đấu
tranh thấm sâu vào cuộc sống hằng ngày, từng miếng ăn, giấc ngủ, cả
nhiệm vụ đảm đương. Vì thế, tình yêu cứ mãi lớn lên, ngày càng sâu thêm,
trải dài theo thời gian kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Tình yêu đã hun
đúc cho anh mộ
t sức mạnh tinh thần cao quý, anh càng mạnh mẽ, tin tưởng,
sống xứng đáng hơn.
Giáo sư Nguyễn Văn Long và nhiều nhà nghiên cứu, phê bình còn
chỉ ra những hạn chế của nền văn học 1945 – 1975. Trong những hạn chế
đó có đề cập đến: Hiện thực mà văn học quan tâm trước hết phải là những
vấn đề có ý nghĩa lịch sử, quan hệ tới vận mệnh củ
a dân tộc, nhân dân. Đời
sống thế sự và riêng tư ít được quan tâm thể hiện, nếu có thì cũng phải
được nhìn và đánh giá trên quan điểm của cộng đồng. [10 ;21]. Điều đó đã
làm nên tính phiến diện trong việc phản ánh đời sống của văn học.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nêu lên quan niệm của mình về tình
yêu trong văn học thời kì kháng chiến: “Người Việt Nam yêu để thêm được
mạnh mẽ, yêu để được sống thêm hăng hái, tranh đấu thêm được vững bền,
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 16 - chứ không phải yêu để đắm đuối trong tình yêu và lãng quên cuộc sống
[7;130]. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của nhà thơ bởi yêu và
được yêu là nhu cầu chính đáng của con người. Trong chiến tranh, tình yêu
vẫn nở rộ, bom đạn không thể hủy diệt được tình yêu. Những bài thơ tình
chân chính đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người lính,
giúp người chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn nơi chiến trườ
ng, hoàn thành


CHƯƠNG II: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI
TRỮ TÌNH LÃNG MẠN TRONG THƠ TÌNH YÊU
THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN (1945-1975)
Văn học Việt Nam 1945 – 1975 ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt:
dân tộc ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ. Thơ viết về đề tài tình yêu cũng ra đời trong trường hợp đặc biệt
như vậy. Nhưng dù chiến tranh có tàn khốc, khắc nghiệt thì những câu
chuyện tình yêu muôn thuở vẫn nồng nàn, tha thiết, tươi trẻ, đầy chất lãng
mạn…vẫn thu hút nhữ
ng cây bút chủ lực. Những tưởng chỉ có trong thời
bình, tình yêu mới có điều kiện đơm hoa kết trái, mới thể hiện đầy đủ
những cung bậc yêu thương. Nhưng chính trong hoàn cảnh chiến tranh, con
người phải đối mặt với sự sống còn thì tình yêu của họ vẫn thăng hoa.
Có nhiều câu chuyện về tình yêu đã làm rung động người cùng thời
và lưu truyền muôn đời sau.
I. TÌNH YÊU HỒN NHIÊN, TƯƠI TRẺ, ĐẰM THẮM GIỮA
ĐẠN LỬA CHIẾN TRANH:
Máy bay giặc không ngừng thả bom, súng giặc đất rền, con người
luôn sống trong ranh giới giữa tồn tại và hủy diệt. Nhưng con người vẫn lạc
quan, ung dung, và các nhà thơ vẫn tìm thấy cảm hứng ngay trên mảnh đất
bị chiến tranh tàn phá. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phát hiện ra một khung
cảnh tươi vui, ấm áp, tràn đầy tinh thần lạc quan. Ở nơi đó, ta bắt gặp
những rung độ
ng của tình yêu tuổi trẻ, những tình cảm đầu đời:
Trong ánh chớp nhoáng nhoàng cây cối ngả nghiêng
Tổ công binh đứng ngồi trong trạm gác
Cái cậu trẻ măng cất lên tiếng hát
Khi biết trong hầm có cô bé đang nghe.
(Vầng trăng và những quầng lửa)

Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu
(Hương thầm)
Tình cảm thầm yêu trộm nhớ của tuổi học trò đành phải ngăn lại
trước nhiệm vụ thiêng liêng của đất nước. Chẳng ai nói với ai điều gì song
cả hai đều hiểu:
Họ chia tay vẫn chẳng ai nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bướ
c người đi
Tình yêu thầm lặng mà sâu sắc, nồng nàn, cứ luôn dai dẳng, canh
cánh bên lòng.
Nếu nhân vật trữ tình trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn nhờ hương
hoa bưởi để nói hộ tình yêu sâu kín của mình, thì nhân vật trữ tình trong bài
thơ “Núi đôi” của Vũ Cao lại dùng hình tượng “núi đôi” để biểu trưng cho
tình yêu sâu đậm nơi miền sơn cước. Một sự gắn kết vừa mộc mạc, vừa tình
tứ
sâu xa:
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi
(Núi đôi)
Quê hương là nơi gắn bó với những kỉ niệm tuổi thơ đáng yêu, đáng
nhớ trong trẻo, hồn nhiên. Nơi có “hoa trắng ngần thơm một góc chanh”,
có đôi bạn “thanh mai trúc mã” lớn lên rồi yêu bằng một tình yêu trong
sáng:
…Rửa chân hai buổ
i cầu ao
Em vội cúi đầu khỏa sóng
Đôi bóng người rung, khóm bèo chao động
Ánh mắt thẹn thùng lặn xuống đáy sâu

trông ngóng. Do vậy, khi được tin người yêu về, cảnh vật, thiên nhiên
“vầng trăng”, “hoa cau”, “mây” dường như xoắn xuýt chia sẻ niềm vui với
cô:
Thư anh tin ngày về
Cho vầng trăng hẹn mọc
Trong ngần hoa cau thơm
Mây chớm màu tha thiết
(Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây)
Cho nên, h
ạnh phúc được gặp người yêu là niềm vui bất tận.
Anh khoác ba lô về
Đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm vui
Như trăng mọc ban ngày
(Những mùa trăng mong chờ - Lê Thị Mây)
ngòi bút của Lê Thị Mây miêu tả diễn biến tâm lí của cô gái thật tinh tế.
Người yêu về, khiến cho tâm hồn cô xáo động mạnh “Em tái nhợt niềm vui
như
trăng mọc ban ngày”. Hạnh phúc bất ngờ làm cho cô ngây ngất như
trăng mọc ban ngày (bởi trăng có bao giờ mọc ban ngày) và tưởng chừng
đất trời dồn chật lại như chung hưởng niềm vui bất tuyệt của cô.
Mọi sự vật trên thế giới này điều vận động và phát triển. Tình yêu
không chỉ dừng lại ở những rung động, cử chỉ mà nó phát triển lên một
bước cao hơ
n: trạng thái của tình yêu. Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh chiến tranh, con người ít có điều kiện ở bên nhau
cho nên nỗi nhớ càng mãnh liệt, dữ dội, thắm thiết, sâu sắc.
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 20 -

Nhà thơ Thúy Bắc đã tự hỏi:
Có thể nào quen nỗi nhớ lúc xa nhau
Bao kỉ niệm trong ta đằm thắm mãi
Như gió hút giữa ngàn lau trắng ấy
Thổi qua rồi bông lá vẫn còn rung.
(Không quen)
Hai người đang yêu có lẽ không ai muốn có chuyện chia cách. Người xưa
đã diễn tả nỗi nhớ bằng cách so sánh “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”
(
Một ngày không gặp tựa hồ ba năm), còn dịch giả Đoàn Thị Điểm lại diễn
tả nỗi nhớ chồng của người chinh phụ được tính bằng giờ, bằng khắc “Khắc
giờ đằng đẵng như niên; mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa” một khắc chờ
mong như một năm dài. Với nhà thơ Thúy Bắc, cô tự h
ỏi rồi tự trả lời “Có
thể nào quen nỗi nhớ lúc xa nhau – Không quen”, tựa bài thơ đã đáp lời cho
tác giả. Thế nhưng, không gian chia cách lại là một thực tế hiện hữu thường
trực giữa các đôi lứa yêu nhau trong thời kháng chiến. Những Kim – Kiều
của thế kỉ XX thường cảm nhận sâu sắc: “Hai đầu nỗi nhớ yêu và thương
sâu hơn; giữa hai đầu nỗi nh
ớ nghĩa tình đằm thắm hơn”. Cho nên, nỗi nhớ
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 21 - chính là trạng thái yêu thương thường xuất hiện trong thơ tình yêu giai đoạn
này.
Tố Hữu được mệnh danh là nhà thơ trữ tình chính trị. Tố Hữu đã
rạch ròi phân chia tình yêu dành cho Đảng, tình yêu dành cho thơ và tình
yêu cho đôi lứa. Dù tình yêu được xếp vị trí thứ ba nhưng người yêu vẫn

vệ Tổ quốc, bảo vệ hạnh phúc cá nhân. Tình yêu và nỗi nhớ như những
cánh tay luôn vẫy gọi người chiến sĩ xốc tới, hướng về phía trước. Bài thơ
“Nhớ”của Nguyễn Đình Thi thể hiện quan niệm tình yêu cao cả, chân
thành, chấp nhận chia xa mà không bi lụy:
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi bữa anh ăn
Sự thể hiện tình yêu trong một số bài thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 – 1975

- Trang 22 - Lần đầu tiên trong thơ ca tình yêu lứa đôi được sánh ngang với tình
yêu đất nước. Tình yêu trải qua những bước thăng trầm nhưng vẫn đẹp lung
linh như hình ảnh đất nước trong mưa bom đạn lửa vẫn “tươi thắm vô
ngần”. Và nỗi nhớ mong đầy tràn dường như xuất hiện mọi lúc mọi nơi,
trong mọi sinh hoạt của người chiến sĩ.
Tình yêu đã truyền thêm sứ
c mạnh, giúp những đôi lứa vượt qua mọi
khó khăn nơi chiến trường. Vì nhiệm vụ, vì lý tưởng họ đành phải xa cách.
Đây không phải là sự xa cách của hai tâm hồn chưa cảm thông mà chỉ là sự
xa cách trong không gian. Mà chính có sự xa cách đó mới có thời gian bình
tĩnh để hiểu tình yêu một cách sâu lắng, đúng đắn hơn (Nguyễn Xuân Nam)
[4 ; 45]
Cách nghìn sông núi vẫn bên nhau
Em ơi đường chiến đấu dài lâu
Trong gian khổ vẫn chan hòa ánh sáng
Đời anh có em nh
ư ngày có nắng

Trích đoạn Tình yêu lí tưởng: Niềm đau xót, sự vượt lên những mất mát đau thương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status