LUẬN VĂN: Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo Phật hiện nay doc - Pdf 15



1 LUẬN VĂN:

Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể
hiện của nó ở một số tín đồ đạo Phật
hiện nay

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhân sinh quan Phật giáo (nguyên thủy) là một đề tài đã được nhiều nhà
khoa học, Phật tử nghiên cứu, đặc biệt trong thời gian gần đây, cụ thể là:
- Năm 1984, Tiến sĩ Peter D. Santina viết cuốn sách "Fundamentals of
Buddhism" (Nền tảng của đạo Phật). Cuốn sách được Thích Tâm Quang dịch
sang tiếng Việt năm 1996. Trong cuốn sách này, tác giả trình bày 12 bài giảng về
lịch sử ra đời của đạo Phật và những phần giáo lý căn bản nhất của đạo Phật như:
tứ diệu đế, lý nhân duyên, nghiệp, ngũ uẩn, Tác giả xuất phát từ quan niệm của
một Phật tử ở phương Tây, có hiểu biết sâu sắc phần giáo lý nên khi trình bày,
tác giả cố gắng làm rõ từng nội dung trong quan niệm nhân sinh của đạo Phật
nguyên thủy.
- Năm 1984, ủy ban khoa học xã hội Việt Nam - Viện triết học xuất bản
cuốn "Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam" tập hợp 25 bài
tham luận của các nhà nghiên cứu có tên tuổi của giới khoa học nước ta như các
giáo sư Trần Văn Giầu, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Đức Sự, Trần Bạch Đằng, Hà
Văn Tấn, Phan Đại Doãn, Trần Đình Hượu, trong cuộc hội thảo về "Mối quan
hệ giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam". Trong tập bài tham luận này,
các tác giả đã phân tích và làm sáng tỏ mối quan hệ tác động qua lại giữa Phật
giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, tính chất của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
và đề cập đến một số tông phái Phật giáo ở Việt Nam, ảnh hưởng của Phật giáo
tới chủ nghĩa yêu nước, tới văn hóa Việt Nam,
- Năm 1988, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản cuốn "Lịch sử Phật
giáo Việt Nam" của Viện Triết học do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên. Cuốn sách
đề cập đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vào Việt Nam từ đầu
Công nguyên cho đến nửa đầu thế kỷ XX. 4
- Năm 1994, tác giả Thích Tâm Thiện viết cuốn "Tìm hiểu nhân sinh
quan Phật giáo" do Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Đây

+ Phân tích những biểu hiện của quan niệm nhân sinh Phật giáo ở tín đồ
đạo Phật Hà Nội hiện nay qua niềm tin tôn giáo, việc thực hiện lễ nghi và sự thực
hành giới luật của họ. Từ đó rút ra những kết luận về ảnh hưởng của nó đến đời
sống xã hội nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin về triết học và lịch sử triết học, kết hợp với phương pháp luận
nghiên cứu triết học phương Đông.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp các phương pháp: phân tích
với tổng hợp, lôgic với lịch sử,, quan sát, phỏng vấn,
5. Cái mới của luận văn
Luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm nhân sinh Phật
giáo (nguyên thủy), chỉ ra những giá trị tích cực cùng những hạn chế của nó; đi 6
sâu nghiên cứu những biểu hiện của quan niệm nhân sinh đạo Phật ở các tín đồ
đạo Phật ở Hà Nội trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay.
6. ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy và tìm hiểu lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 6 tiết. 7
B. Phần nội dung
Chương 1
Quan niệm của Phật giáo (nguyên thủy)

- Về văn hóa - tư tưởng: ấn Độ cổ đại là một đất nước có một nền triết
học phong phú hết sức bề thế xuất hiện từ rất sớm. Ngay từ thế kỷ XV trước công
nguyên đã xuất hiện bộ kinh điển Rg Vêđa. Đó là những bài ca tán có tính chất
thần thoại nhưng đã bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan. Tiếp
theo trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên là thời đại Brahman. Đến
thời kỳ 800-600 năm trước công nguyên là triết học Upanishad. Upanishad là
một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Vêđa. Xu hướng chính của
Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết duy tâm tôn giáo, vốn có trong kinh
Vêđa về cái gọi là "tinh thần sáng tạo tối cao" sáng tạo ra thế giới này. Upanshad
cho rằng thế giới vô ngã Brahman hay "tinh thần vũ trụ tối cao" là thực thể duy
nhất, tồn tại vĩnh viễn, là cái từ đó nảy sinh ra và chi phối mọi cái tồn tại. Atman
(tiểu ngã) chỉ là một phần hiện thân của Brahman (đại ngã); linh hồn sống của
con người chỉ là sự biểu hiện của "tinh thần tối cao" trong cơ thể con người. Vì
vậy, linh hồn cá biệt về bản chất là đồng nhất với "linh hồn tối cao" cũng tồn tại
vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt. Trong Upanishad cũng đặt vấn đề là chính do
những ham muốn, dục vọng và những hành động của con người nhằm thoả mãn
những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây những hậu quả, gieo đau khổ
cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là nghiệp báo Karma. Do vậy linh hồn 9
bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra và trở về đồng nhất với chân bản của nó
được. Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi sự chi phối của đời sống nhục dục,
của thế giới hiện tượng cảm tính như ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất
với "tinh thần vũ trụ tối cao", con người phải tu luyện hành động karma- yoga và
tu luyện tri thức jâna- yoga, nhận ra chân bản của mình.
Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên của thế
giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ sở cho
những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ sở lý luận
cho đạo Bàlamôn ở ấn Độ cổ đại. Kinh Upanishad đã đề cập đến những vấn đề có

trước Công nguyên).
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết
thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là "Tam tạng "
(Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1. Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi những lời Phật dạy
về đạo Phật. 2. Tạng Luật (Vinaya pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật. 3.
Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình
chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau này.
Nơi sinh ra Phật giáo là ấn Độ và Phật giáo là sản phẩm trực tiếp của xã
hội ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt. Cho nên ngay từ đầu,
Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp ở ấn Độ, những
người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt.
Chính vì vậy, Phật giáo đã quan tâm đến vấn đề nhân sinh: quan niệm về con
người và cuộc đời con người, vấn đề sướng, khổ, vấn đề giải thoát
1.2. Quan niệm về con người
Đạo Phật ra đời khi mà xã hội ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn minh
phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế. Vì vậy, để cho 11
triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần của đạo Bàlamôn,
Đức Phật đã xây dựng thuyết nhân duyên sinh làm nền tảng cho học thuyết của
mình
Kinh Phật nói rằng: "Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh".
Với thuyết nhân duyên sinh, Phật muốn nói lên một định lý: mọi sự vật,
vạn pháp trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành; sự vật, vạn pháp
sẽ biến diệt khi nhân duyên tan rã.
Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành, biến
đổi. Không có gì là không có nguyên nhân. Duyên là những quan hệ, những điều
kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởi hiện hành. Tất cả
các hiện tượng đều nương nhau mà thành lập - Nói nương nhau có nghĩa là sự vật

Kể từ đây: - Số thứ nhất là số thứ tự của tài liệu tham
khảo.
- Số thứ hai trở đi là số trang tài liệu tham khảo. 13
Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:
"Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân duyên
cố diệt".
Nghĩa là:
Hết thảy mọi pháp,
Đều không có tự tính,
Vì nhân duyên mà sinh,
Vì nhân duyên mà diệt.
ở một chương khác Phật lại nói:
Tòng duyên sinh cố,
Danh chi vi hữu,
Vô tự tính cố,
Danh chi vi vô [3, 96]
Có nghĩa là: 14
Tùy theo duyên mà hiện ra hình như có sinh, cho nên gọi là "có"; bởi
không có tự tính, cho nên gọi là "không". Sự vật chỉ "có" một cách giả tạo, một
cách vô thường, nhân duyên hội họp thì sự vật là "có", nhân duyên tan rã thì sự
vật là "không".
Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân và
trùng trùng duyên khởi. Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hòa hợp
chúng hiện hữu một cách giả hợp. Bởi thế tìm kiếm đến cùng không thấy vạn

Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng, ngấm ngầm thường ta không nhận thức
kịp mà kết quả là dẫn đến sự chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ
chuyển sang một trạng thái mới. Do vậy, vạn vật vô tình trong vũ trụ đều tuân
theo qui luật: Thành - trụ - hoại - không. Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian,
biến chuyển đi đến diệt, hoại thành không.
Các sinh vật đều tuân theo qui luật: Sinh - trụ - dị - diệt.
Chung quanh ta, sự vật biến chuyển không ngừng. Theo luật vô thường
thì không phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt,
mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đã từng liên tiếp xảy ra.
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã là
không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu. Theo nguyên lý duyên sinh, các sự vật đều
là các pháp duyên sinh. Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướng đều do những
bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thể chia chẻ ra được. Tất
cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đối với cảnh, cảnh đối với thân,
lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối với không. Tất cả sự
vật đều do đối đãi với nhau mà thành nên đều vô ngã, đều không có tự tính: Thân
vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã. 16
Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề về nhân
sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào? Cuộc đời
con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?
Khi trả lời cho câu hỏi "Con người do đâu mà sinh ra?" Phật xác định
con người là một chỉnh thể vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, là kết quả của sự kết hợp
giữa danh và sắc. Nghĩa là con người có đầy đủ cả hai phần sinh lý và tâm lý:
Cái ta sinh lý tức là thân (gọi là sắc uẩn).
Cái ta tâm lý tức là tâm (bao gồm thọ, tưởng, hành, thức).
Theo Kinh "Trung A Hàm", con người sinh lý chỉ là sự kết hợp của bốn
yếu tố vật chất, bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong. Các chất cứng, đặc, lỏng, chất

xác con người) gọi là "sắc" và có "tâm" (ý thức) thì con người sống, hoạt động
(tồn tại). Theo kinh "Đại Trương Duyên" nếu không có thức thì thân ngũ uẩn
không thể hình thành. Mặt khác khi nhân duyên tan rã thì con người cũng không
còn (chết đi). Sự tồn tại hữu hình của con người có ý thức chỉ là tạm thời (sắc sắc
- không không) trong vòng luân chuyển liên tục của vô số nhân và trùng trùng
duyên khởi.
Với cách lập luận trên, đạo Phật đã chứng minh con người sinh ra là do
nhân và duyên, không có một đấng tối thượng siêu nhiên nào tạo ra con người,
cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra. Con người sinh ra là do nhân
duyên, nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, nhân duyên tan rã thì con người diệt.
Có thể nói yếu tố vô thần của đạo Phật thể hiện ở đây. 18
Khi trả lời câu hỏi: "Con người chết rồi đi đâu?", Đức Phật chỉ rõ: Con
người là một pháp duyên sinh, là sự kết hợp động của ngũ uẩn. Vì vậy khi con
người chết (ngũ uẩn tan rã) thì không còn cả thể xác lẫn linh hồn. Phật đã phủ
nhận tư tưởng kinh Upanishad cho rằng có một linh hồn bất tử (linh hồn vũ trụ
tối cao) tồn tại vĩnh viễn. Phật cho rằng chỉ có sự kết hợp mới của ngũ uẩn, mà
động lực là nghiệp lực.
Vậy nghiệp lực là gì ?
Theo đạo Phật quan niệm trong suốt một đời người, tất cả những hoạt
động về thân thể, về lời nói, về ý nghĩ đều huân tập nơi thức tâm, gọi là nghiệp
(thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và kết quả của nghiệp ấy gọi là nghiệp báo.
Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp (người), các hành động thiện ác được
thực hiện, Phật gọi là con người gây nghiệp: Nghiệp thiện hay nghiệp ác. Con
người sống một thời gian rồi chết. Khi chết ngũ uẩn tan rã (cả thể xác và linh
hồn), nhưng nghiệp do con người tạo ra thì vẫn còn và tác hợp đưa đến một thể
hợp mới của ngũ uẩn cho kiếp sau. Tùy theo nghiệp thiện hay nghiệp ác mà sự
kết hợp mới đó sẽ theo một trong sáu con đường (lục đạo): trời, người, Atula, địa

niệm khởi lên rồi diệt đi, thế là một đời người hết. Một niệm khác khởi lên, tức là
một đời người khác đời người trước tiếp tục. Sự sống và chết tiếp diễn liên tục
nối tiếp nhau bất tận như trên một cái vòng tròn theo quy luật luân hồi. Hiểu theo
Phật, chết không phải là hết, chết là điều kiện cho một cái sinh sắp tới. Khi chết
ngũ uẩn tan rã phân tán, nhưng nghiệp của con người vẫn tiếp tục chi phối, khi
gặp một điều kiện nhân duyên thuận lợi con người lại được tái tạo thành một sinh
linh mới. 20
Từ quan điểm Vô thường về con người, đạo Phật đi đến phủ nhận sự tồn
tại của cái Ngã (cái tôi, cái Ta của con người). Con người là kết quả của sự kết
hợp giả tạm của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nhưng Phật lại cho rằng tứ
đại: địa, thủy, hỏa, phong vốn là không, và ngũ uẩn cũng chẳng có. Ngũ uẩn tụ
hợp sẽ sinh ra con người, ngũ uẩn ly tán thì con người sẽ chết cho nên cái Ta chỉ
là một giả tướng, một nhất hợp tướng mà thôi chứ không có cái Ta thực tướng,
cái Ta bất biến, cái Ta trường tồn. Sắc thân con người do cha mẹ sinh ra, do tứ
đại, ngũ uẩn hợp thành, là cái thân hiện hữu trong thế giới nhưng chỉ là ảo ảnh.
Phật nói:
"Sắc đã được cái vô ngã (tứ đại) làm cho sinh khởi; từ đâu là ngã được? Sắc đã
được cái vô thường làm cho sinh khởi; từ đâu mà thường được?" [28, 159].
Quan điểm Vô ngã của đạo Phật đã phủ nhận sự tồn tại đích thực của
chính bản thân con người. Như vậy, theo Đức Phật, cái Ta là giả tạm, là không
thường còn. Nhưng tại sao con người lại có cảm giác về sự bất biến, trường trụ
của thân ta ? Sở dĩ ta có cảm giác đó là do các giả tướng diễn ra liên tục, nối tiếp
nhau với tốc độ rất nhanh đến nỗi ta không nhận thức kịp và tưởng là bất biến. Vì
chấp cái "Ta" thường còn, bất biến, cho nên đến phút cuối cùng của đời người,
con ngưòi vẫn còn tham vọng, cố bám lấy cái Ta, cái giả tưởng đó, có nhiều dục
vọng, vị kỷ. Vì vậy con người không thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, làm cho
sinh sinh tử tử không bao giờ ngừng. Chấp ngã, chấp có cái Ta thường còn là
22
"Nước mắt của chúng sinh trong 3000 thế giới còn nhiều hơn nước bể ở
bốn đại dương".
Phật nêu về những nỗi khổ mà con người phải chịu đựng trong cuộc đời
của mình:
"Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não là
khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm
thủ uẩn là khổ".
Trong kinh Phật nói về khổ nạn có thể chia theo hai tiêu chí: về mặt thể
chất và về mặt tinh thần. Sự khổ nạn về thể chất là khổ nạn do sinh nở, tuổi già,
bệnh tật và chết.
1. Sinh khổ: đã có sinh là có khổ, vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô
thường chi phối, nên có khổ. Khi sinh ra, có một cơ thể sinh lý có hình, có tướng
nên phải chịu đựng và chống lại nóng lạnh, tìm cách duy trì cái thân tứ đại, phải
đối phó với mọi tai nạn do thiên nhiên hay do con người gây ra, nên suốt đời
phiền não, đau khổ.
2. Lão khổ: Con người mong muốn trẻ và khỏe mãi nhưng cái già cứ đến.
Cái già tiến đến đâu thì sự suy yếu đến đấy làm người ta phiền não.
3. Bệnh khổ: Khi bị bệnh hành hạ, con người bị đau khổ.
4. Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết. Mọi người đều phải chết, dù sớm
hay muộn. Người sắp chết mà biết mình sắp chết thì tâm lý cũng đầy dao động,
bi thương tương tự. ở đây, ta thấy rõ, chết thì không mấy đau khổ, nhưng ám ảnh 23
của cái chết gây nên nhiều khổ đau hơn. Con người càng muốn sống, ham sống
thì lại càng sợ chết. Chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào, vì bất cứ lý do nào, do đó
mà ma lực ám ảnh của nó lại càng lớn hơn, kéo dài suốt cuộc sống. Đó là khổ đau

Qua sự phân tích trên, ta thấy quan niệm cơ bản nhất của đạo Phật về
cuộc đời con người đó là sự đau khổ. Đức Phật phân tích những nỗi đau khổ đó
dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng mới thể hiện được cái khổ đau về mặt tâm
sinh lý của con người chứ chưa phân tích được sự khổ đau của con người bắt
nguồn từ những nguyên nhân trong đời sống xã hội. Chính vì vậy mà phương
pháp thoát khổ, vượt qua khổ trong Phật giáo cũng mang nặng tính chất tâm lý.
Cần thấy nếu thổi phồng, nhấn mạnh một lĩnh vực tâm lý, tinh thần của con
người thì sẽ đem lại một cách nhìn phiến diện về con người và xã hội, không thấy
được nguyên nhân xã hội của đau khổ nên đạo Phật xa lánh các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội. Tuy vậy, hơn tất cả các học thuyết phương Đông khác, Phật
giáo đã đi sâu phân tích mặt phát triển tự nhiên của con người (Sinh - Lão - Bệnh
- Tử) chỉ ra đó là sự phát triển tất yếu của cơ thể sống con người mà nếu ai nhận
thức được thì sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời, thậm chí khi đứng
trước cái chết họ không khiếp sợ, bạc nhược.
Theo quan niệm của đạo Phật, các sự vật, vạn pháp trên thế giới đều bị
chi phối bởi quy luật nhân - quả (theo nguyên lý duyên sinh). Vì vậy, sau khi
nhận ra những nỗi khổ đau mà con người phải chịu đựng trong cuộc đời, Đức 25
Phật đi tìm nguyên nhân gây ra sự khổ đau đó và trình bày trong phần Tập đế
Dukkha Samudaya Arya Satya).
Triết lý Phật giáo cho rằng nguyên nhân của nỗi khổ chính là do lòng ái
dục của con người gây nên. Nhưng ái dục lại bắt nguồn từ sự vô minh, từ cái tâm
vọng động, mê lầm của chính con người. Con người không nhận thức được bản
chất của thế giới này và ngay cả thân xác con người cũng đều do lý nhân duyên
hoà hợp mà biến hiện và thay đổi vô thường. Con người muốn tồn tại mãi nhưng
thực tại cứ biến dịch. Con người muốn trường tồn nhưng thực tại và cuộc đời cứ
luân chuyển trong vòng: Sinh - Lão - Bệnh - Tử, không ngừng nghỉ. Vì thế con
người ta sinh ra vọng tưởng, chấp ngã, vị kỷ, tham dục, chiếm đoạt, gây nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status