thiên nhiên và con người tây bắc trong tác phẩm những ngọn gió hua tát của nguyễn huy thiệp - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÊ THỊ DUNG THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TÂY BẮC TRONG
TÁC PHẨM NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT
CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ DUNG THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TÂY BẮC TRONG


Sơn La, tháng 5 năm 2014
Ngƣời thực hiện
Lê Thị Dung
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1. Đối tượng nghiên cứu 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu 5
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của khoá luận 6
6. Cấu trúc của khoá luận 6
NỘI DUNG 7
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1. Khát quát về tác phẩm văn học 7
1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học 7
1.1.2. Những phương diện nội dung cơ bản của tác phẩm văn học 8
1.1.2.1. Đề tài 8
1.1.2.2. Chủ đề 9
1.1.2.3. Tư tưởng 9
1.1.3. Những phương diện hình thức của tác phẩm văn học 10
1.1.3.1. Nhân vật văn học 10
1.1.3.2. Kết cấu 11

3.2.2.1. Mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên 43
3.2.2.2. Mâu thuẫn giữa khát vọng của con người với hoàn cảnh sống 46
Tiểu kết 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thiên nhiên và con người Tây Bắc là cảm hứng sáng tác trong văn
chương Việt Nam từ cổ tới kim. Nhớ tới Tây Bắc, người ta thường nhớ tới những
hình ảnh quen thuộc như dòng sông Đà hung bạo và trữ tình, những dãy núi hói,
núi trọc, núi đá vôi, không chỉ vậy nhắc tới Tây Bắc là người ta hay nhắc tới xứ sở
của hoa Ban trắng thơ mộng và trữ tình đã đi vào thơ văn từ bao đời nay. Con
người Tây Bắc hiện lên với nét thân thiện, mộc mạc bình dị, những con người hiền
hậu gắn bó với thiên nhiên núi đồi giữa cuộc đời. Hình ảnh những cô gái Thái trong
tà áo cóm duyên dáng làm say đắm biết bao chàng trai cũng là những hình ảnh
quen thuộc đi vào thơ văn.
1.2. Nguyễn Huy Thiệp là một trong những gương mặt tiêu biểu của thể loại
truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Tuy xuất hiện muộn trên văn đàn nhưng Nguyễn
Huy Thiệp đã gây được sự chú ý của bao bạn đọc bởi lối viết “tinh” và “lạ”, với đủ
các thể loại truyện: thế sự, giả cổ tích, có kết, không kết Các tác phẩm nổi tiếng của
ông đã xuất bản: Những ngọn gió Hua Tát (1989 ); Tƣớng về hƣu (1989 ); Nhƣ
những ngọn gió (1995); Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp (1996 ). Nguyễn Huy
Thiệp viết nhiều: “mỗi tác phẩm là một sự kiện và giới văn học, cả giới công
chúng đọc không ít lời bàn luận, bàn tán. Khen chê ầm ĩ mạnh mẽ và quyết liệt”
[12, 6]. Khi nền văn học chúng ta như đang ngủ yên, thì Nguyễn Huy Thiệp xuất
hiện, ông “là ngƣời đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỉ lục có nhiều bài viết

Đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, dù khen hay chê, tất thảy đều
mạnh mẽ, quyết liệt và thậm trí trái ngược nhau như nước với lửa. Thời gian trôi qua,
những dòng cảm xúc nóng bỏng về những gì ông viết ở người đọc chuyển dần sang sự
nghiên cứu kĩ lưỡng. Nhiều người bắt đầu đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tài năng
văn chương của ông một cách khách quan hơn qua những trang viết thận trọng.
Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng độc đáo. Nói như nhà phê bình văn học
Vương Trí Nhàn trong bài “Tượng tưởng về Nguyễn Huy Thiệp” (Văn nghệ số 35-
36 ra ngày 20/8/1988): “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay “cây bút vàng”
dành tặng cho cây bút xuất sắc hàng năm, thì trong năm vừa qua và cả đầu năm
nay nữa - Ngƣời xứng đáng đƣợc giải trong văn xuôi nƣớc ta, có lẽ là Nguyễn Huy
Thiệp‟‟ [10, 405].

3
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ngay từ khi mới xuất hiện đã hấp dẫn
công chúng và giới nghiên cứu phê bình. Năm 2001 trong lời tựa cuốn “Đi tìm
Nguyễn Huy Thiệp” (cuốn sách tập hợp khá nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp)
Phạm Xuân Nguyên trong lời giới thiệu đã khẳng định:“Thật hiếm có trong văn
chƣơng Việt Nam xƣa nay, tôi dám chắc chƣa có, một nhà văn nào vừa xuất
hiện đã gây đƣợc dƣ luận càng mạnh, truyện chƣa ra thì ngƣời đã kháo nhau,
truyện đăng rồi thì nhiều ngƣời tìm đọc, đọc rồi thì nhiều ngƣời bình phẩm,
bàn tán, chốn phòng văn, cũng nhƣ chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện…
văn đàn đồng thời đổi mới đã đổi sắc, bỗng khởi sắc hẳn, đã náo động, càng
thêm náo động, bởi những cuộc tranh luận, cả tranh cãi, quanh sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp” [ 14, 5-6].
Nhà báo Mai Ngữ trong “Cái tâm và cái tài của ngƣời viết” (Báo Quân đội
Nhân dân, số 9791 ngày 27/8/1988) cũng đã phát hiện tương tự: “Ngòi bút của anh
Thiệp đƣa con ngƣời về điểm xuất phát của nó, con ngƣời hạ đẳng, con ngƣời
nguyên thuỷ cùng với tiềm thức và bản ngã vốn có do trời sinh ra, những con ngƣời
trần trụi, loã thể trong tƣ duy cũng nhƣ trong hình thái”. Trên đây là một số ý kiến
xoay quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dầu các bài viết có những phát

người. Tác giả đánh giá: “Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết đặc tả vẻ đẹp
của thiên nhiên lãng mạn Tây Bắc… sƣơng mù đang còn dày đặc, ngƣời đi chợ
nhƣ đi mơ, cách một sải tay chẳng nhìn thấy gì…” [4, 398]. Con người Tây Bắc
đơn giản hoà mình vào thiên nhiên vô tận được Nguyễn Huy Thiệp chụp từ nhiều
phương diện: văn hoá, ngoại hình, đời sống nội tâm,…
Các công trình nghiên cứu khoa hoc này bước đầu lí giải khá sâu sắc về một
số phương diện cụ thể trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Tuy nhiên, để hiểu
đầy đủ về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định được những đóng góp của ông cho
nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta cần có cách nhìn toàn diện, đa chiều
hơn. Đây cũng là cơ sở khách quan chính xác, cần đi tìm hiểu một tác phẩm cụ
thể, phần nào đó có thể hiểu thêm về nhà văn hiện đại này. Những bài nghiên
cứu khoa học trên cũng là những gợi ý quý báu để giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu
“Thiên nhiên và con ngƣời Tây Bắc trong tác phẩm những ngọn gió Hua Tát
của Nguyễn Huy Thiệp”. 5
3. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Thiên nhiên và con người Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát
của Nguyễn Huy Thiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những đặc điểm của thiên nhiên và con người trong tác phẩm.
- Nghiên cứu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và con người.
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận có liên quan.
- Văn bản chọn để nghiên cứu là truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát ủa tác giả
Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu trong Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp, NXB Văn học. Hà Nội.( 2005)
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết về tác phẩm văn học và đề tài thiên nhiên, con người

Nguyễn Huy Thiệp

7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Khát quát về tác phẩm văn học
1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật bằng ngôn từ là kết quả tiến trình
lao động nghệ thuật của cá nhân mỗi nhà văn. Tác phẩm văn học đi vào đời sống
của con người có những tác phẩm lớn như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chiến
tranh và hòa bình của Leptonxtôi. Nói đến tác phẩm văn học là vấn đề quen thuộc
đi sâu vào lòng bạn đọc nói chung, giới nghiên cứu, phê bình nói riêng. Và rồi
những tác phẩm có giá trị thường sống mãi cùng thời gian và đi cùng năm tháng,
những tác phẩm ấy đều phản ánh thực tế cuộc sống hay nói cách khác là tác phẩm
văn học đều bắt nguồn từ chính cuộc sống.
Tác phẩm văn học từ xưa đến nay được quan niệm khá rộng rãi, trong cuốn
lý luận văn học của Hà Minh Đức chủ biên từng quan niệm rằng: “Tác phẩm văn
học là công trình nghệ thuật ngôn từ là kết quả hoạt động sáng tác của mỗi nhà
văn” [2, 115] . Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên: “Tác phẩm là sản
phẩm của trí tuệ do nhà văn nghệ thuật, khoa học trực tiếp tạo ra dƣới một hình
thức nhất định” [14, 1134] .
Như vậy có thể thấy rằng, những cảm xúc, suy tư của nhà văn về con người,
cuộc đời dù có mãnh liệt, sâu sắc đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu không có tác
phẩm trong lịch sử. Tác phẩm văn học tỏ ra ngày càng cũ về chữ nghĩa mới về nội
dung, tác phẩm văn học cũng là yếu tố tạo nên văn học hay trào lưu văn học. Sự
hưng thịnh của nền văn học, sự thăng trầm của trào lưu văn học đều gắn với sự
hưng thịnh của trào lưu, hưng thịnh của tác phẩm. Tác phẩm văn học là con đẻ
của nhà văn, nhưng khi ra đời tác phẩm văn học luôn tồn tại độc lập vượt khỏi
dự tính ban đầu của nhà văn. Đến với bạn đọc tác phẩm văn học tiếp xúc theo

chặt chẽ với đối tượng nhưng không thể đồng nhất với các đối tượng với hệ thống
đề tài. Đối tượng là phần không thể thiếu là khách thể mà con người chiếm lĩnh,
phù hợp với nhu cầu một năng lực nhất định nhưng mà đối tượng không thông qua
sự lựa chọn và miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học. Nói khác đi, đối tượng là
cơ sở của đề tài là sự khái quát phạm trù lịch sử trong xã hội trong tác phẩm .

9
1.1.2.2. Chủ đề
“Chủ đề là vấn đề cơ bản trung tâm đƣợc tác giả nêu lên, đặt ra qua nội
dung của tác phẩm văn học” [5, 61]. Nếu đề tài giúp ta xác định: tác phẩm viết cái
gì? thì khái niệm của chủ đề lại giải đáp cho câu hỏi đó. Chủ đề là vấn đề cơ bản
của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực nhà văn
chẳng những xác định một phạm vi hiện tượng đời sống mà tập trung soi rọi một
vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó. Nhà thơ Tố Hữu nói: “Vấn đề nghệ
thuật chính là chủ đề nói nôm na cho dễ hiểu câu hỏi - câu hỏi của cuộc đời”.
M.Gorki đã nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo của chủ đề trong sáng tác: “Chủ đề là
cái tƣ tƣởng manh nha trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi nên, làm tổ
trong ấn tƣợng của anh ta, nhƣng chƣa định hình và đòi hỏi thể hiện thành hình
tƣợng, thức tỉnh nhà văn kêu gọi anh ta lao động để tạo ra hình thức cho nó”. Chủ
đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm trong tác phẩm. Chẳng
hạn, Tắt Đèn của Ngô Tất Tố phản ánh số phận bi thảm của người nông dân do chế
độ sưu thuế, sự bóc lột tàn khốc trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Chí Phèo
của Nam Cao, tập trung tô đậm vấn đề tha hóa, biến chất của một số bộ phận nông
dân và ước mơ làm người lương thiện của họ.
1.1.2.3. Tƣ tƣởng
Tư tưởng là: “Những nhận thức, lý giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung
cụ thể sống động của tác phẩm văn học cũng nhƣ những vấn đề nhân sinh đặt ra
trong đó ” [5, 382]. Trong bộ Tấn trò đời của Banzăc, tư tưởng chung thống nhất
cho tác phẩm là tư tưởng phê phán tố cáo sự mục ruỗng, thối nát của xã hội tư
sản Pháp thế kỉ XIX. Tư tưởng là linh hồn, là kết tinh của sự cảm nhận suy nghĩ

phẩm tự sự hoặc kịch. Đó là những con người thiếu hẳn những nét đó nhưng lại có
tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như vậy người trần thuật họ chỉ có cảm xúc nỗi niềm
ý nghĩa, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình .
Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật, mang tính ước lệ, không đồng nhất với
con người có thật. Nhân vật văn học khác với những nhân vật trong hội họa điêu
khắc, bộc lộ trong hành động và quá trình. Nhân vật văn học có tính hình tuyến
(diễn ra từ đầu đến cuối), đồng hiện. Nó luôn hứa hẹn trong quá trình giao tiếp
đồng thời nhân vật văn học có tính hồi cố, bởi có những bước phát triển điều làm
nhớ lại những công thức nhận biết biết ban đầu đều là nó sâu thêm hoặc điều chỉnh

11
cho xác đáng, nhưng không bỏ quên hay xa rời cái chuẩn mực ban đầu. Nhân vật
Hoàng trong Đôi Mắt của Nam Cao nguyên là một nhà văn kiêm một tay thơ đen
tài tình thì mỗi bước đi, hành động của nhân vật đều làm ta nhớ lại cá tính ấy
của Hoàng. Nhân vật văn học là những khái niêm trung tâm để xem xét tác
phẩm văn học theo một khuynh hướng, trường phái hoặc một phong cách.
Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép những biểu tượng văn
học như văn học về “con ngƣời nhỏ bé ”, con người thừa, văn học về “thế hệ
mất mát”. Những nhân vật trở nên nổi tiếng thế giới như AQ, Graang, Faust…
trong nền văn học thế giới.
1.1.3.2. Kết cấu
Có thể hiểu kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các thành phần, các hình thức nghệ
thuật theo nội dung và thể tài. Kết cấu rất quan trọng đối với văn chương nghệ
thuật. Kết cấu còn là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm
là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên
cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định.
Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm phải phục tùng đặc trưng
nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu là
duy nhất không thể thay thế, không thể đảo lộn trật tự, kết cấu thâm nhập vào cấp
độ nhỏ nhất như ngôn ngữ hay hình ảnh. Nó góp phần tạo ý nghĩa cho tác phẩm. Vì

Hàng trăm nghìn
Tấn quặng xỉn ngôn từ
(Nói chuyện với ngƣời thanh tra tài chính)
Người ta thường nói trong tác phẩm văn học có tính hình tượng tính gợi cảm
tính chính xác, tính cảm xúc… những nhận định ấy thường rất đúng nhưng không
nên quên rằng đó là lời giao tiếp thông thường, chẳng hạn như lời thầy giáo giảng
bài, lời nhà tuyên truyền chính trị, lời đùa vui, châm chọc, lời âu yếm chân chính…
thiếu các tính chất trên người ta không thể đạt được những hiệu quả trong giao tiếp.
Trong lời văn tác phẩm các tính chất ấy được hiểu sâu rộng hơn gắn liền với phản
ánh đời sống của văn học.
1.1.4. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học
Vấn đề nội dung và hình thức chiếm vị trí rất quan trọng trong các vấn đề lý
luận của văn học, trước hết gắn liền với bản chất chức năng của văn học đối với đời

13
sống, gắn với những quy luật phát triển của văn học. Đối với từng tác phẩm, nội
dung và hình thức là phạm vi chủ yếu thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của nó. Triết
học đã từng khẳng định rằng ở bất kỳ sự vật hiện tượng nào đó trong tự nhiên và xã
hội đều mang trong mình hai yếu tố nội dung và hình thức. Nội dung là những yếu
tố, quá trình làm lên sự vật hiện tượng, hình thức là sự biểu hiện, sự tổ chức, trật tự
phương thức tồn tại của nội dung. Nội dung và hình thức là hai mặt mâu thuẫn,
nhưng giữa chúng có sự thống nhất không tách rời với nhau, đan xen vào nhau
chuyển hóa cho nhau. Một trong hai yếu tố này mà thay đổi thì thường kéo theo
yếu tố kia. Thời cổ đại Aritxôt rất coi trọng hình thức với luận điểm của mình:
“Chất liệu cộng với hình thức thì tạo ra bản chất của sự vật”. Trong bút kí triết
học của mình Lê-Nin cũng nói: “hình thức mang tính bản chất. Bản chất đƣợc biến
thành hình thức” [13, 29].
Trong tác phẩm văn học có giá trị, hình thức thống nhất với nội dung. Có lẽ
không ai diễn đạt sự thống nhất này mạnh mẽ hơn Belinxlki nhà phê bình Nga đã
từng viết: “trong tác phẩm nghệ thuật, tƣ tƣởng và hình thức phải hòa hợp với

bạo dung nạp thêm những phần “ái ố” trần trục thuộc về bản năng thầm kín trong
con người để đưa vào trang viết của mình. Ông đã phanh phui ra ánh sáng những
vấn đề mà lâu nay người ta biết nhưng né tránh không dám nói ra, đó cũng là lí
do tại sao xuất hiện nhiều ý kiến khen chê bàn cãi tranh luận xung quanh cuộc
đời của Nguyên Huy Thiệp. Và rồi Nguyễn Huy Thiệp luôn tìm được “nguồn
riêng giữa dòng chung” góp phần xây dựng nên nền văn học nước nhà ngày
càng phong phú và đa dạng.
1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Có thể nói, những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có số lượng không nhiều.
Bắt đầu xuất hiện trên văn đàn từ năm 1980, mặc dù sáng tác không nhiều nhưng
bất kì tác phẩm nào của ông khi ra mắt công chúng cũng xuất hiện hai luồng khen
chê dữ dội.
Nguyễn Huy Thiệp được mệnh danh là ông vua truyện ngắn. Tác phẩm tiêu
biểu Những ngọn gió Hua Tát (1989); Tƣớng về hƣu (1989) Con gái Thủy Thần
(1992); Nhƣ những ngọn gió (tuyển tập 1995); Thƣơng cả cho đời bạc, Mƣa nhã
nam… Bên cạnh thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn sáng tác nhiều thể
loại khác: tiểu thuyết, tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu kịch. Và bất kì thể loại

15
nào Nguyễn Huy Thiệp cũng đặt được dấu ấn riêng của mình.
Tiểu thuyết: Đây là thể loại Nguyễn Huy Thiệp đang trập chững những bước
đi đầu tiên. Hai tác phẩm được coi là đứa con đầu lòng của ông có thể kể đến là
Tuổi hai mƣơi yêu dấu và tiểu thuyết kiếm hiệp Võ lâm ngoại sử.
Tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu. Cả bốn thể loại này được tập hợp và in
thành sách Giăng lƣới bắt chim (NXB Hà Nội năm 2003).
Kịch: Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp (NXB Tuổi trẻ năm 2003).
Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được xuất hiện rải rác trên các báo
và tạp chí: Văn nghệ, Lao động, Tiền phong chủ nhật, Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí
Minh, Sông Hương, đất Quảng, Cửa Việt… Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều
thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga và thu hút đông đảo sự quan tâm của độc giả ngoài

(Tƣớng về hƣu). Đó là tâm lý của Đoài và Khảm: hai nhân vật anh và em trong
truyện Không có vua đã trơ trẽn mặc cả vật chất với nhau nếu như Đoài không ngủ
được hoặc lấy Mỹ Trinh bạn của Khảm. Tâm lý vụ lợi thế dẫn đến quan hệ tiền trao
cháo múc trong Huyền thoại phố phƣờng cách Hạnh mò cống tìm chiếc nhẫn thật
thảm hại để tranh thủ sự tin cậy của gia đình, người đánh rơi chiếc nhẫn mà Hạnh
toan lợi dụng. Nhân vật này trục lợi đã trở thành một cương lĩnh sống .
Muốn cải tổ xã hội phải cải tổ tâm lý con người, Nguyễn Huy Thiệp đã đề cập
đến vấn đề quan trọng của tâm lý con người thời kỳ quá độ. Thời kỳ lịch sử trước
đây là thời kỳ của chế độ bao cấp và nhất là trong chiến tranh người ta hoàn toàn
sống bằng tình nghĩa không cần so đo tính toán. Nhưng khi chuyển sang kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên của hạch toán chỉ tình nghĩa thôi không đủ, con người ngày hôm
nay đòi hỏi sự sỏng phẳng, sự tính toán phân minh đương nhiên hạch toán là năng
suất, là văn minh, là tiến bộ. Tuy nhiên cuộc sống thật khủng khiếp nếu như quan
hệ giữa con người với con người chỉ là quan hệ tiền trao cháo múc và tính toán vụ
lợi. Nếu như tinh thần thực dụng rất cần cho chế độ hạch toán lại biến thành chủ
nghĩa thực dụng nhấn chìm trong sự tính toán lạnh lùng mọi tình cảm vô tư và chân
thật của con người thì đó là một điều xấu không lường. Về mặt này tập truyện
Nguyễn Huy Thiệp có ý nghĩa cảnh tỉnh sâu xa .
Có một thời văn học của ta đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp, những con
người thuộc về khối cộng đồng. Những con người cộng đồng này phổ biến lại
những điều hay, điều tốt, những nét xấu và dở nếu có chăng chỉ là ngẫu nhiên và

17
nhất thời. Do đó Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc không được người ta chấp nhận,
bởi vậy là phỉ báng là sỉ nhục nhân vật, con người lịch sử bởi họ hụt hẫng quá
không quen cách nhìn nhân vật sử thi của họ. Nhưng họ biết rằng cuộc sống đây
không chỉ là màu hồng mà nó còn cực kỳ phức tạp, có ánh sáng, có cả bóng tối có
cả những thứ tả ngụy ma quái khi ấy con người là ai cũng phải đi từ cuộc sống trần
tục nhất “ Ngƣời” mà bước ra thôi họ có đủ “hỷ, nộ, ái,ố”, của cuộc đời đó chính
là điều Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho độc giả cách nhìn mới về con người.

huyền thoại: “Ở Hua Tát, những chuyện cổ tích nhƣ những bông hoa dại màu vàng
nhạt, bé nhƣ khuy áo điểm đâu đó quanh rào trong các ngõ nhỏ. Đàn ông ngậm
hoa này trong miệng uống rƣợu thì không bao giờ say. Nó cũng giống nhƣ những
viên đá cuội trắng, có ngân đỏ, mảnh nhƣ sợi chỉ nằm kín đáo dƣới lòng suối. Phụ
nữ thích những viên sỏi này. Họ nhặt nó về ủ trong áo nót đủ một trăm ngày. Khi
làm đệm cho chồng, họ giấu viên sỏi ấy vào trong . Có lời nguyền rằng, ngƣời
chồng nằm trên đệm ấy sẽ không mơ tƣởng đến ngƣời phụ nữ khác” [18, 275].
Những câu chuyện tác giả kể chứa đầy huyền thoại, bí ẩn, song chính nó lại
“nói nhiều đến đau khổ của con ngƣời” vì vậy nó làm nảy nở trong chúng ta sự
sáng suốt của đạo đức, lòng cao thượng và tình người tha thiết. Những con người
ấy hôm nay tuy không còn nữa, nhưng linh hồn của họ “vẫn bay thấp thoáng trên
cac khau cút nhà sàn” vẫn thì thầm trong gió về cuộc đời mình và về một thời quá
khứ xa xưa của dân bản Hua Tát. Trong mười truyện thì ba chuyện kết thúc có hậu
con bảy truyện kết thúc trong bi kịch và tuyệt vọng. Cuộc sống dân bản Hua Tát có
nhiều thăng trầm, với nhiều trạng thái, hoàn cảnh khác nhau. Có những lúc cuộc
sống ấy bị đe doạ bởi nạn dịch, thiên tai như nạn sâu đen, dịch tả, động rừng, hạn
hán Song có lúc cuộc sống ấy lại đầy thú vị, với những nét văn hoá mang đậm
bản sắc riêng mà không phải vùng miền nào cũng có: tiệc xoè, lễ kén rể, lễ cưới
Một đặc điểm khác cũng cần chú ý trong tác phẩm này là nghệ thuật xây dụng
nhân vật. Các nhân vật luôn được thử thách trong những hoàn cảnh đặc biệt để tự
bộc lộ mình. Trước những hoàn cảnh đó nhân vật thường có hai cách ứng xử: hoặc
cố gắng chinh phục vượt qua thử thách, cố gắng đạt mục đích của mình. Như chàng
Khó trong Trái tim hổ cũng đi săn nhưng không phải để lấy bùa phép may mắn mà
để lấy thuốc chữa cho Pùa; lão thợ săn trong Con thú lớn nhất suốt đời lão chỉ săn
được những con chim, con thú bình thường chưa bao giờ lão săn được con thú ba

19
bốn tạ thịt và lão rất khổ tâm, dặt vặt về điều đó…; Ông Pành trong Đất Quên
muốn chặt được cây lim to nhất trên đỉnh Phu Luông để chứng tỏ tình yêu say đắm
với Muôn. Trên con đường chinh phục khát vọng đó, các nhân vật đều đạt được

nhớ trong ông” - mảnh đất và con người nơi đây đã để lại những ấn tượng sâu sắc
khó phai trong tâm tưởng tác giả. Đặc biệt Tây Bắc, đã khơi nguồn cảm hứng bất
tận đối với văn nhân. Nhiều tác phẩm viết về đề tài Tây Bắc của Nguyễn Huy
Thiệp đã tạo được tiếng vang lớn trên văn đàn, được độc giả, giới lí luận, phê bình
quan tâm đánh giá nhiều chiều. Những ngọn gió Hua Tát là một trong những truyện
ngắn tiêu biểu và xuất sắc của Nguyễn Huy Thiệp viết về Tây Bắc.

Trích đoạn Nghệ thuật miêu tả nhân vật Miêu tả ngoại hình nhân vật Miêu tả nhân vật qua hành động, việc làm Miêu tả nhân vật qua những mâu thuẫn, xung đột
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status