TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN HOÀNG NHIỆM
MSSV: 6116140
QUÊ HƯƠNG VÀ CON NGƯỜI TÂY BẮC
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: LÊ THỊ NHIÊN
Cần Thơ, năm 2014
1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Tác giả và tác phẩm
1.1 Nhà văn Tô Hoài
1.1.1 Cuộc đời
1. Lí do chọn đề tài
Tô hoài là một cây bút văn xuôi xuất sắc, nhà văn có vị trí vô cùng đặc biệt, được ví
như một cây đại thụ trong rừng văn chương Việt Nam hiện đại. Ông được biết đến như
một tấm gương cần mẫn và miệt mài trong lao động nghệ thuật, cả một cuộc đời gắn liền
với cây bút để tạo nên những trang văn hay, đem đến cho đời những tác phẩm có giá trị
sâu sắc. Mỗi một nhà văn đều tạo cho mình một dấu ấn và phong cách riêng trong nền
văn học Việt Nam. Đối với Tô Hoài, chúng ta có thể nhận ra được tài năng quan sát, nhất
là quan sát về đời sống xã hội, phong tục tập quán và đời sống tâm lý con người. Dường
như ở mỗi đề tài, Tô hoài đều đặt hết tâm huyết của mình vào đó, lấy những cái mà ông
nhìn thấy, chứng kiến và cảm nhận được đem vào trong tác phẩm, thông qua cái nhìn
nghệ thuật của mình. Điều đó được thể hiện qua các sáng tác giai đoạn trước và sau Cách
mạng tháng Tám, tạo cho người đọc một cái nhìn đầy thú vị và ấn tượng sâu sắc khó
quên.
Có thể nói hơn 60 năm sáng tác và cầm bút. Đi bền bỉ, xuyên suốt khắp các vùng miền
của Tổ quốc, Tô Hoài đã có được một vốn sống hết sức phong phú, tích luỹ được kinh
nghiệm và nhiều bài học quý báu.
Tô Hoài có một khoảng thời gian dài viết về đề tài miền núi Tây Bắc, đây là một trong
những để tài gây ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp sáng tác của ông. Với phong cách sáng tác
độc đáo, sự am hiểu sâu rộng về đời sống của người dân đồng bào dân tộc cùng với cái
nhìn, mắt quan sát tinh tế, ông đã tái hiện một cách rõ nét, chân thực về thiên nhiên và
con người Tây Bắc qua tác phẩm.
Bằng tài năng sáng tác của mình cùng với vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam,
Tô Hoài đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm, chú ý của
đông đảo bạn đọc và giới phê bình văn học khi mang đến một diện mạo mới trong phong
cách sáng tác của mình. Tô Hoài tỏ ra thành công từ nghệ thuật miêu tả thiên nhiên,
phong tục tập quán về đời sống con người, đến nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Vì
những lẽ trên chúng tôi chọn qua đề tài nghiên cứu Quê hương và con người Tây Bắc
4
ta nhận thấy cốt truyện diễn ra không được mạch lạc những cảnh, những người trong tác
phẩm phần nhiều bị đặt trong mối quan hệ rời rạc, tâm lý nhân vật không được phát triển
và đẩy lên cao trào. Thế nên, người đọc phải tinh ý mới có thể nhận thấy được điều đó.
Chính vì vậy tác phẩm trở nên kém sinh động và hấp dẫn.
Trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài tác giả Huỳnh Lý không chỉ có cái nhìn toàn diện
về tác phẩm mà còn đưa ra những nhận xét về bút pháp: “Tô Hoài rất chủ động với ngòi
bút của mình, sử dụng nó một cách thành thạo. Do đó bút pháp của ông linh hoạt, thích
nghi với từng hoàn cảnh, từng trường hợp. Khi miêu tả một cảnh đẹp, một cuộc vui, một
không khí gia đình đầm ấm, ông không ngại nói nhiều, ông đưa rất đúng lúc màu sắc,
hình ảnh và nhạc điệu vào khiến cho đoạn văn vừa như một khúc nhạc, một bức tranh,
một bài thơ”(Tr.241-Tô Hoài về tác gia và tác phẩm). Bản thân Tô Hoài khi miêu tả về
người hay về cảnh sắc thiên nhiên đều không quá cầu kỳ, dài dòng, phức tạp mà hết sức
ngắn gọn. Mặc dù vậy ông vẫn đảm bảo nội dung được đề cập cũng như chất lượng vẫn
được đánh giá cao. Điều đó làm cho câu văn của ông trở nên mượt mà, dễ hiểu và dễ cảm
nhận, thể hiện cái tài trong việc miêu tả của Tô Hoài
Đọc Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài tác giả Nguyễn Văn Long cũng đưa ra một vài nhận
xét: “thành công của truyện trước hết là ở nghệ thuật xây dựng nhân vật” bên cạnh đó
“nghệ thuật truyện của Tô Hoài còn thành công ở chỗ tác giả đã nắm bắt, lựa chọn được
nhiều chi tiết chân thực, sinh động mà còn có sức khái quát cao” (Tr.256-Tô Hoài về tác
gia và tác phẩm). sở dĩ tác giả có được những thành công trong tác phẩm này đó là nhờ
vào việc khắc hoạ, miêu tả tâm lý nhân vật. Những diễn biến, tình cảm bên trong tâm hồn
nhân vật được Tô Hoài diễn tả một cách tinh tế, bên cạnh đó tác giả phác hoạ một cách
chân thực về đời sống cũng như tính cách của con người miền núi trong các nhân vật của
mình. Chính vì điều này làm cho tác phẩm Vợ chồng A Phủ trở nên chân thực và sinh
động hơn.
Tác giả Đỗ Kim Hồi cũng dành tặng những lời khen về tác giả của Truyện Tây Bắc:
“Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong mùa thu hoạch đầu tiên của Tô Hoài trên quê
hương văn học mới của ông”(Tr.258). Truyện Tây Bắc tạo nên sự chuyển biến đáng kể
bên trong của tư tưởng, tình cảm của nhân vật”(Tr.350-Tô Hoài về tác gia và tác phẩm).
Trải dài cuốn tiểu thuyết Miền Tây là vô số những cảnh đẹp của thiên nhiên núi rừng Tây
Bắc mà chúng ta bắt gặp được trong tác phẩm. Người đọc bị hấp dẫn bởi những vẻ đẹp
7
của sự hùng vĩ, những vẻ đẹp của sự thơ mộng, trữ tình với những hình ảnh lạ mắt, độc
đáo pha lẫn màu sắc riêng biệt của núi rừng Tây Bắc. Tất cả diễn ra thật sống động và lôi
cuốn. Bên cạnh đó, vẻ đẹp của con người miền núi trong đấu tranh hay lao động cũng
được tác giả chú ý và khai thác, tuy nhiên các nhân vật không được hoạt động xoay
quanh cốt truyện, những sự kiện gắn với nhân vật chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Đọc Miền
Tây khi miêu tả, người đọc có cảm nhận dường như các nhân vật trở nên mờ nhạt hơn
trước thiên nhiên Tây Bắc.
Đọc Miền Tây tác giả Khái Vinh kết luận: “Đọc Miền Tây, dường như người ta bị thiên
nhiên thu hút hơn con người, và khi tiếp xúc với đời sống nhân vật thì những phong tục,
tập quán lại được biểu hiện sinh động hơn là tâm trạng”(Tr.360-Tô Hoài về tác gia và
tác phẩm). Có lẽ sở trường của Tô Hoài thiên về miêu tả thiên nhiên hơn là miêu tả con
người bởi xuyên xuốt trong tác phẩm người đọc chỉ cảm nhận được nhịp sống của thiên
nhiên Tây Bắc với những hình ảnh, khung cảnh tuyệt đẹp. Ngược lại, khi miêu tả con
người tác giả chưa bộc lộ hết được khả năng miêu tả của mình, chưa miêu tả được toàn
diện, sâu sắc về tính cách cũng như nội tâm nhân vật, chưa dứt khoát được vấn đề đấu
tranh giữa cái tốt và cái xấu chính vì điều đó làm cho nhân vật của ông trở nên chung
chung, chưa rõ ràng và dễ quên trong lòng người đọc.
Nhìn một cách tổng quan, các ý kiến đánh giá về những tác phẩm của Tô Hoài viết về
đề tài miền núi, có sự thống nhất về những ưu và nhược điểm trong sáng tác. Đa phần các
bài viết chỉ dừng lại ở việc nhận xét về mặt nội dung còn giá trị nghệ thuật của tác phẩm
chỉ dừng lại ở mức đưa ra kết luận một cách ngắn gọn, chưa có sự khai thác sâu sắc, toàn
diện trong bút pháp. Nét đặc sắc nhất trong sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài là
nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán đồng thời khắc hoạ nên hình ảnh
của những con người miền núi sau cách mạng. Tuy có nhiều nhận xét, phê bình, đánh
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tiểu sử: trong quá trình tìm hiểu về đề tài, chúng tôi kết hợp với việc tìm
hiểu hoàn cảnh sống, quan điểm sáng tác của tác giả để góp phần hỗ trợ tích cực trong
việc nhìn nhận vấn đề, thông qua đó thể hiện rõ hơn cái nhìn của tác giả trong các tác
phẩm viết về đề tài miền núi. Chính những điều đó có ảnh hưởng sâu sắc đến chủ đề và là
nguyên nhân trực tiếp tác động vào tác phẩm.
9
Phương pháp thống kê, phân loại : chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích
tìm ra các đặc điểm đặc sắc về phong cảnh thiên nhiên và những phong tục tập quán của
con người núi rừng Tây Bắc được Tô Hoài miêu tả và thể hiện trong tác phẩm.
Phương pháp so sánh: lấy những tác phẩm viết về đề tài miền núi trong các sáng tác của
Tô Hoài, rồi sau đó đối chiếu so sánh với một số tác giả khác cũng viết về đề tài này đem
lồng ghép vào trong quá trình nghiên cứu để làm nổi bật nét độc đáo trong sáng tác của
Tô Hoài.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: tiến hành đi sâu vào phân tích, tìm hiểu về quê
hương và cuộc sống của con người Tây Bắc. Sử dụng cơ sở lí luận cùng với những tư liệu
sẵn có để khai thác những vấn đề trọng tâm nhất, sau đó khái quát lên thành nghệ thuật
miêu tả để thấy được vai trò, ý nghĩa quan trọng của nó trong tác phẩm, làm nổi bật
phong cách sáng tác của Tô Hoài.
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.1 Nhà văn Tô Hoài
1.1.1. Cuộc đời
Từ năm 1966 đến 1996 ngoài chức vụ Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Tô Hoài còn
tham gia nhiều hoạt động công tác xã hội khác như: đại biểu quốc hội khoá 7, Phó chủ
tịch đoàn kết uỷ ban Á- Phi, Phó chủ tịch hữu nghị Việt-Ấn, uỷ viên Ban chấp hành Hội
hữu nghị Việt Xô.
Ở Tô Hoài hội tụ rất nhiều tính cách khác nhau: vừa hài hước, dí dỏm nhưng có khi lại
ít nói, trầm tĩnh lạ kì. Ông không bày tỏ trực tiếp lòng mình ra bên ngoài mà gói kín lại
vào bên trong. Đối với bạn bè ông có một thái độ rõ ràng, yêu ghét phân minh, thể hiện là
một con người độ lượng. Chính vì những điều đó, Tô Hoài rất được bạn bè tôn trọng và
kính nể.
1.1.2. Sự nghiệp văn chương
Tính từ lúc bắt đầu viết văn năm 1940 cho đến nay, Tô Hoài đã viết trên 150 tác phẩm và
có những đóng góp to lớn, đặc sắc cho nền văn học Việt Nam. Nội dung các tác phẩm
của ông xoay quanh 4 mảng đề tài lớn: vùng quê ngoại thành Hà Nội- hiện tại và lịch sử;
Miền núi Tây Bắc, Việt Bắc trong cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội;
sáng tác cho thiếu nhi; chân dung và hồi ức.
Trước cách mạng tháng Tám, có thể nhận thấy trong các sáng tác của Tô Hoài Trong
thời gian này nội dung chủ yếu viết về những nỗi niềm tâm sự của nhà văn gửi gắm cho
lớp trẻ mai sau trong hoàn cảnh sống bế tắc. Những câu chuyện đời thường với những
con người gần gũi có tâm hồn giản dị. Bên cạnh đó mượn hình ảnh của một số con vật
nhỏ bé gắn liền với sinh hoạt con người để mô tả đời sống con người.
Có thể kể đến một số tác phẩm chính của nhà văn Tô Hoài được in thành sách trong
giai đoạn này :Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1942), O chuột (truyện, 1942), Giăng thề
(truyện, 1941), Xóm giếng ngày xưa (truyện, 1944, Quê người (tiểu thuyết, 1942)¸ Cỏ dại
(hồi ký, 1944). Với các tác phẩm này Tô Hoải đã xây dựng trên cơ sở tự truyện, xoay
quanh những câu chuyện về gia đình, bà con, lối xóm của mình. “Những sáng tác của tôi
đều miêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình quanh mình. Những
12
nghèo đói, cùng túng, đau đớn. Phần nào nhẹ nhàng hay xót xa, hay nghịch ngợm và đá
nồng nàn, sâu sắc : “Đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều
quá”, “hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người,
thành việc trong tâm trí tôi. Đó là một ám ảnh mạnh mẽ thúc đẩy tôi sáng tác”.(Tr.70-tô
hoai tac gia tac phẩm)
Có thể nói sáng tác về đề tài miền núi là một ưu thế đặc biệt của Tô Hoài khiến nhà văn
càng có vị trí vững chắc hơn trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Tây Bắc trở thành một
vùng đất mà Tô Hoài xem là quê hương thứ hai của mình sau vùng quê ngoại thành Hà
Nội nơi ông từng gắn bó. Bằng tất cả tài năng nghệ thuật cùng với vốn sống, vốn hiểu
biết phong phú của mình, Tô Hoài đã viết về Tây Bắc bằng cả tình yêu thắm thiết, hình
ảnh Tây Bắc mang nỗi ám ảnh mạnh mẽ khơi dậy một nguồn cảm hứng sáng tạo và thúc
đẩy việc sáng tác.Tô Hoài được xem là nhà văn của miền núi Tây Bắc, là một trong
những người đặt nền móng cho nền văn học viết về đề tài miền núi.
Các tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài khi viết về miền núi là tập truyện Núi Cứu quốc
(1948) với bốn truyện ngắn : Đồng chí Hùng Vương, Nà Lộc, Tào Lường và Công tác xa.
Tiếp đến là tập Truyện Tây Bắc (1953) gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu
mường và Vợ chồng A Phủ.
Sau 1955 Tô Hoài cho ra đời tiểu thuyết Miền Tây.
Thành công tiếp nối thành công, tài năng của Tô Hoài càng về sau càng được phát huy
một cách tích cực với việc sáng tác thêm nhiều tác phẩm khác như: Tuổi trẻ Hoàng Văn
Thụ (1971) Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai Châu (1988),…tiếp tục ca ngợi những
phẩm chất tốt đẹp của các dân tộc ở miền núi Tây Bắc trong đời sống kháng chiến và xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Sống trong đời sống mới, Tô Hoài vẫn miệt mài, say sưa viết văn một cách khoẻ mạnh
ở tiểu thuyết Mười Năm (1958). Ông đã phát huy khả năng quan sát và bút pháp thể hiện,
hướng cái nhìn của mình lên một tầm nhận thức mới, suy ngẫm sâu sắc hơn về cuộc sống
đồng thời phản ánh quá trình giác ngộ cách mạng của quần chúng cũng như sức mạnh
của họ trong phong trào đấu tranh chống áp bức bóc lột của chế độ thực dân phong kiến,
đem lại sự đổi thay cho cuộc sống.
15
1.2 Phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật là một trong những phạm trù cơ bản có ý nghĩa đặc biệt trong
sáng tác của một tác giả. Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của tác giả cũng có nghĩa là
nghiên cứu những nét nổi bật, nét riêng biệt, mới lạ trong tác phẩm của họ. Tô Hoài là
một trong những nhà văn đã đi qua những thời kỳ quan trọng, trải qua những mốc lịch sử
và văn học đặc biệt: trước và sau Cách mạng tháng Tám; trong chiến tranh và trong hoà
bình; trước và sau thời kỳ đổi mới văn học. Các sáng tác của Tô Hoài đa dạng về đề tài
và thể loại: từ đề tài miền xuôi đến đề tài miền núi, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện
đồng thoại đến kịch bản phim, tiểu luận... Ở đề tài nào và thể loại nào, ông cũng ghi lại
những dấu ấn riêng mà không pha lẫn với bất kì nhà văn nào. Qua khảo sát, thống kê,
phân tích, tổng hợp một số phương diện đặc sắc của văn chương Tô Hoài, có thể khẳng
định rằng Tô Hoài là nhà văn có phong cách độc đáo.
Phong cách nghệ thuật của Tô Hoài được thể hiện qua nhiều yếu tố, liên kết chặt chẽ với
nhau tạo nên phong cách nghệ thuật. Thông qua cái nhìn hiện thực về cuộc sống đời
thường, nhà văn Tô Hoài cảm nhận và tái hiện hiện thực cuộc sống trên nhiều phương
diện: viết về con người, về xã hội, về loài vật và về thiên nhiên. Tất cả tạo nên sự phong
phú, đa dạng, hấp dẫn trong phong cách nghệ thuật của ông.
Con người trong sáng tác của Tô Hoài bao giờ cũng gắn liền với gia đình, quê hương,
nghề nghiệp, gắn bó với những mối quan hệ, cảm xúc vui, buồn, hạnh phúc và khổ đau.
Viết về con người nhà văn thể hiện hình ảnh con người bằng tất cả những gì đơn giản đời
thường nhất có thể. Trong sáng tác, Tô Hoài không lý tưởng hoá con người mà tạo lập
trường riêng trong điểm nhìn của mình, ông cảm nhận rằng trong mỗi con người, ai cũng
có những phẩm chất, những thói tật, những mặt tốt cũng như mặt xấu . Những phẩm chất
đó chính là điều kiện cơ bản tạo nên nền tảng đạo đức bền vững.
Bên cạnh đó, nhìn từ hiện thực cuộc sống, bức tranh xã hội trong cảm quan của Tô Hoài
trở nên thực hơn với những nét đẹp văn hoá truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc pha lẫn
những phong tục, tập quán lạc hậu (Truyện Tây Bắc, Miền Tây) là nguyên nhân dẫn đến
sinh sống, lao động và phẩm chất, tính cách của nhân vật, vừa tạo sắc thái giọng điệu
nghệ thuật chủ đạo của Tô Hoài vừa làm nổi bật nhân vật.
17
Nhà văn rất chú trọng ngữ điệu lời nói cho nên lời đối thoại trong văn chương Tô Hoài
thường được lược bỏ thành phần câu, câu nói trở nên ngắn gọn và đơn giản mang đậm
phong cách khẩu ngữ tự nhiên, giúp người đọc cảm nhận rõ từng hơi thở của cuộc sống.
18
Tô Hoài bày tỏ lòng mình trước cuộc sống sinh hoạt muôn màu muôn vẻ bằng một giọng
điệu nghệ thuật đặc sắc. Giọng điệu nghệ thuật chủ đạo của Tô Hoài là giọng điệu dí dỏm
và giọng điệu trữ tình. Giọng điệu chủ đạo này góp phần quan trọng nhận diện được văn
chương Tô Hoài. Giọng điệu dí dỏm được nhà văn khai thác tối đa khi nó trở thành
phương tiện để tác giả bày tỏ thái độ hài hước, xót xa, phê phán trước mọi biểu hiện của
con người và cuộc sống sinh hoạt (O chuột, Chóp bể mưa nguồn, Cát bụi chân ai, Vợ
chồng trẻ con, Quê nhà, Quê Người,…). làm phương tiện truyền tải mọi vui - buồn lên
trang sách, vừa thể hiện bản lĩnh cứng cỏi, bày tỏ thái độ, trách nhiệm với con người và
cuộc sống của nhà văn.
Giọng điệu chủ đạo của Tô Hoài trở nên trọn vẹn hơn khi có sự tham gia của chất giọng
trữ tình. Những vẻ đẹp sinh hoạt phong tục ở mọi miền quê, những cuộc sống nên thơ,
mộc mạc và phong cảnh thiên nhiên bao la tươi đẹp của đất nước mang những sắc màu
riêng biệt, giọng điệu trữ tình trở thành một trong những giọng điệu hiếm có của Tô Hoài.
Giọng điệu trữ tình của Tô Hoài trong tác phẩm bàng bạc chất thơ - chất thơ của đời sống
thực. Chỉ có một tấm lòng gắn bó thiết tha với con người và quê hương đất nước, Tô
Hoài mới có thể cảm nhận vẻ đẹp của đời sống và bày tỏ lòng mình trên nhiều cung bậc
cảm xúc như thế.
Mường Giơn là một truyện viết về tinh thần kháng chiến của các dân tộc trong những
năm tháng đấu tranh chống giặc. Truyện mở đầu là cảnh gia đình ông Mờng gồm ông
Mờng, ba chị em Mát, Ính, An và người con rễ, Sạ. Cuộc sống đang êm đềm hạnh phúc,
thì bất ngờ giặc đem quan đến chiếm đóng, dân làng tản cư, Sạ mất tích. Giặc Tây đóng
đồn ở Mường Giơn, buộc mọi người phải trở về làng, bắt trai làng đi phu, đi lính, chúng
cướp bóc, hãm hiếp gây ra biết bao đau khổ cho dân làng. Mát bị bang Kỳ cướp về hầu
hạ rồi đem đi mất tích, Chị Yên, hàng xóm cũng bị cưỡng bức. Ính luôn phải trốn tránh
một cách khôn khéo đồng thời chủ động đấu tranh làm địch vận. Nhân dân làng Mường
Giơn không khuất phục trước kẻ thù, người Mường Giơn bắt đầu có những hành động
phản kháng, Sạ trước kia bị thương được bộ đội cứu sống giờ trở về làng bí mật giúp đỡ
đồng bào, đoàn kết với các dân tộc anh em cùng nhau đứng lên đấu tranh giải phóng
Mường Giơn. Cuộc sống tự do của đồng bào trở lại.
20
Cứu đất cứu mường là một truyện ngắn kể về cuộc đời của bà Ảng. Khi còn trẻ, Ảng là
một cô gái người Thái xinh đẹp nổi tiếng nhất đất Mường Cơi, trải qua những tháng ngày
đen tối gây nên bởi những quy định tập tục lạc hậu ở miền núi. Tri Châu Né bắt cô về hầu
hạ , khi hắn chết cô trở về làng mà không có gì cả, bố mẹ thì đã mất, từ đó như một món
hàng cô lần lượt trải qua từ quan này đến quan khác, thay phiên nhau bắt cô hầu hạ trong
những cuộc vui chơi của chúng. Kết quả cô Ảng có hai con, không biết là con của ai,
càng trớ trêu thay cô bị phạt vạ là chửa hoang, phải bán đứa con trai lớn là Nhấn cho một
người Dao trên núi để lấy tiền nộp phạt. Phép làng không chia ruộng những nhà không có
đàn ông nên cô Ảng không có đất ruộng để làm, phải ôm con đi xin ăn. Cách mạng đến,
khu du kích được thành lập trên núi, Nhấn xin bố nuôi về đón mẹ lên. Bà Ảng về khu du
kích trông nương rẫy. Cuộc sống những tưởng đã bình yên thì trong một cuộc đánh cướp
nương rẫy, tên Cầm Vàng đã đánh chết bà. Kết thúc tác phẩm là quan cảnh Nhấn cùng du
kích Dao chặn đánh địch.
Dựa vào một câu chuyện có thật, Tô Hoài viết truyện Vợ Chồng A Phủ. Truyện kể lại
phản ánh cuộc sống mới với những trang văn miêu tả không khí lao động và sinh hoạt
của người dân miền núi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa vùng cao, những
nhân vật như y sĩ Thào Khay, chủ tịch Tỏa hay người cán bộ miền xuôi, Nghĩa đóng góp
một thành công không nhỏ vào sự thay đổi cái nhìn cũng như tư tưởng lạc hậu của con
người miền núi, tất cả tạo nên cuốn tiểu thuyết Miền Tây thật sống động và hấp dẫn.
Nếu Truyện Tây Bắc trực tiếp viết về tinh thần đấu tranh của các dân tôc Tây Bắc chống
lại những thế lực phá hoại và phản động của bọn thực dân phong kiến thì tiểu thuyết
Miền Tây đi vào miêu tả công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhiều khó khăn ở
vùng núi cao mà hiểm trở. Ở đây ta thấy được cả một nguồn sống tươi mới, chan hoà trên
mọi nẻo đường, một nguồn ánh sáng chiếu vào những cảnh tăm tối của người dân miền
núi sau cách mạng.
22
Chương 2: QUÊ HƯƠNG TÂY BẮC TRONG MỘT SỐ TÁC
PHẨM CỦA TÔ HOÀI
2.1 Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc trong một số tác phẩm của Tô Hoài
2.1.1 Vẻ đẹp lãng mạn trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc
Không biết thiên nhiên có từ bao giờ, chỉ biết rằng thiên nhiên là một phần của cuộc
sống. Thiên nhiên chính là người bạn, thân thiết, gần gũi với con người. Chúng ta có thể
bắt gặp hình ảnh thiên nhiên ở bất kì mọi nơi chính vì thiên nhiên luôn có mặt trong từng
nhịp sống của chúng ta. Tây Bắc trong kháng chiến gắn liền với thiên nhiên bởi đó là nơi
che chắn cho biết bao con người sinh sống và hoạt động trong những năm tháng chiến
đấu với rừng núi mênh mang mà chỗ nào cũng có lối đi, lối đi chằng chịt như mạch máu
trên thân người. (Tr.14- Tào Lường)
Trong sáng tác của Tô Hoài, thiên nhiên luôn đóng một vai trò quan trọng. Đó không
phải là những khung cảnh thiên nhiên âm u, rùng rợn, hãi hùng hay bí hiểm như trong
văn của các nhà văn lãng mạn mà là cả một vùng trời thiên nhiên bao la, thơ mộng, hùng
vĩ của đất trời. Có thể thấy, thiên nhiên trong văn Tô Hoài được mô tả bằng những hình
liệu là gam màu xanh rồi biến đổi linh hoạt qua từng câu chữ, từ “xanh thẫm”, “xanh
nhợt” cho tới “xanh lơ” tất cả tạo nên một sự nhẹ nhàng, êm ả cho một buổi sáng đầy ánh
nắng tuyệt đẹp: “Trời sáng. Nắng sớm cuồn cuộn lồng lên từng tảng sương xanh thẫm,
xanh nhợt rồi tan xanh lơ. Mép núi long lánh sáng. Những triền đá, những cánh đồi tranh
xám mờ chiều qua đi ngủ bây giờ lại miên man rướn lên một làn sóng chàm biếc vượt xa
quá tầm mắt.Trời quang quẻ nắng, những u uất và bí mật khó hiểu cũng rũ xuống đâu
mất”.(Tr.796-Miền Tây)
Khi miêu tả thiên nhiên vào một buổi sáng mùa đông, bằng cách phóng tầm mắt của mình
ra xa, Tô Hoài vận dụng thành công nghệ thuật không gian vào trong tác phẩm để thể
hiện cái nhìn, điểm nhìn, hướng quan sát của tác giả đối với khách thể được nhìn. Không
gian ấy có thể được hướng ra xa, mở rộng bao la hay thu hẹp khoảng cách lại tuỳ thuộc
vào điểm nhìn nghệ thuật của tác giả. Trong Mường Giơn Tô Hoài miêu tả thiên nhiên
của một buổi sáng mùa đông ở miền núi với một góc nhìn độc đáo, hướng tầm mắt từ gần
đến xa, từ thấp lên cao, bao quát lên toàn bộ cảnh vật xung quanh miền núi Tây Bắc tạo
nên một bức tranh miền núi tuyệt đẹp: “một buổi sáng mùa đông khô ráo. Từ mặt đất,
24
mây mù cất cao như cái mành sương dần dần cuộn lên, đầu tiên trông thấy đồng lúa
chín, rồi nước suối Nậm Giơn óng ánh sáng, rồi nóc nhà trong làng nhấp nhô, rồi đến
ngang lưng quả núi xanh ngắt” (Tr.192)
Miêu tả thời gian vào buổi trưa trong Mường Giơn, tác giả đem đến cho người đọc một
khung cảnh tĩnh lặng mang màu sắc ấm áp, gắn với thứ âm thanh êm ả cùng với hương
thơm dịu nhẹ toả ra từ cây lá: “Giữa trưa, nắng hanh đọng từng vũng trong rừng trám
cao vút, im lặng. Một chiếc cuống lá gãy cũng nghe tiếng. Bó hương nhu để trên tảng đá,
bốc mùi thơm dìu dịu trong nắng” (Tr.109). Khung cảnh mang đến một cảm giác thật dễ
chịu, bình yên, nhẹ nhàng và sâu lắng.
Miền núi về đêm khoác lên mình một vẻ đẹp lung linh, huyền ảo đặc biệt là những đêm
trăng sáng mùa hè: “những đêm đầu mùa hè, mây dày từng mớ, từng lớp vàng đẫm ánh
trăng ủ trên những cánh rừng tít tắt chân mây, những thung lũng làng mạc xa lạ, những