TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
**************
PHÙNG THỊ THỦY NGÂN
NHO GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ
ĐẾN GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học Mác – Lênin
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.sĩ: Nguyễn Thị Giang
HÀ NỘI – 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thị
Giang đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm trong suốt quá
trình nghiên cứu đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục chính
trị, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đặc biệt là các thầy cô cô giáo trong tổ
bộ môn Triết học Mác – Lênin đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài
nghiên cứu của mình.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và các bạn
sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình nghiên
cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu…………………………………….3
5. Phƣơng pháp nghiên cứu……………………………………………...4
6. Ý nghĩa khóa luận…………………………………………………….4
7. Kết cấu khóa luận…………………………………………………….4
NỘI DUNG………………………………………………………………….5
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG………………………………………….5
1.1 Nho giáo…………………………………………………………………5
1.2 Gia đình………………………………………………………………..18
CHƢƠNG 2: ẢNH HƢỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY…………………………………….25
2.1 Tình hình kinh tế chính trị ở Việt Nam hiện nay…………………….25
2.2 Ảnh hƣởng của Nho giáo đến gia đình Việt Nam hiện nay…………..30
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG
ẢNH HƢỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƢỞNG TIÊU
CỰC CỦA NHO GIÁO TRONG GIA ĐÌNH
VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………………46
3.1 Phát huy ảnh hƣởng tích cực và hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực
của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay…………………..47
3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hƣởng tích cực và hạn chế
ảnh hƣởng tiêu cực của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay…….57
KẾT LUẬN………………………………………………………………64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………65
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm
nghiên cứu, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi phải có sự đi sâu
tìm hiểu và khám phá.
Ở Việt Nam trong mấy thập kỷ nay, không kể các bài in trên tập chí, chỉ
nói riêng các công trình nghiên cứu về Nho giáo thì đã có một số lƣợng đáng kể
nhƣ:
- Tác giả Trần Trọng Kim, với tác phẩm “Nho giáo” (2 tập), xuất bản
năm 1930 đƣợc tái bản nhiều lần, gần đây nhất là năm 1992. Đây là bộ sách lớn
giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ Khổng Tử cho đến đời Thanh,
trong đó có một số trang phụ lục, tóm tắt về sự du nhập và phát triển đạo Nho ở
Việt Nam; là tác phẩm tiếng Việt đầu tiên trình bày về sự phát triển của đạo
Nho một cách có hệ thống.
- Tác giả Phan Bội Châu, với tác phẩm “Khổng học đăng”, xuất bản năm
1957 và đƣợc tái bản năm 1998, bàn luận và diễn giải về một số tác phẩm tiêu
biểu của nhà Nho cũng nhƣ sự nghiệp của họ thuộc các thời ở Trung Quốc.
- Giáo sƣ Vũ Khiêu chủ biên cùng một số tác giả, với tác phẩm “Nho
giáo xưa và nay”, xuất bản năm 1990 gồm một số bài viết của một số tác giả
đề cập tới nhiều vấn đề của Nho giáo từ phƣơng hƣớng, phƣơng pháp tiếp cận,
đến quan hệ của Nho giáo với kinh tế, lịch sử, văn hóa.
- Nhà nghiên cứu Quang Đạm, với tác phẩm “Nho giáo xưa và nay”,
xuất bản năm 1994, phân tích sâu sắc những nội dung cơ bản của Nho giáo và
ảnh hƣởng của nó đối với Việt Nam.
- Cố giáo sƣ Trần Đình Hƣợu, với tác phẩm “Đến hiện đại từ truyền
thống”, xuất bản năm 1994, gồm những bài viết về tam giáo đặc biệt là ảnh
hƣởng của Nho giáo đến truyền thống văn hóa Việt Nam.
- PGS.TS Nguyễn Tài Thƣ, với tác phẩm “Nho học và Nho học ở Việt
Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, xuất bản năm 1997, dƣới góc độ
6
Nghiên cứu ảnh hƣởng của Nho giáo trong gia đình Việt Nam hiện nay
trên một số mặt: các mối quan hệ trong gia đình, ảnh hƣởng về đạo đức, giáo
dục trong gia đình, từ năm 1945 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ trên, khóa luận đã dựa vào một
số cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
đó là phƣơng pháp: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, hệ thống hóa - khái
quát hóa, phƣơng pháp quy nạp, phƣơng pháp diễn dịch.
6. Ý nghĩa của khóa luận
- Khóa luận làm rõ hơn cơ sở và lý luận thực tiễn của đề tài: “Nho giáo
và ảnh hƣởng của nó đến gia đình Việt Nam hiện nay”.
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên trong
việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề ảnh hƣởng của Nho giáo trong gia đình Việt
Nam hiện nay.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung khóa
luận gồm 3 chƣơng, 6 tiết.
8
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Nho giáo
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo
* Tác giả, tác phẩm
Nói đến Nho giáo thì việc đầu tiên không thể không nhắc tới đó là Khổng
Tử. Ngƣời ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời.
Trƣớc đây hơn 2000 năm, đại sử học Tƣ Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ quê
loạn lạc này đã xuất hiện những nhà tƣ tƣởng vĩ đại, hình thành nên những hệ
thống triết học khá hoàn chỉnh, đƣợc tồn tại và phát triển theo suốt bề dày lịch
sử phát triển của đất nƣớc Trung Hoa.
Tuy nhiên, nền triết học Trung Hoa không chỉ quan tâm giải quyết những
vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức mà nó còn đặt ra và giải quyết những vấn đề
của triết học nhƣ vấn đề bản nguyên thế giới, vấn đề cơ bản của triết học, vấn
đề con ngƣời; đặc biệt là vấn đề tính ngƣời, vấn đề sự biến dịch của vạn vật và
một số vần đề thuộc lý luận nhận thức. Đó chính là triết học Nho giáo nổi tiếng
thời bấy giờ và cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Cơ sở của Nho giáo đƣợc hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội
loạn lạc, Khổng Tử (551 – 479 trƣớc Công Nguyên) phát triển tƣ tƣởng của
Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tƣ tƣởng đó. Chính vì thế mà
ngƣời đời sau coi ông là ngƣời sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống nhƣ nhiều nhà tƣ tƣởng khác trên thế giới nhƣ Thích Ca
Mầu Ni, Giê xu…ngƣời đời sau không thể nắm bắt các tƣ tƣởng của Khổng Tử
một cách trực tiếp mà chỉ đƣợc biết các tƣ tƣởng của ông bằng các ghi chép do
các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ “đốt sách, chôn Nho” của
nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc tìm hiểu tƣ tƣởng
gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu đời sau vẫn
cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tƣ tƣởng và cuộc đời của ông.
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục
Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thƣ, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và
10
Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh thƣờng
đƣợc gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp lại các
lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là cháu
nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tƣ viết ra cuốn Trung Dung.
Kinh Dịch: Nói về các tƣ tƣởng triết học của ngƣời Trung Hoa cổ đại dựa
trên các khái niệm âm dƣơng, bát quái…Đời Chu, Chu Văn Vƣơng đặt tên và
giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết
từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch.
Khổng Tử giảng giải rộng thêm Hoán Từ và Hào Từ cho dễ hiểu hơn và gọi là
Thoán truyện và Hào truyện.
Kinh Xuân Thu: Ghi lại các biến cố xảy ra ở nƣớc Lỗ, quê của Khổng Tử.
Khổng Tử không chỉ ghi chép nhƣ một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nƣớc
nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để
giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói “Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu,
thiên hạ trách ta cũng sẽ ở Kinh Xuân thu này”. Đây là cuốn kinh Khổng Tử
tâm đắc nhất. (Xuân Thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc
xảy ra).
Kinh Nhạc: Do Khổng Tử hiệu đính nhƣng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại
một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Nhƣ vậy Lục Kinh
chỉ còn lại Ngũ Kinh.
- Tứ Thƣ
Luận Ngữ: Ghi lại lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi chép lại
sau khi ông mất. (Luận Ngữ = các lời bình luận).
Đại học: Dạy phép làm ngƣời để trở thành bậc quân tử. Sách này do
Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử, dựa trên
lời dạy của ông soạn ra. (Đại học = sự học lớn).
Trung Dung: Dạy ngƣời ta cách sống dung hòa, không thiên lệch. Sách
này do ngƣời cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử, còn
gọi là Tử Tƣ soạn ra. (Trung = ý muốn nói cái Tâm không lệch bên này hay bên
kia, Dung = có nghĩa dung dƣỡng, giữ mãi ở mức nhƣ vậy).
12
Mạnh Tử: Ghi lại lời dạy của Mạnh Tử. Mạnh Tử tên thật là Mạnh Kha,
Đông khác. Nho giáo vào Việt Nam vào khoảng trƣớc sau Công nguyên. Nhƣ
vậy Nho học đƣợc truyền vào Việt Nam là tƣơng đối sớm.
Hoàn cảnh du nhập của Nho học ở Việt Nam có khác với nƣớc khác. Nếu
nhƣ ở Nhật Bản sự du nhập là gián tiếp từ Triều Tiên sang và sau đó là trực
tiếp: Các lƣu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc học Nho học và truyền bá,
lúc đầu mang tính áp đặt. Ngƣời Hán xâm lƣợc Việt Nam, đƣa Nho học vào để
tăng cƣờng sự thống trị. Vì vậy thái độ đầu tiên của ngƣời Việt là phản ứng
chống lại. Thái độ trên có sự chuyển biến là mãi về sau, khi nền kinh tế xã hội
Việt Nam có nét giống với nền kinh tế xã hội phong kiến Trung Quốc, khi
ngƣời Việt Nam có sự quen thuộc ít nhiều với Nho học.
Thái độ đối với Nho học của ngƣời Việt Nam là khi ngƣời Việt Nam
giành đƣợc độc lập dân tộc từ tay ngƣời Hán ở thế kỷ X, ngƣời ta thấy ở học
thuyết này là một lý luận và một nghệ thuật của đạo trị nƣớc, cần thiết phải nắm
lấy để xây dựng đất nƣớc mình. Các triều đại phong kiến Việt Nam tự mình
thấy cần phải du nhập và phát triển Nho học. Các vua của triều Lý ở Việt Nam
ở thế kỷ XI đã xây dựng Văn Miếu để tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền nhà Nho,
đã mở trƣờng Quốc Tử Dám cho con hoàng tộc và con cái các nhà quyền quý
vào học Nho học, đã tổ chức ra các kỳ thi Nho học để chọn ra các nhân tài kiểu
nhà Nho.
Khi nói đến vấn đề du nhập Nho học vào Việt Nam, nhiều ngƣời chỉ thấy
hoạt động đó ở giai đoạn đầu Bắc thuộc. Thực ra sự du nhập đó diễn ra nhiều
lần và ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Ngoài sự diễn ra ở đầu Công
nguyên, Nho học còn đƣợc tiếp tục truyền vào Việt Nam ở các giai đoạn sau.
Có thể nói, thời nào cũng có hiện tƣợng du nhập, giai đoạn nào của Nho học
Trung Quốc cũng muốn truyền sang Việt Nam. Thời Bắc thuộc là Hán Nho,
thời Đinh, Lê, Lý, Trần là Đƣờng Nho, thời Lê sơ là Tống Nho, thời Lê Mạc là
Nguyễn và Thanh Nho. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia gần nhau, việc
giao lƣu không gì cản trở, hơn nữa tƣ tƣởng và học thuật thì không có biên giới
ngăn cách.
14
học nào. Trong các giai đoạn phát triển của Nho học Trung Quốc, thời kỳ nào
15
cũng có các nhà duy vật và duy tâm khác nhau, đối lập nhau trên vấn đề cơ bản
của Triết học. Thời trƣớc Tần bên cạnh Mạnh Tử là nhà duy tâm có Tuân Tử là
nhà duy vật, thời Tống bên cạnh Nhị Trình, Chu Hy là nhà duy tâm thì có các
nhà duy vật, bên cạnh đó có các nhà duy vật là Trƣơng Tải, Vƣơng Đình
Tƣớng. Ở Việt Nam hiện tƣợng đó không rõ, thƣờng chỉ là tiếp thu tƣ tƣởng
của các nhà Nho duy tâm có vai trò rất lớn trong lịch sử Nho học Việt Nam.
Nho học là từ Trung Quốc truyền vào Việt Nam, vì vậy có ngƣời cho
rằng Nho học không phải là của ngƣời Việt Nam, Nho học là cái “ngoại sinh”.
Nho học không thể đƣợc đối xử nhƣ các học thuyết vốn có của Việt Nam,
những cái đƣợc gọi là “nội sinh”. Thực ra, Nho học đƣợc truyền vào Việt Nam
đã trải qua một quá trình, đã có sự chuyển hóa từ “ngoại sinh” trở thành “nội
sinh”, từ cái của ngƣời trở thành cái của mình.
* Quá trình phát triển của Nho giáo
Nét đặc sắc của Nho học Việt Nam không chỉ thể hiện trong quá trình du
nhập mà còn thể hiện trong quá trình phát triển. Điều này có thể thấy đƣợc khi
đặt Nho học Việt Nam bên cạnh các nền Nho học khác, khi quan sát đối tƣợng
mà nó chú ý, chiều hƣớng mà nó vận động, bộ phận mà nó hợp thành.
Trong quá trình phát triển, Nho học Việt Nam chú trọng đến những vấn
đề thực dụng hơn là những vấn đề lý thuyết. Các vấn đề có mối quan hệ giữa
“hữu” và “vô”, giữa “tâm” và “vật”, giữa “lý” và “khí” là những vấn đề gắn với
Nho học Trung Quốc trong các thời kỳ và luôn có sự giải thích khác nhau,
nhƣng không đƣợc Nho học Việt Nam nhiệt tâm bàn bạc, không đƣợc xem xét
để giải quyết cái nào có trƣớc cái nào có sau. Trong các mối quan hệ giữa “lý”
và “khí” thì mãi đến thế kỷ XVIII mới đƣợc Lê Quý Đôn để tâm sƣu tầm và
biên chép vào mục “lý khí” trong “Vân Đài Loài Ngữ”, còn bàn bạc về nó thì
mãi đến Phan Bội Châu ở đầu thế kỷ XX mới đƣợc phát triển rõ ràng. Ở đây
tƣợng phê phán trên cũng theo đó mà mất đi. Một điều đáng chú ý là Nho học ở
Việt Nam không xuất hiện các trƣờng phái, không làm nảy sinh các nhà học
thuật lớn, không có những tác phẩm đồ sộ về lý thuyết. Tác phẩm mang tính
học thuật của các nhà Nho học Việt Nam thƣờng chỉ thể hiện dƣới dạng tóm tắt,
đơn giản, dạng ƣớc lƣợng, tất yếu nhƣ “Tứ thƣ tuyết ƣớc của Chu Văn An”,
17
“Dịch Kinh phi thuyết” của Lê Quý Đôn. Các tác phẩm này là cần thiết có thể
giúp ngƣời đọc nhanh chóng nắm đƣợc nội dung cơ bản của học thuyết. Nhƣng
chỉ dừng lại ở đấy mà không có tác phẩm đi sâu hơn, thể hiện quan điểm của
mình rõ rệt hơn thì đó là một hạn chế của tƣ duy. Thực tế đã sảy ra nhƣ vậy,
ngƣời Việt Nam vốn thông minh có khả năng khám phá các đối tƣợng hữu hình
và vô hình, quá khứ và hiện tại đều chứng tỏ nhƣ vậy.
Trên cơ sở tìm hiểu quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam chúng
ta có thể rút ra một vài nhận xét sau:
Một là, du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, song phải trải qua,
một thời gian dài Nho giáo mới bén rễ đƣợc vào đời sống chính trị và tinh thần
của xã hội.
Hai là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam không còn là Nho giáo nguyên
thủy mà là Hán Nho và Tống Nho. Song cũng đã đƣợc cải biên cho phù hợp với
truyền thống của dân tộc và nhu cầu của đất nƣớc để trở thành nhân tố của
chính nền văn hóa và hệ tƣ tƣởng thống trị ở Việt Nam.
Ba là, Nho giáo du nhập vào Việt Nam trong sự phát triển đồng hành, tác
động qua lại với Phật giáo và Đạo giáo.
Tóm lại, khảo sát tình hình, quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam,
chúng ta thấy rằng nếu tính từ thời Bắc thuộc thì Nho giáo đã có mặt trên đất
nƣớc ta trên hai ngàn năm, trong đó năm trăm năm đƣợc coi là hệ tƣ tƣởng
thống trị trong kiến trúc thƣợng tầng của xã hội phong kiến. Vì lẽ đó, Nho giáo
đã có đủ thời gian và điều kiện để thấm sâu bén rễ và ảnh hƣởng sâu sắc đời
trong xã hội giữ đƣợc Tam cƣơng Ngũ thƣờng, Tam Tòng Tứ Đức thì xã hội
đƣợc an bình.
a. Tam cương
Tam là ba, cƣơng là giềng mối. Tam cƣơng là ba mối quan hệ quân thần
(vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
- Quân thần: Trong quan hệ vua tôi vua thƣởng phạt công minh, tôi
trung thành một dạ.
- Phụ tử: Cha hiền, con hiếu. Cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái,
con phải hiếu đễ và nuôi dƣỡng cha khi cha về già.
19
- Phu phụ: Chồng phải yêu thƣơng và đối xử công bằng với vợ, vợ
chung thủy tuyệt đối với chồng.
b. Ngũ thường
Ngũ là năm, thƣờng là hằng có Ngũ thƣờng là năm điều phải hằng có
trong khi ở đời gồm “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”
- Nhân: Lòng yêu thƣơng đối với muôn loài vạn vật.
- Nghĩa: Cƣ xử với mọi ngƣời công bình theo lẽ phải.
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cƣ xử với mọi ngƣời.
- Trí: Sự thông biết lý lẽ phân biệt thiện ác, đúng sai.
- Tín: Giữ đúng lời đáng tin cậy.
c. Tam tòng
Tam là ba, tòng là theo. Tam tòng là ba điều ngƣời phụ nữ phải theo gồm
“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.
- Tại gia tòng phụ: ngƣời phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
- Xuất giá tòng phu: Lúc lấy chồng phải theo chồng.
- Phụ tử tòng tử: Nếu chồng qua đời phải theo con.
d. Tứ đức
Tứ là bốn, đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt ngƣời phụ nữ phải
lớn trị quốc và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ).
Kim chỉ nam cho mọi hành động của ngƣời quân tử trong việc cai trị là hai
phƣơng châm:
- Nhân trị: Nhân là tình ngƣời, nhân trị là cai trị bằng tình ngƣời, là
yêu thƣơng và coi ngƣời nhƣ bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là
“Nhân” thì Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ƣ nhân” nghĩa là điều gì mình
không muốn thì đừng làm cho ngƣời khác. (sách Luận Ngữ).
- Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải đƣợc gọi đứng tên
của nó, mỗi ngƣời phải làm đúng chức phận của mình. “Danh không chính thì
lời không thuận, lời không thuận tất yếu việc không thành”. (sách Luận Ngữ).
Khổng Tử nói với vua Tề Cảnh Công: “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”
nghĩa là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. (sách Luận Ngữ).
21
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho
giáo, chúng đƣợc tóm gọn lại trong chín chữ: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ”. Và đến lƣợt mình, chín chữ đó chỉ nhằm mục đích cai trị mà thôi.
Quân tử ban đầu có nghĩa là ngƣời cai trị, ngƣời có đạo đức và biết thi,
thƣ, lễ nhạc. Tuy nhiên sau này từ đó có thể chỉ những ngƣời có đạo đức mà
không cần phải có quyền. Ngƣợc lại, những ngƣời có quyền mà không có đạo
đức thì đƣợc gọi là tiểu nhân (nhƣ dân thƣờng).
1.2 Gia đình
1.2.1 Vấn đề chung về gia đình
* Khái niệm gia đình
Khái niệm gia đình đã đƣợc nhiều nhà tƣ tƣởng, nhà hoạt động thực tiễn
nghiên cứu, quan tâm nhƣ: Trong tác phẩm kinh điển “Hệ tƣ tƣởng Đức”
(1845) Các Mác và Ăngghen cho rằng: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản
thân mình, con ngƣời còn tạo ra những ngƣời khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan
động. Vì vẫn có những ngƣời không cƣới nhƣng ở với nhau, vẫn có con nhƣ
ngƣời phụ nữ, đàn ông góa ở nuôi con.
Gia đình hôn phối (gia đình hạt nhân) gồm: bố, mẹ, con cái sống chung
một nhà. Là hình thức chiếm số đông hiện nay ở nƣớc ta. Gia đình hôn phối
đƣợc lập nên bằng hôn nhân và đƣợc giải tán cùng với sự giải thể của hôn nhân
(ly hôn).
Theo giáo sƣ Lê Thi: “Khái niệm gia đình đƣợc sử dụng để chỉ một
nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống
nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó là cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà,
họ hàng). Đồng thời trong gia đình cũng có thể có bao gồm một số ngƣời đƣợc
gia đình nuôi dƣỡng tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên gia đình
gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế - văn hóa - tình cảm),
giữa họ có những điều ràng buộc có tính chất pháp lý đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận
và bảo vệ (đƣợc ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình ở nƣớc ta). Đồng thời,
gia đình cũng có những quy định rõ ràng về quyền đƣợc phép và những cấm
đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên”. [20, tr.268-269]
23
Định nghĩa trên của giáo sƣ Lê Thi là đúng, khoa học, là hợp với truyền
thống đạo lý của ngƣời Việt Nam. Nhƣng chƣa thực sự đầy đủ vì chƣa giải
thích đƣợc sự xuất hiện loại gia đình cũ tồn tại ở Việt Nam, gia đình không có
trách nhiệm pháp lý.
Theo Từ điển văn hóa gia đình của nhóm tác giả Phạm Thị Dung,
Nguyễn Thu Hà, Phạm Minh Thảo, Từ Thu Hằng, Phạm Thị Hảo biên soạn
khái niệm gia đình đƣợc định nghĩa: “Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở
sự kết hợp của những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân để thực hiện
đƣợc các thực hiện đƣợc các chức năng sinh học (sinh đẻ, kinh tế, văn hóa, xã
hội). Khi gia đình đã có con các thành viên đƣợc liên kết với nhau vừa bằng
nền văn hóa mà có thể thống nhất cơ bản là: Gia đình là một cộng đồng ngƣời
trên cơ sở hai mối quan hệ cơ bản hôn nhân, huyết thống đƣợc xã hội thừa
nhận.
* Đặc trƣng của gia đình
Theo nhà tâm lý học Ngô Công Hoàn, gia đình có 6 đặc trƣng cơ bản:
- Là một nhóm xã hội phải có từ hai ngƣời trở lên.
- Trong gia đình phải có giới tính (nam, nữ).
- Quan hệ trong gia đình phải phải là quan hệ ruột thịt huyết thống nghĩa
là có quan hệ tái sản xuất con ngƣời.
- Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm
sinh lý.
- Gia đình phải có ngân sách chung.
- Gia đình phải sống chung một nhà.
* Vị trí, vai trò của gia đình
- Gia đình là tế bào của xã hội.
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội quyết định quy mô, kết cấu, hình
thức tổ chức và tính chất gia đình.
- Gia đình là một thiết chế cơ sở, đặc thù của xã hội là cầu nối giữa các
cá nhân với xã hội.
25