1
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TIỀN GIANG
Chuyên đề :
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI
TRONG HƯƠNG RỪNG CÀ MAU (TẬP 1)
GIÁO VIÊN: LÊ THỊ HỒNG VÂN
TỔ NGỮ VĂN
2
MỤC LỤC
1. Thiên nhiên Nam Bộ tồn tại qua hai mặt đối lập nhau trong cuộc sống con người… 1
1.1. Thiên nhiên hoang dã, dữ dội 1
1.2. Thiên nhiên gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người………… 6
2. Hình ảnh con người Nam Bộ trong Hương rừng Cà Mau (tập 1) 9
2.1. Con người Nam Bộ trong mối quan hệ với thiên nhiên 9
2.2. Con người Nam Bộ trong mối quan hệ với quê hương, đất nước 11
2.3. Con người Nam Bộ trong mối quan hệ với con người 14
3. Kết luận 16
Tài liệu tham khảo 17
3
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI
TRONG HƯƠNG RỪNG CÀ MAU (TẬP 1)
“Nhắn ai đi về miền đất phương Nam
Trời xanh mây trắng soi dòng Cửu Long giang
Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh
Tiếng rừng đước đong đưa, nhớ người xưa từng ở nơi này…”
(Bài ca đất phương Nam, Lê Giang-Lưu Nhất Vũ)
“Đất phương Nam” – ba từ ngữ giản dị nhưng lại gợi lên trong lòng người, nhất
là những người con xứ sở này những tình cảm yêu thương tha thiết, tự hào mãnh liệt
về vùng đất quê hương. Trái tim ta càng không ngừng run lên vui sướng khi đọc được
quang cảnh buồn bã làm sao! Thỉnh thoảng, có người bảo rằng: giữa đêm khuya nghe
tiếng cọp rống…” Sự hoang sơ, tiêu điều ấy dần dần đã không còn nữa bởi dấu chân
người đi khai hoang mở đất. Nhưng trong tư tưởng nhiều người, Cà Mau - Rạch Giá
vẫn là vùng đất “kì quái, hiểm nguy”. Đó là lí do bà Cả trong truyện Cô Út về rừng
nhất định không chịu gả con Út cho cậu Quỳnh. Bà lần lượt viện ra hàng loạt những
“dẫn chứng” để khẳng định ý kiến của mình:
“Tôi ngại quá. Mình có mụn con gái. Gả đi xa xôi không nói làm chi. Ngặt xứ
đó kì quái, hiểm nguy. Nội cái tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm…”;
“…Ông không nghe người ta hát sao?
Xứ đâu như xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh.”;
“…Nè, tôi nghe nói …phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống. Cổ xuống
bến làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua. Dè đâu chừng dọn cơm ra,
cha mẹ chồng gắp lên thấy quả tang một con đỉa đeo trong khứa cá. Cô dâu nọ bị đuổi
vì tội… nấu canh chua bằng đỉa. Oan ức quá. Xứ đỉa nhiều, ai đâu dè trước. Tôi sợ
con Út nhà mình phải bị đuổi trở về mà mang nhục với xóm giềng.”;
“Gả con về rừng khổ lắm. Xưa nay người ta hát
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí rợ, dưa hường nấu canh
Đằng này mình gả con về rừng… Bao nhiêu người bị tai nạn rồi đó.”;
“…Xuống miệt Cạnh Đền, muỗi ăn thịt nó. Nó bỏ thây ở dưới, hai ba năm chưa
chắc về thăm mình một lần.”
5
Những lí lẽ của người mẹ thương con, không muốn xa con, sợ con gặp cực khổ,
hiểm nguy không phải không đáng lưu tâm. Có những lí do đúng nhưng cũng có
những lời đồn thổi về xứ Cạnh Đền. Nhưng điều đó lại thể hiện được một điều: trong
tâm thức người dân Việt Nam nói chung và dân Nam Bộ nói riêng nghĩ về vùng Cà
Mau - Rạch Giá là một nơi vô cùng xa xôi, hiểm nguy.
Những lời đồn đại, truyền miệng về sự hoang sơ, hiểm nguy của thiên nhiên xứ
Cà Mau - Rạch Giá không phải là không có căn cứ. Lần lượt đọc những truyện còn lại
mùng…nói chuyện. Ít ai đi đâu…”
(Cô Út về rừng)
Chẳng những muỗi, vắt nhiều vô số, khí hậu khắc nghiệt mà còn có rất nhiều
thú dữ (cọp, sấu, heo rừng), rắn độc luôn đe dọa mạng sống con người.
Buổi đầu đi khai hoang mở đất, người dân Nam Bộ gặp nguy hiểm nhiều nhất là
cá sấu. Không biết bao nhiêu người đã làm mồi cho cá sấu. Phương tiện giao thông
duy nhất lúc bấy giờ là đường thủy, người dân sinh sống chủ yếu bằng các nghề liên
quan đến sông nước như giăng câu, chèo đò, buôn bán trên sông, chặt - chở củi,v.v…
Nhưng dưới lòng sông lặng lờ tưởng chừng rất hiền hòa, bình yên luôn ẩn dấu một sự
nguy hiểm tột cùng: cá sấu. Cá sấu cắp người rửa chén, giặt đồ trên bờ sông. “Hôm
qua, sấu nổi lên lần nữa. Cô gái nọ ngồi rửa chén dưới bến, bị sấu táp, rinh luôn cái
cầu thang. Hồi lâu, sấu nhả ra, cô nọ tỉnh trí lội vào bờ” (Sông Gành Hào). Gặp
xuồng thì nó quẫy đuôi cho chìm xuồng để bắt người: “Hôm kia nó đập đuôi nhận
chiếc xuồng trên đó có hai mẹ con. Mẹ mất xác, đứa con gái bị táp cụt chân” (Sông
Gành Hào). Thậm chí, đám cưới còn bị sấu quẫy đuôi chìm ghe ăn mất cô dâu. Nỗi ai
oán, đau đớn, căm phẫn của người dân bị sấu ăn mất người thân không dứt. Vì thế,
không phải ngẫu nhiên mà có nghề câu sấu, bắt sấu ở vùng đất mới này.
Sự nguy hiểm của sấu, cọp luôn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày, cả những
lúc người dân sinh hoạt giải trí. Ở nơi “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, người
dân muốn xem hát bội chỉ còn cách: “…cất một cái nhà sàn ở giữa sông, theo kiểu ba
căn hai chái. Ba căn giữa dùng làm sân khấu, hai chái dùng để đào kép ăn ở nấu cơm.
[…] Chung quanh sân khấu nọ, mình xốc cừ làm vòng thành, gốc cừ này khít gốc kia
chừng một gang tay. Ai muốn coi cứ việc bơi xuồng vô vòng rào nọ. Xong xuôi đóng
cửa lại. Cọp phải ngồi bơ vơ trên rạch, sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng.” (Hát bội
giữa rừng)
Cuộc sống luôn bị rình rập, tính mạng con người trước sự đe dọa của thú dữ
nhỏ nhoi như rau cỏ ven đường. Đã có biết bao nhiêu người đã chết oan uổng bởi sấu,
cọp, heo rừng,… Lời hát cầu hồn giải oan cho bao nhiêu người xấu số trong cuộc khai
7
hoang mở đất của ông Năm Hên (Bắt sấu rừng U Minh Hạ) được miêu tả như tiếng
giết người, nạn nhơn dầu lội giỏi, vượt năm bảy ngàn thước cũng không tìm được một
8
căn nhà sàn, một ngọn tre mà nương tựa” (Một cuộc biển dâu). Đau đớn hơn là cảnh
người chẳng may chết vào mùa nước lũ ở vùng này, không cách nào khác phải chọn
một trong hai cách chôn: “một là xóc cây tréo ở giữa đồng rồi treo trên mặt nước, chờ
khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất” hoặc “bỏ xác lại rồi dằn cây dằn đá mà neo
dưới đáy ruộng” (Một cuộc biển dâu). Đối với thằng Kìm, đó là nỗi đau đớn xé lòng:
“Đôi mắt thằng Kìm mở rộng, trừng trừng. Cả mặt nước giờ đây biểu hiện như con ác
thú khổng lồ há miệng ra nuốt trọn thân xác cha nó rồi ngậm miệng lại, giận dữ vì
chưa no” (Một cuộc biển dâu). Còn đối với người dân sinh sống, trồng trọt trên vùng
đất này như vợ chồng ông Hai Tích thì khi tới mùa nước giựt, họ đều chứng kiến:
“Đất ruộng này rải rác, lũ khũ…xương người ta với xương trâu, thứ trâu len đi xa bị
bịnh mà chết dọc đường. Tới mùa cày ruộng, năm nào cũng vậy, tôi gặp xương đó
hoài. […] Thì cày đất lấp lại, cho lúa sạ mọc lên”.
Sự hoang dã, dữ dội của vùng đất Nam Bộ còn được thể hiện qua cách gọi tên
đất, tên làng như Đầm Sấu, Lung Sấu, Bàu Sấu, rừng U Minh, Cà Bây Ngọp, Cái
Nước, Cái Răng, Cái Vồn, Cổ Tron, Gò Quao, Cù Lao Dung, Lung Trầm, Xẻo Bần,
Xẻo Rô, xóm Thuồng Luồng,… Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ngày xưa đi mở
đất lại đặt ra những tên đất, tên làng như vậy. Mỗi cái tên đều gắn với đặc điểm tự
nhiên của vùng đất đó. Điều đó càng làm sinh động thêm sự hoang sơ nhưng cũng đầy
nguy hiểm của thiên nhiên vùng đất mới.
Tóm lại, sự hoang dã, dữ dội của thiên nhiên là một đặc điểm nổi bật của vùng
đất đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là miệt Cà Mau - Rạch Giá thời ông cha mới đi
khai hoang mở đất. Tuy nhiên, để con người có thể tồn tại và phát triển đến ngày nay,
thiên nhiên còn mang một đặc điểm đối lập với sự hoang dã, dữ dội là sự gần gũi, gắn
bó với cuộc sống của con người.
1.2. Thiên nhiên gần gũi, gắn bó với cuộc sống con người
“Trời sinh voi sinh cỏ” là câu thường được người dân Nam Bộ nhắc đến. Cơ sở
để người xưa truyền miệng nhau câu nói ấy là vì thiên nhiên với lượng sản vật phong
phú sẵn có là nguồn cung cấp lương thực cho con người. Chẳng những thế, thiên nhiên
dượng Hai bác vật thì cũng không cần phải tìm nguồn nguyên liệu ở đâu xa xôi:
“Mình cần dùng có hai món: dầu dừa với nước tro. Dầu dừa đã sẵn sàng: ra Hòn Tre
mua dừa khô về thắng lại. Nước tro thì nào là tro than đước, tro bẹ dừa, tro cây mắm.
Nhứt là cây mắm, mọc đầy bãi biển, tro nó mặn hơn hết và rẻ vốn hơn hết” (Bác vật
xà bông). Nguồn thiên nhiên phong phú ở vùng đất mới cũng là nguồn sống của người
dân.
10
Thiên nhiên gần gũi, gắn bó và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống
con người. Ông Từ Thông sống một mình ở hòn Cổ Tron không biết bao nhiêu năm
nhưng vẫn sống bình yên, hòa mình vào cuộc sống của thiên nhiên hòn Cổ Tron:
“Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mấy gốc săn đá cổ
thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có
những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự
nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập
chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mí nước…
Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm! Ông Từ Thông ra sau rẫy, đào lên củ
khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch, ông chậm rãi ăn buổi chều,
thỉnh thoảng rứt từ miếng khoai, thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi
con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển, loại sò, loại ốc, loại nhum đang hé miệng,
le lưỡi, bò chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nổi gân trắng.
Hoàng hôn tràn tới chính là lúc cảnh vật dưới biển ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp
lánh như gấm. Đêm về, trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian!
Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá
hường. và muôn vì sao trên dải Ngân Hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô
trắng bạc.” (Hòn Cổ Tron)
Thiên nhiên chẳng những gần gũi, gắn bó với đời sống của con người mà còn là
nhân tố góp phần bồi đắp, nuôi dưỡng tâm hồn con người thêm đẹp hơn, thêm yêu quê
hương, xứ sở.
Chú Tư Đinh (Mùa len trâu) khi nhớ lại nghề chăn trâu lúc còn nhỏ, lòng
không khỏi bồi hồi nhớ những sự gian nan, hiểm nguy đã trải qua đồng thời hứng khởi
Vẻ đẹp thiên nhiên của vùng Nam Bộ có thể là cảnh rừng, có thể là cảnh đàn
trâu đang ăn cỏ, có thể là cánh đồng lúa chín vàng thẳng cánh cò bay… Trong tâm hồn
mỗi người dân Nam Bộ sẽ có một cảnh đẹp của riêng mình nhưng ẩn sau bức tranh
thiên nhiên đẹp đẽ ấy là tình yêu quê hương, đất nước sâu đậm của người dân đi khai
hoang mở đất.
2. Hình ảnh con người Nam Bộ trong Hương rừng Cà Mau (tập 1)
Con người Nam Bộ được miêu tả trong Hương rừng Cà Mau (tập 1) sống vào
khoảng thời gian đầu thế kỉ XX: thời khẩn hoang rừng U Minh và thực dân Pháp xâm
lược nước ta. Nhân vật chính của tập truyện chính là những người dân nghèo khổ. Họ
vừa phải đối mặt với sự hoang sơ, khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa phải chịu đựng
12
chính sách cai trị, bóc lột dã man của thực dân Pháp. Thế nhưng, chính hoàn cảnh sống
khắc nghiệt ấy đã tạo nên những đặc điểm của con người Nam Bộ.
2.1. Con người Nam Bộ trong mối quan hệ với thiên nhiên
Trong mối quan hệ với thiên nhiên, con người luôn có sự ứng xử phù hợp, tùy
vào hoàn cảnh cụ thể.
Khi gặp môi trường tự nhiên khắc nghiệt, hoang dã, người dân Nam Bộ luôn
thể hiện bản lĩnh của mình: chinh phục sự hoang dã, khó khăn; lợi dụng những điều
kiện thuận lợi của thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống.
Đối với những khó khăn trong cuộc sống, người dân Nam Bộ luôn tìm cách
khắc phục. Nơi rừng thiêng nước độc, muỗi mồng nhiều, người dân luôn có nhiều biện
pháp để tránh muỗi, chống muỗi: dùng bếp un muỗi, ngủ trong nóp khi đi rừng, sinh
hoạt trong mùng khi trời tối (Tình nghĩa giáo khoa thư, Cô Út về rừng, Mùa len
trâu, Một cuộc biển dâu). Đối với nạn thú dữ, rắn độc, người dân Nam Bộ luôn có
những phương cách bảo vệ, chống trả, chinh phục. Điều này chẳng những thể hiện sự
dũng cảm, gan dạ mà còn chứng tỏ sự thông minh, tài trí của người dân Nam Bộ.
Trong truyện Bắt sấu rừng U Minh Hạ, nhân vật Năm Hên chỉ với tay không
đã bắt sống trọn bầy bốn mươi lăm con sấu. Không dùng sức mạnh cơ bắp, cũng chẳng
phải thầy pháp, Năm Hên đã dùng mưu kế bắt trọn đàn sấu vì đã tìm hiểu rất kĩ đặc
tính của sấu khi ở trên rừng. Ông làm nghề bắt sấu không phải để kiếm tiền mà vì
khai thác tự nhiên như: đốn củi, ăn ong, giăng câu, bắt rùa, rắn…
Khi gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi, người dân Nam Bộ luôn sống hòa mình
với thiên nhiên, gắn bó, gần gũi với thiên nhiên như những người bạn. Ông Từ Thông
sống mấy chục năm một mình ở hòn Cổ Tron, sống hòa với thiên nhiên. Với ông, thiên
nhiên là người bạn thân thiết nhất trong cuộc đời. Trong cuộc sống lao động hằng
ngày, những người dân chân đất luôn tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên. Sống bằng
nghề đốn củi, ăn ong thì gắn bó với rừng tràm, say sưa với hương rừng ngất ngây.
Sống bằng nghề len trâu thì từng trải từ những khu rừng tràm ngập nước bị trâu dẫm
đạp đến những chân núi đầy cỏ non thơm ngát, thuần khiết… Sống bằng nghề giăng
câu, ông Vân Tiên hiểu hơn ai hết khi nào cá về sông, nơi nào cá sống, nơi nào cá
không đi qua dưới dòng nước yên ả…
Thiên nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long thời khai hoang mở đất, nhất là ở
miệt Rạch Giá – Cà Mau luôn là một nguồn lợi khổng lồ nhưng cũng là một sự đe dọa
khủng khiếp nhất cho mạng sống của con người bởi sự phong phú, đa dạng và sự
hoang dã, dữ dội của nó. Chính vì thế, để có thể tồn tại và phát triển ở vùng đất mới,
con người Nam bộ đã thể hiện sự thông minh, dũng cảm khi đối mặt với sự khắc
14
nghiệt của thiên nhiên. Và họ cũng luôn gắn bó, gần gũi với những điều kiện thuận lợi
của thiên nhiên nơi đây.
2.2. Con người Nam Bộ trong mối quan hệ với quê hương, đất nước
Thời gian được Sơn Nam đề cập trong Hương rừng Cà Mau (tập 1) là giai
đoạn người dân Nam Bộ đi khai hoang và thực dân Pháp xâm lược nước ta. Vì thế,
trong mối quan hệ với quê hương, đất nước, con người Nam Bộ có những đặc điểm
chung nhưng cũng có những đặc điểm riêng do hoàn cảnh khách quan.
Đặc điểm chung không thay đổi dễ nhận thấy của người dân Nam Bộ trong mối
quan hệ với quê hương là tình cảm xóm giềng. Mối quan hệ làng xóm luôn được người
dân Nam Bộ coi trọng. Lí do dễ thấy nhất là do cuộc sống của người lưu dân từ xa đến
lập nghiệp. Anh em họ hàng không có. Nếu như tình cảm xóm giềng không tốt thì họ
khó có thể tồn tại trên vùng đất mới. Trong truyện ngắn Bác vật xà bông, người dân
Xẻo Bần có thể sinh sống bằng nghề làm xà bông đi bán khắp vùng lục tỉnh là do sự
nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ấm, mấy đám mây tang bay thấp là đà… Ông hổ
thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải.” Khi về đất
liền thăm bà con, ông Từ Thông phải buộc miệng “Buồn quá chú hương tuần à” khi
chứng kiến “…bà con mình nghèo hơn ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có.
Mình mẩy cũng bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời…”
Tình cảm yêu nước của Lục cụ Tăng Liêm và chú phó hương quản Hem trong
Chiếc ghe ngo không khỏi làm người đọc xúc động. Tham gia cuộc thi đua ghe ngo
“để ăn mừng một ngày lễ chẳng liên quan gì đến dân mình nghĩ cũng khó xử thật.
Không tham dự là chống lại với nhà nước Lang Sa, còn tham dự thì mất cả ý nghĩa
thiêng liêng”. Nhưng Lục cụ phải nghe theo lời chú phó hương quản: “Đây là chuyện
cực chẳng đã. […] Dầu muốn dầu không, mình cũng phải đua.” Đến khi ghe ngo của
nhà chùa giành chiến thắng và nhận phần thưởng danh dự của nhà nước Lang Sa là “lá
cờ tam sắc to tướng” thì chú phó hương quản và Lục cụ đều rất đau xót: “Gương mặt
chú lạnh như đồng, gượng chút gì buồn bã”; “Lục cụ không nói nửa tiếng, nuốt nước
miếng như cố nén chút gì tủi nhục, xót xa.”
Tuy không làm việc gì có ích để giúp để giúp dân, giúp nước trong lúc thực dân
Pháp xâm lược đất nước nhưng những tình cảm tủi nhục, xót xa, buồn bã của những
người dân Nam Bộ hiền lành, chất phác ấy không khỏi làm cho người đọc xúc động.
Chính những tình cảm ấy đã được lưu truyền, nuôi dưỡng để đến lớp con cháu sau này
bùng lên thành ngọn lửa đấu tranh kháng chiến chống giặc mạnh mẽ.
16
Sự căm phẫn sôi sục trước tội ác của giặc cũng là một biểu hiện lòng yêu nước
của người dân Nam Bộ trong Hương rừng Cà Mau (tập 1). Người đọc không khỏi
bàng hoàng khi nghe kể lại những cái chết oan ức của cả xóm Gò Mả Lạn trong truyện
Miễu bà Chúa Xứ. Vì thường đem chôn cất những xác chết của những nghĩa quân
Nguyễn Trung Trực và dân lương vô tội bị Tây xử bắn ở bờ Đìa Gừa mà trong một
đêm, cả xóm Gò Mả Lạn bị Tây bao vây, đốt nhà, bắn giết gần cả xóm. Ông Tư Đạt,
lúc bấy giờ chỉ là đứa bé chăn trâu, kể lại nghẹn ngào: “Người chết quá nhiều. Người
còn sống quá ít. Làm sao mà chôn? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi hầm chôn
một người. Sau cùng, cứ chôn chung một hầm, đủ già trẻ bé lớn. Khiêng nhiều chuyến
tính cách này “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Tinh thần cao đẹp ấy giống như kim
chỉ nam hành động, đối nhân xử thế của người Nam Bộ từ xưa đến nay.
Ông Năm Hên (Bắt sấu rừng U Minh Hạ), chú Tư Đức (Sông Gành Hào) ra
tay hào hiệp bắt sấu dữ hại người dân vô tội mà không cần đền ơn, trả ơn, không màng
danh lợi cho bản thân. Ông Năm Hên đã nói với bà con ở rạch Cái Tàu một cách
khẳng khái: “Tôi không có tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như
người khác thì họ nói là bùa phép để kiếm tiền. Nghề bắt sấu có thể làm giàu được
ngặt tôi không màng thứ phú quới đó. Nói thiệt với bà con: cha mẹ tôi sanh ra chỉ có
hai anh em tụi tui. Anh tôi xuống miêt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười năm về
trước. Sau được tin cho hay: Ảnh bị sấu ở Ngã ba Đình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù
cho anh”. Còn chú Tư Đức sau khi đã giết được con sấu hại người dưới sông Gành
Hào cũng đã thể hiện lòng nhân đức của mình: “…Vì đất vì nước chứ đâu phải vì danh
vì lợi. Sách có chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”.
Công việc của tôi đã làm tròn. Tôi ao ước hương chức làng mình cất một cái miễu lá,
thờ cái đầu con sấu nọ. Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết. Hễ giết
được rồi, mình nên thờ… […] Để tỏ rằng mình sợ nó nhưng cũng…không sợ nó. Phải
để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh. Tôi muốn làm
nghề khác ”. Khi gặp người hoạn nạn giữa đường, họ sẵn sàng giúp đỡ, cưu mang. Vợ
chồng ông Hai Tích, chú Tư Lập giúp đỡ cha con thằng Kìm hết mình khi họ gặp “một
cuộc biển dâu” dù không hề có họ hàng thân thích.
Cái tình, cái nghĩa của tình bạn tri âm tri kỉ dù chỉ gặp một lần trong đời giữa
thầy phái viên báo Chim Trời và anh Tư Có (Tình nghĩa giáo khoa thư) làm cho
người đọc không bao giờ quên. Tâm hồn họ cùng đồng điệu, háo hức khi nhắc lại
những bài học trong sách giáo khoa sơ học. Tình cảm ấy không dừng lại ở đó mà còn
là sự cảm thông sâu sắc hoàn cảnh nghèo khó của thầy phái viên đối với anh Tư Có.
Tuy anh Tư Có không nhiều chữ nghĩa nhưng luôn có tinh thần hiếu học, mến mộ
18
người tài. Ở vùng đất nghèo khổ “khỉ ho cò gáy”, chưa có trường học, anh luôn muốn
mở trường dạy học. Tình cảm bạn bè của họ không trải qua thời gian dài gắn bó nhưng
vẫn sâu đậm, luôn hướng về nhau dù có thể cả đời không thể gặp lại lần thứ hai: “Thầy