nhân sinh quan phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo phật hiện nay - Pdf 10

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP BÁCH CỦA ĐỀ TÀI
Đạo Phật truyền vào nước ta khoảng đầu Công nguyên và đã trở thành
một trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đến
ngày nay, đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt
Nam trong lịch sử. Đạo Phật với quan niệm nhân sinh độc đáo của nó trở
thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn hoá dân tộc. Ngày nay,
trong bối cảnh công cuộc đổi mới của đất nước, do sự tác động mạnh mẽ
của nền kinh tế thị trường cùng với các học thuyết tư tưởng và tôn giáo khác,
đạo Phật đã có những biến chuyển mạnh mẽ cùng với sự chuyển mình lớn lao
của đất nước. Tình hình đó có tác động không nhỏ, theo cả hai chiều hướng
tích cực, tiêu cực, tới đời sống xã hội, tới lối sống, đạo đức của xã hội nước
ta. Đặc biệt, thủ đô Hà Nội là một trong hai trung tâm lớn của Phật giáo
Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy trên. Do yêu cầu khách quan
của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước cũng như đóng góp
một phần nhỏ vào nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bẩn
sắc dân tộc mà Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra trong Đại hội
Đảng lần thứ VIII, việc đứng trên lập trường triết học mác-xít để nghiên cứu
nhân sinh quan đạo Phật và sự thể hiện của nó ở các tín đồ đạo Phật hiện nay,
chỉ ra những yếu tố tích cực, phát hiện những giá trị tinh tuý của nó cũng như
những mặt hạn chế của nó chính là một việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về
mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn. Với tầm quan trọng và ý nghĩa như
vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện
của nó ở một số tín đồ đạo Phật hiện nay" (qua quan sát một số chùa ở Hà
Nội).
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1
Nhân sinh quan Phật giáo (nguyên thủy) là một đề tài đã được nhiều
nhà khoa học, Phật tử nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian gần đây, cụ thể là:
- Năm 1984, Tiến sĩ Peter D. Santina viết cuốn sách "Fundamentals
of Buddhism" (Nền tảng của đạo Phật). Cuốn sách được Thích Tâm Quang

- Năm 1997, TS Nguyễn Hùng Hậu viết cuốn "Lược khảo tư tưởng
Thiền Trúc Lâm Việt Nam" Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản. Trong
đó tác giả phân tích khía cạnh bản thể luận, quan niệm nhân sinh của các
thiền sư thời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung
Thượng sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang, Ở đây, tác giả mới đề cập giai đoạn
Phật giáo phát triển đến đỉnh cao - thời kỳ Nhà Trần.
Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu về nhân sinh quan
Phật giáo về mặt lý luận, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
những biểu hiện của nhân sinh quan Phật giáo ở các tín đồ Phật giáo tại Hà
Nội - một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước trong điều kiện công cuộc
đổi mới của đất nước hiện nay.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
- Mục đích của luận văn là:
+ Trình bày một cách có hệ thống về nhân sinh quan Phật giáo
(nguyên thủy), rút ra những mặt tích cực và hạn chế của nó.
+ Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh ở các tín đồ
đạo Phật hiện nay (tập trung ở tín đồ Hà Nội).
- Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề thuộc nhân sinh quan
của Phật giáo như: Quan niệm về con người và cuộc đời con người, quan
niệm về giải thoát và con đường giải thoát.
3
+ Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh Phật giáo ở
tín đồ đạo Phật Hà Nội hiện nay qua niềm tin tôn giáo, việc thực hiện lễ
nghi và sự thực hành giới luật của họ. Từ đó rút ra những kết luận về ảnh
hưởng của nó đến đời sống xã hội nước ta hiện nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin về triết học và lịch sử triết học, kết hợp với phương
pháp luận nghiên cứu triết học phương Đông.

- Về điều kiện kinh tế - xã hội: Từ thế kỷ VI (trước Công nguyên)
đến thế kỷ I (sau Công nguyên), chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất gia
trưởng kiểu phương Đông đã khá phát triển ở Ấn Độ. Do việc mở mang các
công trình thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp phát triển. Thủ công nghiệp tách
hẳn khỏi nông nghiệp. Nhiều thành phố trở thành trung tâm thủ công
nghiệp và thương nghiệp quan trọng thời kỳ này như Benares, Sravasti
Nhiều con đường thương mại thuỷ bộ đã hình thành. Ấn Độ đã giao dịch
buôn bán khá rộng rãi với các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả rập,
Trung Á Nhưng xã hội Ấn Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của
tổ chức công xã nông thôn cùng với chế độ phân biệt màu da, chủng tính
khắc nghiệt.
5
Xã hội Ấn Độ lúc này được chia thành bốn đẳng cấp cách biệt:
1. Tăng lữ thuộc đẳng cấp Bàlamôn; 2. Vua chúa thuộc đẳng cấp Kshatiya;
3. Nông dân, thợ thủ công và thương nhân thuộc đẳng cấp Vaishya; 4. Nô
lệ thuộc đẳng cấp Shudra. Bàlamôn và vua chúa là giai cấp thống trị; nông
dân, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ thuộc giai cấp bị trị. Bốn đẳng cấp
này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối tạo thành một tổ chức xã hội bất
công.
- Về văn hóa - tư tưởng: Ấn Độ cổ đại là một đất nước có một nền
triết học phong phú hết sức bề thế xuất hiện từ rất sớm. Ngay từ thế kỷ XV
trước công nguyên đã xuất hiện bộ kinh điển Rg Vêđa. Đó là những bài ca
tán có tính chất thần thoại nhưng đã bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và
nhân sinh quan. Tiếp theo trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên
là thời đại Brahman. Đến thời kỳ 800-600 năm trước công nguyên là triết
học Upanishad. Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của
kinh Vêđa. Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết
duy tâm tôn giáo, vốn có trong kinh Vêđa về cái gọi là "tinh thần sáng tạo
tối cao" sáng tạo ra thế giới này. Upanshad cho rằng thế giới vô ngã
Brahman hay "tinh thần vũ trụ tối cao" là thực thể duy nhất, tồn tại vĩnh

trong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao
động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng xã hội. Đây chính là
những nhu cầu của hiện thực lịch sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởng
mới ở Ấn Độ trong thời kỳ này. Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnh
lịch sử trên với tư cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳng
cấp xã hội, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, chống giáo lý duy tâm hoang
đường của Bàlamôn giáo, bác bỏ uy quyền thần thánh và phương pháp tu
hành khổ hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người. Nó là sự khẳng
định một đạo lý, một đường hướng cứu khổ mới cho con người.
Theo các sử liệu ghi lại, người sáng lập ra Phật giáo là Thích-ca-
mâu-ni, có tên thật là Siddhartha (Tất-đạt-đa), họ là Gautama (Gô-ta-ma),
7
thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là
thành Kapilavastu (Catylavê) ở phía Bắc Ấn Độ. Phật Thích ca sinh năm
563 (trước Công Nguyên). Năm 29 tuổi ông đã quyết định từ bỏ cuộc sống
vương giả để đi tu. Sau bảy năm liền tu luyện ông đã ngộ đạo và tìm ra con
đường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đè nặng trong đời sống xã
hội Ấn Độ cổ đại. Sau khi tìm ra con đường giải thoát, ông truyền bá những
tư tưởng của mình cho chúng sinh ở Ấn Độ và tìm các đệ tử lập ra các đoàn
thể Phật giáo. Ông mất năm 80 tuổi (năm 483 trước Công nguyên).
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó
được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là
"Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1. Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi
những lời Phật dạy về đạo Phật. 2. Tạng Luật (Vinaya pitaka) gồm các giới
luật của đạo Phật. 3. Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các
tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
này.
Nơi sinh ra Phật giáo là Ấn Độ và Phật giáo là sản phẩm trực tiếp
của xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt. Cho nên
ngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp

Cái này có thì cái kia có,
Cái này sinh thì cái kia sinh,
Cái này không thì cái kia không,
Cái này diệt thì cái kia diệt [3, 95]


Kể từ đây: - Số thứ nhất l sà ố thứ tự của t i lià ệu tham khảo.
- Số thứ hai trở đi l sà ố trang t i lià ệu tham khảo.
9
Tất cả các pháp đều sinh diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết
với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập và trường tồn, nhất
thành bất biến.
Trong Kinh "Thủ Lăng Nghiêm "có đoạn viết:
Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh
Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt.
Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt.
Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt.
Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:
"Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân
duyên cố diệt".
Nghĩa là:
Hết thảy mọi pháp,
Đều không có tự tính,
Vì nhân duyên mà sinh,
Vì nhân duyên mà diệt.
Ở một chương khác Phật lại nói:
Tòng duyên sinh cố,
Danh chi vi hữu,
Vô tự tính cố,
Danh chi vi vô [3, 96]

giáo lý Phật, là một cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống
của những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật.
11
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Theo
thuyết vô thường chỉ ra các pháp (sự vật, hiện tượng, con người) luôn biến
dịch, không có gì là thường trụ, bất biến. Sự chuyển biến ra trong từng
sátna (Kshana) - sự chuyến biến rất nhanh trong thời gian hết sức ngắn,
ngắn hơn cả một cái nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến
vừa khởi lên đã vụt chấm dứt. Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng,
ngấm ngầm thường ta không nhận thức kịp mà kết quả là dẫn đến sự
chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ chuyển sang một trạng thái
mới. Do vậy, vạn vật vô tình trong vũ trụ đều tuân theo qui luật: Thành - trụ
- hoại - không. Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển đi đến
diệt, hoại thành không.
Các sinh vật đều tuân theo qui luật: Sinh - trụ - dị - diệt.
Chung quanh ta, sự vật biến chuyển không ngừng. Theo luật vô
thường thì không phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt
mới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đã
từng liên tiếp xảy ra.
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã
là không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu. Theo nguyên lý duyên sinh, các sự
vật đều là các pháp duyên sinh. Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướng
đều do những bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thể
chia chẻ ra được. Tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đối
với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với
chết, có đối với không. Tất cả sự vật đều do đối đãi với nhau mà thành nên
đều vô ngã, đều không có tự tính: Thân vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã.
Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề về
nhân sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào?
Cuộc đời con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?

Như vậy, Đức Phật cho rằng con người bao gồm có hai phần vật
chất và tinh thần kết hợp với nhau. Nhưng con người không phải tự nhiên
mà sinh ra. Con người là một pháp duyên sinh, con người sinh ra là do
nhân duyên hòa hợp và thức chuyển biến mà thành. Phật phân tích có mười
hai nhân duyên là: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên
Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên
Thụ, Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh
duyên Lão, Tử. Các yếu tố vật chất khi hội đủ nhân và có duyên cần thiết
sẽ hợp thành những thực thể hữu hình (thân xác con người) gọi là "sắc" và
có "tâm" (ý thức) thì con người sống, hoạt động (tồn tại). Theo kinh "Đại
Trương Duyên" nếu không có thức thì thân ngũ uẩn không thể hình thành.
Mặt khác khi nhân duyên tan rã thì con người cũng không còn (chết đi). Sự
tồn tại hữu hình của con người có ý thức chỉ là tạm thời (sắc sắc - không
không) trong vòng luân chuyển liên tục của vô số nhân và trùng trùng
duyên khởi.
Với cách lập luận trên, đạo Phật đã chứng minh con người sinh ra là
do nhân và duyên, không có một đấng tối thượng siêu nhiên nào tạo ra con
người, cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra. Con người sinh
ra là do nhân duyên, nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, nhân duyên tan
rã thì con người diệt. Có thể nói yếu tố vô thần của đạo Phật thể hiện ở đây.
Khi trả lời câu hỏi: "Con người chết rồi đi đâu?", Đức Phật chỉ rõ:
Con người là một pháp duyên sinh, là sự kết hợp động của ngũ uẩn. Vì vậy
khi con người chết (ngũ uẩn tan rã) thì không còn cả thể xác lẫn linh hồn.
Phật đã phủ nhận tư tưởng kinh Upanishad cho rằng có một linh hồn bất tử
14
(linh hồn vũ trụ tối cao) tồn tại vĩnh viễn. Phật cho rằng chỉ có sự kết hợp
mới của ngũ uẩn, mà động lực là nghiệp lực.
Vậy nghiệp lực là gì ?
Theo đạo Phật quan niệm trong suốt một đời người, tất cả những
hoạt động về thân thể, về lời nói, về ý nghĩ đều huân tập nơi thức tâm, gọi

sự thay đổi nhanh chóng của thân. Sự tồn tại của sắc thân con người mỏng
manh tạm bợ như hơi thở. Một hơi thở ra mà không hít vào, tức là đời sống
của thân không còn, giờ tan rã sắp đến, nên có câu: "Nhân mạng tại hô hấp
gian". Không chỉ sắc thân con người luôn biến chuyển; thụ, tưởng, hành,
thức cũng biến động không ngừng. Từng phút, từng giây, từng sátna, ta có
những cảm giác mới, những nhận thức mới, những suy tưởng mới. Con
người sinh ra rồi lại chết đi để một sinh linh mới ra đời. Khi trả lời câu hỏi:
"Đời người ta dài bao nhiêu?" Phật cho rằng: "Đời người dài một niệm".
Một niệm khởi lên rồi diệt đi, thế là một đời người hết. Một niệm khác khởi
lên, tức là một đời người khác đời người trước tiếp tục. Sự sống và chết
tiếp diễn liên tục nối tiếp nhau bất tận như trên một cái vòng tròn theo quy
luật luân hồi. Hiểu theo Phật, chết không phải là hết, chết là điều kiện cho
một cái sinh sắp tới. Khi chết ngũ uẩn tan rã phân tán, nhưng nghiệp của
con người vẫn tiếp tục chi phối, khi gặp một điều kiện nhân duyên thuận lợi
con người lại được tái tạo thành một sinh linh mới.
Từ quan điểm Vô thường về con người, đạo Phật đi đến phủ nhận
sự tồn tại của cái Ngã (cái tôi, cái Ta của con người). Con người là kết quả
của sự kết hợp giả tạm của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nhưng
Phật lại cho rằng tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong vốn là không, và ngũ uẩn
16
cũng chẳng có. Ngũ uẩn tụ hợp sẽ sinh ra con người, ngũ uẩn ly tán thì con
người sẽ chết cho nên cái Ta chỉ là một giả tướng, một nhất hợp tướng mà
thôi chứ không có cái Ta thực tướng, cái Ta bất biến, cái Ta trường tồn. Sắc
thân con người do cha mẹ sinh ra, do tứ đại, ngũ uẩn hợp thành, là cái thân
hiện hữu trong thế giới nhưng chỉ là ảo ảnh. Phật nói:
"Sắc đã được cái vô ngã (tứ đại) làm cho sinh khởi; từ đâu là ngã được?
Sắc đã được cái vô thường làm cho sinh khởi; từ đâu mà thường được?" [28,
159].
Quan điểm Vô ngã của đạo Phật đã phủ nhận sự tồn tại đích thực
của chính bản thân con người. Như vậy, theo Đức Phật, cái Ta là giả tạm, là

tại vườn Lộc Giã cho năm tỷ khưu trước khi đi theo Phật.
Theo lời Đức Phật khi bàn về cuộc đời con người đã xuất phát từ Khổ
đế (Dukkha Arya Satya): "Ta chỉ nói khổ và con đưòng diệt khổ" [27, 272].
Phật giáo quan niệm cuộc đời con người là đau khổ, khổ đau là tất
yếu, là chân lý. Đức Phật hết sức rung động trước những đau khổ của loài
người, cho rằng:
"Nước mắt của chúng sinh trong 3000 thế giới còn nhiều hơn nước
bể ở bốn đại dương".
Phật nêu về những nỗi khổ mà con người phải chịu đựng trong cuộc
đời của mình:
"Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu
não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly khổ, cầu không được là khổ.
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ".
18
Trong kinh Phật nói về khổ nạn có thể chia theo hai tiêu chí: về mặt
thể chất và về mặt tinh thần. Sự khổ nạn về thể chất là khổ nạn do sinh nở,
tuổi già, bệnh tật và chết.
1. Sinh khổ: đã có sinh là có khổ, vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật
vô thường chi phối, nên có khổ. Khi sinh ra, có một cơ thể sinh lý có hình,
có tướng nên phải chịu đựng và chống lại nóng lạnh, tìm cách duy trì cái
thân tứ đại, phải đối phó với mọi tai nạn do thiên nhiên hay do con người
gây ra, nên suốt đời phiền não, đau khổ.
2. Lão khổ: Con người mong muốn trẻ và khỏe mãi nhưng cái già
cứ đến. Cái già tiến đến đâu thì sự suy yếu đến đấy làm người ta phiền não.
3. Bệnh khổ: Khi bị bệnh hành hạ, con người bị đau khổ.
4. Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết. Mọi người đều phải chết, dù
sớm hay muộn. Người sắp chết mà biết mình sắp chết thì tâm lý cũng đầy
dao động, bi thương tương tự. Ở đây, ta thấy rõ, chết thì không mấy đau
khổ, nhưng ám ảnh của cái chết gây nên nhiều khổ đau hơn. Con người
càng muốn sống, ham sống thì lại càng sợ chết. Chết có thể xảy đến bất cứ

phúc này, theo Phật, không trường tồn, không sớm thì muộn chúng ta sẽ
phải chịu khổ nạn.
Qua sự phân tích trên, ta thấy quan niệm cơ bản nhất của đạo Phật
về cuộc đời con người đó là sự đau khổ. Đức Phật phân tích những nỗi đau
khổ đó dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng mới thể hiện được cái khổ
đau về mặt tâm sinh lý của con người chứ chưa phân tích được sự khổ đau
của con người bắt nguồn từ những nguyên nhân trong đời sống xã hội.
Chính vì vậy mà phương pháp thoát khổ, vượt qua khổ trong Phật giáo
cũng mang nặng tính chất tâm lý. Cần thấy nếu thổi phồng, nhấn mạnh một
lĩnh vực tâm lý, tinh thần của con người thì sẽ đem lại một cách nhìn phiến
diện về con người và xã hội, không thấy được nguyên nhân xã hội của đau
20
khổ nên đạo Phật xa lánh các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy vậy, hơn
tất cả các học thuyết phương Đông khác, Phật giáo đã đi sâu phân tích mặt
phát triển tự nhiên của con người (Sinh - Lão - Bệnh - Tử) chỉ ra đó là sự
phát triển tất yếu của cơ thể sống con người mà nếu ai nhận thức được thì
sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí khi đứng trước cái
chết họ không khiếp sợ, bạc nhược.
Theo quan niệm của đạo Phật, các sự vật, vạn pháp trên thế giới đều
bị chi phối bởi quy luật nhân - quả (theo nguyên lý duyên sinh). Vì vậy, sau
khi nhận ra những nỗi khổ đau mà con người phải chịu đựng trong cuộc
đời, Đức Phật đi tìm nguyên nhân gây ra sự khổ đau đó và trình bày trong
phần Tập đế Dukkha Samudaya Arya Satya).
Triết lý Phật giáo cho rằng nguyên nhân của nỗi khổ chính là do
lòng ái dục của con người gây nên. Nhưng ái dục lại bắt nguồn từ sự vô
minh, từ cái tâm vọng động, mê lầm của chính con người. Con người
không nhận thức được bản chất của thế giới này và ngay cả thân xác con
người cũng đều do lý nhân duyên hoà hợp mà biến hiện và thay đổi vô
thường. Con người muốn tồn tại mãi nhưng thực tại cứ biến dịch. Con
người muốn trường tồn nhưng thực tại và cuộc đời cứ luân chuyển trong

12. Lão và Tử
Khi thuyết minh về mười hai nhân duyên, Đức Phật luôn nhấn
mạnh đến Vô minh và Ái thủ, bởi chính vô minh là nguyên nhân của mọi
khổ đau, còn Ái thủ trực tiếp gây ra mọi vọng động. Vả lại cái nhân của
khổ đau, theo Phật là do con người vô minh không nhận chân được duyên
khởi tính của hiện hữu, từ đó lại sinh ra tham ái và chấp hữu.
Mười hai nhân duyên chuyển liên tục từ khâu này sang khâu khác
trong ba thời gian: quá khứ, hiện tại, vị lai. Vì thế cho nên chúng sinh bị
chìm đắm mãi trong bể khổ trầm luân, quay lộn trong vòng luân hồi sinh tử
22
không dứt. Nhưng xét đến cùng, chẳng những trong nhiều đời mà trong
một đời, trong từng niệm, mười hai nhân duyên cũng duyên khởi ra nhau,
liên tục không gián đoạn.
Vấn đề đặt ra là: theo nhà Phật do con người không hiểu được đạo
lý duyên sinh cho nên chịu muôn vàn đau khổ, quay lộn mãi trong vòng
luân hồi sinh tử. Vậy nên làm thế nào để giải thoát con người khỏi vòng
luân hồi, thoát khỏi mười hai nhân duyên nối tiếp nhau không dứt? Phật chỉ
ra muốn làm cho cái vòng luân hồi mười hai nhân duyên không tiếp tục
được nữa thì phải chặt đứt một mắt khâu trong mười hai nhân duyên để
chúng không làm nhân, làm duyên với nhau được. Vấn đề này được Đức
Phật trình bày trong phần Diệt đế và Đạo đế.
1.4. VẤN ĐỀ GIẢI THOÁT
Các trường phái triết học ở Ấn Độ cổ đại chú trọng vào các lĩnh vực
kinh nghiệm tâm linh và vấn đề cơ bản là tôi luyện tâm linh để giải thoát
con người khỏi những khổ đau, trở về với bản thể đại ngã. Đạo Phật cũng
không nằm ngoài đặc trưng đó. Đạo Phật là đạo giải thoát. Vấn đề giải
thoát là một trong những vấn đề cơ bản của đạo Phật. Đức Phật không chỉ
dừng lại ở chỗ nói về khổ nạn và nguyên nhân của khổ nạn con người phải
chịu đựng trong cuộc đời mà quan trọng hơn là sau đó Đức Phật nói về việc
kết thúc khổ nạn, nói về mục tiêu của đạo Phật. Kinh Phật có nói:

ai cũng có Phật tính, nếu có công tu dưỡng thì cuối cùng cũng thành Phật.
Phật không chỉ nói mọi người đều có khả năng thành Phật, mà Đức Phật
còn nói tất cả chúng sinh đều bình đẳng trên con đường giải thoát. Chính ở
đây thể hiện được tinh thần chống bất bình đẳng của đạo Phật. Đức Phật đã
chỉ rõ: "Tình thương và nhu cầu là những dây liên lạc giữa mọi người.
Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp
24
trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người sinh ra không phải đã mang sẵn
trong bào thai dây chuyền ở cổ hay dấu tin-ka ở trán " [43, 115].
Những lời nói trên có thể coi như một lời tuyên ngôn của Đức Phật
chống lại sự bất công, sự bất bình đẳng trong một xã hội có đẳng cấp. Đây
chính là yếu tố có tác dụng khích lệ rất lớn đối với con người sống trong xã
hội Ấn Độ cổ đại có sự phân biệt dẳng cấp ngặt nghèo lúc bấy giờ. Nhưng
bằng cách nào để thực hiện được mục đích và lý tưởng giải thoát, xoá bỏ vô
minh, vọng tưởng, làm mê tâm mờ tính, diệt mọi ái dục và đau khổ, đưa
đến sự an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ và Niết bàn? Lý giải vấn đề này,
Đức Phật đưa ra Đạo đế (Marga Satya). Đó chính là quan điểm về con
đường, cách thức hay phương pháp giải thoát của đạo Phật.
Theo triết lý Phật giáo, có 37 phương pháp tạo thành con đường và
cách thức để giải thoát còn gọi là 37 đạo phẩm, gồm có: bốn niệm xứ, bốn
chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám con đường
chính. Nhưng con đường và phương pháp giải thoát tiêu biểu và tập trung
nhất vẫn là "Bát chính đạo". Đó là con đường trung đạo, con đường tránh
được khuynh hướng tu luyện ép xác khổ hạnh của đạo Jaina,vừa tránh được
chủ nghiã khoái lạc của phái Lokayata. Cả hai khuynh hướng trên, theo
quan điểm Phật giáo, đều không thể dẫn đến trạng thái diệt ái dục, thanh
tịnh, tịnh tiến và chính giác được. Lợi dưỡng vật chất, sa vào thế giới vật
dục là đam mê theo đuổi cái giả tướng, làm mê tâm mờ tính, làm chậm trễ
sự tiến bộ tinh thần. Còn tu luyện khổ hạnh làm suy giảm trí lực, khó có thể
đạt được mục tiêu đã chọn. Trong kinh "Chuyển Pháp Luân", Đức Phật đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status