Download miễn phí Tiểu luận Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1
3. Kết cấu của đề tài 1
B. NỘI DUNG 2
I. Đặc điểm và thực trạng của nền kinh tế hàng hoá ở nước ta 2
1. Đặc điểm của nền kinh tế nước ta 2
2. Thực trạng của nền kinh tế 3
II. Tính tất yếu khách quan phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam 4
1. Phát triển kinh tế hàng hoá do yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất. Thực chất là việc chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn 5
2. Nền kinh tế hàng hoá ở Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh tế 5
3. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân 6
III. Những giải pháp để phát triển kinh tế ở Việt Nam 7
1. Sự phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài 7
2. Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước 7
3. Huy động vốn trong nhân dân cũng như tranh thủ viện trợ từ nước ngoài, tạo điều kiện phát triển kinh tế 7
4. Đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá sở hữu tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta 8
5. Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 11
6. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường 12
C. KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2013-11-08-tieu_luan_co_cau_kinh_te_nhieu_thanh_phan_trong_th.Xk1RrlKUMG.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-44518/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
chúng ta đã có khoảng 22000 doanh nghiệp tư nhân, gáp 2 lần số doanh nghiệp nhà nước khi bắt đầu đi vào công cuộc đổi mới và gấp 3 lần số doanh nghiệp nhà nước có đến hiện nay. Con số này sẽ còn tiếp tục tăng nữa khi chúng ta đang thục hiện công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ. Khu vực ngoài quốc doanh (bao gồm không nhiều bộ phận của kinh tế hợp tác) chiếm trên 2/3 tổng sản phẩm trong nước.
Từ thập niên 1990, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu đổ vào Việt Nam. Việt Nam trở thành một trong những nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới.Bình quân tăng trưởng 5 năm(1990-1995) là 8,2%/ năm.( Năm 1995 tăng trưởng bình quân toàn thế giới là 3,5%, trong đó cao nhất là vùng Đông Á_ Thái Bình Dương: 8,1%, Mỹ: 3%, Nga: 1,6%... Các nước ASEAN vẫn tiếp tục giữ mức độ tăng trưởng khá: Singapore: 8,9%, Philipin: 5%, Thái Lan: 8,9%...
Cho đến năm 2006, tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta đã là7,8 %,đứng thứ 28 về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đời sống của nhân dân cũng đã được nâng cao và cải thiện đáng kể.Nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục ở bậc tiểu học và giờ đang cố gẳng phổ cập giáo dục ở bậc trung học.
Việt Nam được đánh giá cao về việc thực hiện phúc lợi xã hội, xóa đói giảm cùng kiệt và thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ của Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh ở mức thấp, gây lãng phí tài nguyện
Nền kinh tế vẫn nằm ở nhóm các nước kinh tế đang phát triển. Trong cơ cấu kinh tế, nông ngiệp vẫn chiếm 72,2% (2002), nền kinh tế vẫn chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp Nhad nước hoạt động kém hiệu quả.
Một số thị trường vẫn chưa được thiết lập đầy đủ như: thị trường vốn, thị trường tiền tệ. thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ... Một số thể chế pháp luật và hành chính cần thiết cho nền kinh tế thị trường vẫn chưa được quy định hay đã được quy định nhưng không được thực hiện, gây ra tình trạng tham nhũng, cửa quyền..., làm chỉ số minh bạch của môi trường kinh doanh thấp.
Sau 20 năm đổi mới, đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền không có khả nă người chuyển đổi và nhiều quốc gia, nhiều tổ chức vẫn không công nhận Việt nam có nền kinh tế thị trường.
II. Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam.
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, thời kỳ xuất hiện nhiều hình thức kinh tế quá độ đan xen. Chủ trương này ra đời từ quá trình đổi mới, từ quá trình xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, từ bối cảnh khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng chúng tui chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Trên cơ sở mô hình tổng quát của nền kinh tế thị trường, đường lối kinh tế của nước chúng tui được xác định trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI là : đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước chúng tui trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh , có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
1. Phát triển kinh tế hàng hóa do yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất. Thực chất là việc chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
Mỗi thành phần kinh tế bao giờ cũng thích ứng với một tính chất trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung quan trọng và có vai trò quyết định tới quan hệ sản xuất cũng như các thành phần kinh tế khác.
Ở nước ta hiện nay do tính đa dạng về ytinhf độ của lực lượng sản xuất nên về hình thức, quan hệ sản xuất và thành phần kinh tế được đa dạng hóa là tất yếu.
Vì vậy khi xác định các thành phần kinh tế cần xem xét đến tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, và tất nhiên phải xem xét trong trạng thái động.
Một trong những tư tưởng xuyên suốt do hội nghị lần 4 Ban chấp hành TƯ Đảng khóa VIII nhằm cụ thể hóa và thực hiện thành công những mục tiêu kinh tế xã hội mà Đại hội VIII của Đảng đề ra là ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp định hướng XHCN. Xét về quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất luôn là yếu tố động nhất, quyết định đối với sự phát triển của sản xuất xã hội.
Chính vì vậy để đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn.
2. Nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Đại hội Đảng VIII khẳng định: "Các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tương ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Trong giai đoạn lịch sử hiện nay đó là : kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường nước ta là nguoobnf lự tổng hợp to lớn để dưa nề kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng thấp kém, đưa nền kinh tế phát triển ngay cả trong tình trạng ngân sách hạn hẹp.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng mỗi thành phần kinh tế đồng thời vừa tồn tại độc lập, vừa tác động qua lại lẫn nhau, vừa hợp tác cạnh tranh, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn trong một chỉnh thể kinh tế xã hội. Không nên hiểu mỗi thành phần kinh tế như những bộ phận tách rời, những lực lượng tự trị và theo đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là sự hợp nhất cơ học của các thành phần đó.
Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ...