TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
----
----
LÊ XUÂN DỊ
TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM
(Luận văn TNĐH ngành Sp. Ngữ Văn Khóa: 2007-2011)
CBHD: NGUYỄN VĂN TƯ
Cần Thơ, 3/2011
A. PHẦN MỞ ĐẦU
TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA
NHÀ VĂN SƠN NAM
I. Lí do chọn đề tài
“U Minh, Rạch Giá, thị quá sơn trường,
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”
Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cuối cùng của cực Nam tổ quốc, tôi tự
hào về vùng đất Nam Bộ nói chung cũng như về Cà Mau nói riêng. Sông nước đã vỗ về,
tắm mát tâm hồn tôi ngay từ bé. Với những ký ức ngày thơ cứ ấp ủ trong lòng tôi không
nguôi. Và tôi muốn có cơ hội tìm hiểu sâu hơn nữa những giá trị vật chất, giá trị tinh
thần ở vùng đất được ví von như “ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm ” (Nguyễn Tuân)
II. Lịch sử vấn đề
Tính từ là một trong những từ loại quan trọng và có bề dày lịch sử về các công
trình nghiên cứu. Xin trích dẫn một số công trình nghiên cứu về từ loại này như sau:
Theo Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt- từ loại”, Nxb Đại học và trung
học chuyên nghiệp Hà Nội, năm 1986 đã khẳng định tính từ là từ loại quan trọng trong
thực từ tiếng Việt, sau danh từ và động từ. Tác giả trình bày cụ thể và rõ ràng về ý nghĩa,
vị trí, phân loại và khả năng kết hợp của từ loại tính từ. Ngoài ra, ông còn trình bày về
đoản ngữ. Tuy nhiên, tính từ chỉ màu sắc không được tác giả đề cập đến.
Khi đó, Hồ Lê trong “Cú pháp tiếng Việt”- Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm
1992, cho rằng tính từ chủ yếu ở khả năng kết hợp. Với Hồ Lê thì “Đặc điểm ngữ nghĩacú pháp của tính từ biểu thị phạm trù đặc trưng của sự vật và cách thức của hành động,
do đó có khả năng phối kết danh từ, động từ kèm theo những từ chỉ mức độ” [11,85]. Ở
đây, ông đi sâu nghiên cứu khả năng kết hợp của tính từ, đồng thời, qua đó ông chỉ ra
ranh giới giữa động từ và tính từ. Cũng như Đinh Văn Đức, Hồ Lê không đề cập đến tính
từ chỉ màu sắc.
Còn Bùi Tất Tươm trong “Giáo trình tiếng Việt”- Nxb Giáo dục, năm 1995, đã
khẳng định vị trí của từ loại tính từ. Với khái niệm “Tính từ là từ loại cơ bản. Tính từ có
vị trí quan trọng sau danh từ và động từ” [39,139]. Ông cũng nêu lên khá đầy đủ về ý
nghĩa khái quát, đặc điểm cú pháp và các tiểu loại của tính từ. Về tính từ chỉ màu sắc
không thấy tác giả nói đến. Ông chỉ đề cập đến khía cạnh của lớp từ này như một tiểu loại
của tính từ trong phần phân loại.
Theo Bùi Đức Tịnh trong “Văn phạm Việt Nam ” , Nxb Văn hóa, năm 1996, đã
đưa ra các thể thức cấu tạo của tính từ. Theo ông, “vị trí của tính từ Việt Nam là đứng
đằng sau danh từ”[35,251]. Đó là “vị trí tự nhiên, còn trường hợp nghịch đảo để nhấn
mạnh ý nghĩa của tính từ ”[35,253]. Tính từ có thể có bổ túc ngữ và dùng theo các thời
hiện tại, quá khứ hoặc vị lai.
Với Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt”, Nxb Giáo dục,
năm 1997, đã nêu lên các đặc điểm ngữ pháp của tính từ. Đó là “tính từ có thể trực tiếp
làm vị ngữ, không cần hệ từ “là” làm môi giới” [34, 260]. Sau đó là việc “tính từ không
Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong
“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, năm 2008, quan niệm “tính từ có ý
nghĩa khái quát chỉ tính chất, có thể đứng sau từ rất và thường làm vị ngữ hay định ngữ
trong câu” [3,272]. Các tác giả có nêu cụ thể những đặc điểm của tính từ, khả năng kết
hợp và việc phân chia các lớp tính từ con. Song, về tính từ chỉ màu sắc thì không được đề
cập đến.
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu của một số tác giả đã được đề cập,
ta thấy tính từ Tiếng Việt đã nghiên cứu sâu sắc và toàn diện. Tuy nhiên, lớp tính từ chỉ
màu sắc chưa cụ thể, vẫn còn nằm ọp ẹp với các khái niệm chung chung, chưa được chi
tiết hóa. Nó là một tiểu loại trong tính từ. Có lẽ vì lí do đó mà chưa có nhiều công trình
nghiên cứu nào chỉ đặc trưng của lớp từ này. Từ đó mà khái niệm và cách phân loại chưa
được đề cập một cách cụ thể và toàn diện.
Đối với nhà văn Sơn Nam, gần đây có một số công trình nghiên cứu về sự
nghiệp sáng tác cũng như các biện pháp nghệ thuật, thiên nhiên và con người vùng Nam
Bộ… Với sự nghiệp sáng tác lâu dài và dung lượng tác phẩm khá đồ sộ, luôn là đề tài
thu hút sự tò mò, yêu thích của độc giả có ý thức đối với nhà văn cả đời sống bằng cái
tâm với con người và thiên nhiên vùng đất Nam Bộ. Và vấn đề “tính từ chỉ màu sắc trong
một số tác phẩm của nhà văn Sơn Nam ” tôi nghĩ chưa có nhiều công trình nghiên cứu.
Với luận văn này, tôi hy vọng sẽ tạo thêm một nghiên cứu nhỏ, mới về một phương diện
góp phần thành công trong sáng tác của nhà văn Sơn Nam.
III. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tôi đi sâu vào việc nghiên cứu lớp tính từ chỉ màu sắc để góp phần
làm rõ hơn một phương diện trong từ loại tính từ, đồng thời, qua đó làm nổi bật một cách
cụ thể những chức năng, tác dụng, giá trị của lớp tính từ chỉ màu sắc thông qua một số tác
phẩm của nhà văn Sơn Nam. Từ đó, ta thấy được hiệu quả nghệ thuật , cũng như giá trị
thẩm mĩ của lớp từ này.
Khi tiến hành vào việc nghiên cứu đề tài, tôi có cơ hội học hỏi và tiếp nhận những
kinh nghiệm có ích cho vốn tri thức của bản thân về các lĩnh vực trong đời sống cũng như
tiếp nhận cũng có giới hạn trong khuôn khổ chuẩn về tính từ thì không nhiều. Sau đây là
một số quan niệm khác nhau về từ loại tính từ.
Theo Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cho rằng “Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc
trưng (đặc trưng của thực tế hay đặc trưng của quá trình là tính từ )” [1,101].
Còn Lê Biên thì lại quan niệm “tính từ là loại từ cơ bản như danh từ, động từ, là
một loại cần thiết miêu tả các đơn vị ngôn ngữ và làm phong phú khả năng diễn đạt ”
[2,165].
Trong khi đó, Đinh Văn Đức quan niệm “tính từ là từ loại chỉ ra đặc trưng của tất
cả những gì được biểu đạt bằng danh từ và động từ ” [6,157].
Đỗ Thị Kim Liên lại khẳng định “tính từ là những từ chỉ tính chất, màu sắc”
[10,55].
Còn Nguyễn Hữu Quỳnh đưa ra khái niệm “tính từ là từ chỉ tính chất, đặc trưng
của sự vật như : hình thể, màu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng” [32,158].
Trong khi đó, Bùi Tất Tươm định nghĩa “tính từ là từ loại chỉ tính chất của sự vật
của hoạt động và trạng thái ” [39,139].
Bùi Đức Tịnh cũng đưa ra khái niệm “tính từ là những tiếng mô tả trạng thái của
người, vật và sự vật, bằng ý nghĩa về tính cách của những người, vật và sự việc ấy ”
[35,246].
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến lại quan niệm
“tính từ có ý nghĩa chỉ tính chất”[3,272].
Trong khi đó, nhóm tác giả Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Thanh Lan cho rằng “tính từ là
từ loại có ý nghĩa chỉ tính chất, đặc trưng” [4,154].
Với nhiều khái niệm khác nhau về từ loại tính từ, ta thấy phần nào đã nêu lên đặc
trưng và ý nghĩa của từ loại này.
1.2. Khái niệm
Từ các khái niệm của nhiều tác giả đã nêu ở trên, ta rút ra một khái niệm chung
nhất về tính từ như sau:
“Tính từ là những từ chỉ tính chất, chỉ đặc trưng của sự vật như hình thể,
Tính từ là từ loại cơ bản, tính từ có vị trí quan trọng sau danh từ và động từ.
Tính từ tiếng Việt có những đặc diểm ngữ pháp rất giống với động từ, vì vậy có thể xếp
tính từ và động từ vào cùng một phạm trù từ loại là vị từ.
2.1. Chức năng cú pháp
Tính từ là từ loại thực từ, giống như danh từ và động từ, tính từ giữ các
chức năng cú pháp trong câu (thành phần chính và thành phần phụ). Trong đó, bản chất
ngữ pháp của tính từ đặc trưng bởi một chùm chức vụ cú pháp.
Xét về chức năng cú pháp, trong tiếng Việt, tính từ có hai chức năng chính:
- Chức năng định ngữ của tính từ:
Trong câu tính từ cũng làm vị ngữ như động từ. Song tính từ có một đặc điểm
nổi bật trong chức vụ cú pháp là khả năng làm thành tố hạn định cho cả danh từ (gọi là
định tố) và cho cả động từ (gọi là trạng tố).
+ Ý nghĩa ngữ pháp của tính từ biểu đạt các khái niệm thuộc phạm trù thực thể
là (danh từ);
+ Ý nghĩa ngữ pháp của trạng từ biểu đạt đặc trưng cho các khái niệm thuộc
phạm trù vận động (động từ).
VD: + Về định tố:
Cây non này.
+ Về trạng tố:
Chạy nhanh
Vừa có khả năng bổ nghĩa cho danh từ, vừa có khả năng bổ nghĩa cho động từ là đặc
điểm tiêu biểu của tính từ tiếng Việt.
- Chức năng vị ngữ của tính từ
Trong tiếng Việt và một vài ngôn ngữ đơn lập khác, tính từ gần với động từ ở chức
năng làm vị ngữ trong câu. Tính từ trong khi chỉ đặc trưng và không có chức năng ngữ
pháp riêng đã có quan hệ thông báo với chủ thể (cũng là một loại quan hệ đặc trưng)
giống như động từ. Tính từ tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ trước hết là yếu
tố chỉ thời – thể (đã, đang, sẽ, từng, chưa); kết quả, khả năng, tình thái…Đặc điểm này
cho phép tính từ tiếng Việt làm vị ngữ trực tiếp trong câu.
VD: Mới tháng trước cây cối còn đang xanh, mà nay đã vàng rực.
+ Tính từ có thể kết hợp với các phó từ: vẫn, còn, cứ…
VD: Cái bàn học còn tốt.
+ Tính từ có thể kết hợp với các phó từ: hãy, đừng, chớ…
VD:
“Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi”
(Hồ Xuân Hương)
- Các thành tố phụ chuyên dùng của tính từ:
Như đã đề cập trước đó, tính từ có khả năng kết hợp phổ biến hơn so với động từ,
bởi tính từ kết hợp với các phó từ chỉ mức độ: hơi, rất, cực kỳ, vô cùng… Các từ này chỉ
mức độ khác nhau của đặc trưng với những sắc thái khác nhau trong quá trình phát ngôn
(khẳng định, so sánh, nhấn mạnh) do đó chúng được dùng như những yếu tố tình thái
với logic là: mức độ đặc trưng được đánh giá theo đặc trưng của người nói- nghĩa là
trong phát ngôn có mối quan hệ giữa người nói và thực tại và đương nhiên mục đích
phát ngôn được xác định.
VD: Qúa xấu, hơi mệt, rất đẹp, vô cùng giàu, cực kỳ phong phú…
Nhìn chung, phần lớn tính từ đều kết hợp được với từ chỉ mức độ. Nhưng có
những tính từ ghép, mà tự thân nó đã chứa yếu tố mức độ cao tuyệt đối như: vô tận, già
cằn, đỏ lòm, trắng nhách…và những tính từ biểu thị đặc trưng bản chất của sự vật như:
đực, cái, trống, mái…không cần cũng không thể kết hợp với bất kỳ từ tình thái chỉ mức
độ nào.
Trong khi đó, với những tính từ ghép mà bản thân đã chứa đựng chỉ mức
độ: se sẻ, xa xa, hiu hiu…kết hợp được những từ tình thái chỉ mức độ thấp như: hơi, hơi
hơi…
Tuy nhiên, tính từ còn kết hợp với thành tố phụ là thực từ (phổ biến là danh
từ):
VD:
+ Đen như cột nhà cháy.
+ Thấp như vịt đội nón.
- Lớp từ chỉ đặc trưng về màu sắc: xanh, đỏ, vàng, tím, đen, trắng…
- Lớp từ đặc trưng mùi vị: chua, cay, mặn, ngọt, đắng, thơm, hôi…
- Lớp từ đặc trưng thuộc tính vật lý: cứng, mềm, dẻo, rắn, giòn, chắc…
- Lớp từ đặc trưng của âm thanh: ồn ào, im lìm, yên lặng…
- Lớp từ đặc trưng về trạng thái tâm lý: vui vẻ, buồn, chán, hạnh phúc, láu táu…
- Lớp từ đặc trưng về phẩm chất: hiền, đẹp, xấu, thông minh…
- Lớp từ đặc trưng về nhiệt độ: nóng, lạnh, ấm…
- Lớp từ đặc trưng về lượng: to, nhỏ, nặng,nhẹ, ít, nhiều, dài, ngắn, cao, thấp…
-Lớp từ đặc trưng về hình thể: thẳng, ngay,vuông, gầy, béo, tròn…
VD: Rõ ràng là biển xứ người trông thơ mộng, sạch sẽ với bãi cát trắng
hoặc vàng, nước biển xanh đậm không như phía vịnh Xiêm La toàn là phù sa màu vàng
sậm, màu nâu.
(Sơn Nam )
* Chú ý:
- Lớp từ này thường tạo cặp đối lập về nghĩa: buồn/ vui, mạnh/ yếu, đẹp/ xấu.
giàu/ nghèo…
- Lớp từ này xác định tính chất của sự vật nêu ở chủ thể, không phân biệt tính chất
bên ngoài hoặc bên trong của sự vật. ( Vì thế, ta có thể nói: Một câu đối đẹp, một ánh mắt
dịu dàng…)
3.2. Tính từ chỉ đặc trưng được đánh giá theo thang độ
Đây là những tính từ có đặc điểm là bản thân chúng đã hàm chứa ý nghĩa mức độ về đặc
trưng, tính chất (thường là ở mức tuyệt đối). Tính chất hoặc đặc trưng ấy không đặt vào
thế đối lập so sánh.
Vì tự thân chỉ tính chất sự vật nên chúng đã có ý nghĩa chỉ mức độ, do đó chúng không
kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ. Nếu có trường hợp sử dụng từ “rất” đi kèm như “rất
+ Làm định ngữ
VD: Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười.
(Sơn Nam )
+ Làm vị ngữ
VD : Mây trôi từng đợt, đỏ bầm.
(Sơn Nam )
+ Làm trung tâm của ngữ tính từ
VD : Con mèo đen thui ghê quá.
(Sơn Nam )
+ Tính từ chỉ màu sắc không kết hợp với động từ vì vậy chúng
không có chức năng bổ ngữ.
- Khả năng kết hợp:
Tính từ chỉ màu sắc mang đầy đủ đặc điểm về khả năng kết hợp của tính từ. (Đã
nêu trước đó)
Tính từ chỉ màu sắc không phân thành cặp đối lập.
3. Phân loại
Từ ý nghĩa và khả năng kết hợp, ta có thể chia tính từ chỉ màu sắc thành hai loại:
3.1. Tính từ chỉ màu sắc không được đánh giá theo thang độ
Lớp từ này gồm các tính từ: đen, đỏ, xanh, trắng, vàng, tím, hồng, xám, nâu…
Các từ này có khả năng kết hợp với các từ chỉ mức độ: hơi, quá, rất, lắm…
Ngoài ra, lớp từ này còn kết hợp với danh từ và những từ so sánh: như, hơn để tạo
thành cấu trúc so sánh.
VD:
Đen như nhọ nồi.
Trắng như tuyết.
3.2. Tính từ chỉ màu sắc được đánh giá theo thang độ
CHƯƠNG II: TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM
I. Đôi nét về nhà văn Sơn Nam
1. Cuộc đời
Sơn Nam là nhà văn, nhà báo Việt Nam. Sơn Nam (11/12/1926 –
13/8/2008), tên thật là Phạm Minh Tài. Nguyên quán làng Đông Thái, huyện An Biên,
tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang. Thuở nhỏ học tiểu học ở quê, học trung học ở Cần
Thơ. Sơn Nam tham gia cách mạng từ 1945, cùng nhân dân cướp chính quyền ở địa
phương. Lần lượt được cử làm Phó Bí thư Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc, Tỉnh ủy viên
Tỉnh ủy Rạch Giá, sau chuyển qua công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, về Phòng
Chính trị quân khu IX. Năm 1950, Sơn Nam được chuyển về Phòng Văn nghệ thuộc Ban
Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Chính những năm chống pháp đã giúp ông có điều kiện đi
và sống, tìm hiểu kĩ về thiên nhiên, lịch sử con người của đồng bằng sông Cửu Long, đặc
biệt là vùng Cà Mau- mảnh đất tận cùng của Tổ quốc. Ông viết nhiều trên báo Tiếng súng
kháng địch và tạp chí văn nghệ Lá lúa.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, cùng với các nhà văn khác như Lý
Văn Sâm, Dương Tử Giang, Lê Vĩnh Hòa…ông được phân công ở lại Sài Gòn, tiếp tục
hoạt động trên lĩnh vực báo chí và văn chương. Ông viết cho các báo Công lý, Ánh sáng,
Tiếng chuông, Lẽ sống…Đặc biệt trên tuần báo Nhân loại- một tờ báo tập hợp nhiều cây
bút yêu nước cách mạng, được sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn- gần như số nào cũng có
bài của Sơn Nam. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm (1901- 1963) công bố luật 10/59,
tăng cường khủng bố phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, thống nhất
đất nước, cũng như nhiều văn nghệ sĩ cách mạng khác, Sơn Nam bị bắt và bị giam ở nhà
tù Phú Lợi gần 2 năm (1960- 1961). Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn ở Sài Gòn, và
rộng ra về Nam Bộ và được coi là một nhà Nam Bộ học có uy tín.
2. Sự nghiệp sáng tác
Các tác phẩm chính của Sơn Nam:
- Nói về miền Nam (1967)
Trẻ (Tp. Hồ Chí Minh) tuyển lựa, in thêm Hương rừng Cà Mau- tập 2 (26 truyện) và
Hương rừng Cà Mau- tập 3 (21 truyện).
- Hai tác phẩm đạt giải thưởng Văn nghệ Cửu Long của Uỷ ban kháng chiến
hành chính Nam Bộ:
+Truyện ngắn Bên rừng cù lao Dung (1951-1952)
+ Ký sự Tây đầu đỏ (1953-1954). [41,1565]
II. Tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Sơn Nam
1. Thống kê tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Sơn Nam
( xem bảng phụ lục)
2. Phân loại tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của nhà văn Sơn Nam
Trong 19 tác phẩm (biên khảo, hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn, tập truyện, bút ký)
nhà văn Sơn Nam đã sử dụng tính từ chỉ màu sắc 830 lần. Cụ thể như sau:
STT
Tính từ
Không được đánh giá theo thang độ
màu sắc Số lần sử dụng
Tỉ lệ (%)
Được đánh giá theo thang độ
Số lần sử dụng
Tỉ lệ (%)
11.1
72
8.7
4
Đỏ
85
10.2
46
5.5
5
Vàng
73
8.8
41
4.9
0.1
0
0
9
Nâu
0
0
1
0.1
Tổng
557
67.0
273
33.0
Từ bảng phân loại trên đây, ta nhận thấy:
“Màu trắng thuộc loại màu sáng, phân biệt với những cái cùng loại mà
sẫm màu hoặc có màu khác”[41,1027]. Và là một trong tốp ba “màu vô sắc”[10,12] sau
màu đen và màu xám.
Theo quan niệm của phương Tây, màu trắng thể hiện sự trinh trắng, tinh
khiết, với sắc thái ý nghĩa là đẹp, nhưng người phương Đông lại cho rằng đó là màu tang
tóc, chia ly, đau buồn. Màu trắng góp phần thành công không nhỏ trong các tác phẩm của
Sơn Nam ở nhiều tầng ý nghĩa biểu đạt.
Đây là màu được nhà văn sử dụng nhiều nhất trong các tác phẩm của ông ở
lớp tính từ chỉ màu sắc không xác định thang độ, song đến lớp tính từ chỉ màu sắc xác
định theo thang độ lại ít hơn các màu đen, xanh, đỏ, vàng. Màu trắng được sử dụng để
miêu tả trang phục, màu da, tóc, con mắt, răng, bàn tay… Miêu tả cách ăn vận của người
dân, tác giả đã điểm lên đôi nét. “Đi chân đất, áo bà ba trắng, quần đen”[22,95]. Đây là
màu được xem như điểm nhấn, quen thuộc đấy, bình dị đấy nhưng không thiếu phần
trang nhã, lịch sự của cậu học trò từ trường huyện lên tỉnh thành ăn học. Trông vào mới
thấy phong thái đầy vẻ thư sinh của Sơn Nam lúc bấy giờ.
Khi sử dụng màu trắng, ngoài việc miêu tả trang phục của nhân vật, nhà
văn còn vận dụng gam màu sáng này vào việc miêu tả sự vật, hiện tượng như cơm, cháo,
giấy, đĩa, cờ, bức ảnh, pho tượng, bông, rượu, cát, tàu, lau sậy… Bức tranh thiên nhiên
lúc này trở nên dịu nhẹ và tinh khôi vô cùng. Trong tác phẩm của nhà văn, ta không quên
món ăn rất dân dã “cháo trắng”, được nói nhiều ở “Hồi ký Sơn Nam”. Dường như khi
tuổi đã cao, người ta thường nghiệm lại chuỗi ngày đau khổ đã qua để thấy sao mà lúc ấy
mình khổ đến như thế. Những năm cái đói, miếng ăn được xem là hiếm hoi, song nó
không làm giảm tình thân ái giữa những người bạn nghèo cùng chí hướng. “Về nhà anh
bạn, ăn chút cháo trắng với cá kho, tâm trí tôi như để ở đâu đâu ”[22,254]. Vì gắn bó
nhau trong cái khổ nên dù đã bao năm trôi qua nhà văn vẫn đinh ninh món ăn ấy còn ở
bên mình, nó như cái khổ chung của những học sinh nghèo sống xa nhà, nhưng đó là món
ngon, tinh túy nhất của thiên nhiên mang lại, không làm con người ta ngấy lên vì chất pha
tạp. Muốn quay lại để thưởng thức món ăn thiếu gạo ấy, tôi nghĩ đó cũng là cái thú hay.
đến…
Màu trắng trong các tác phẩm Sơn Nam là màu đẹp, thơ mộng và dịu nhẹ.
Song, đó còn là màu tượng trưng cho sự hy sinh trọn vẹn. “Họ mặc quần áo trắng để
tượng trưng cho sự trong trắng, sự hy sinh trọn vẹn”[16,244]. Hình ảnh và việc làm của
những chiến sĩ Nhật, khi họ gia nhập đội Thần Phong. Tuy là kẻ thù của dân tộc nhưng
Sơn Nam có ý muốn nói đến trách nhiệm và ý thức cao độ của những con người ra đi và
biết mình sẽ tử vì trận. Ở họ có cái đáng để chiến sĩ ta bắt chước lắm chứ. Bởi trong một
cuộc chiến, vũ khí không phải là câu trả lời chính để quyết định thắng lợi mà nó còn phụ
thuộc rất nhiều ở tinh thần quả cảm của người cầm khí giới.
Màu trắng còn nói lên tính sang cả của kẻ bề trên, của người ăn trắng mặc
trơn… Song, màu trắng trong tác phẩm Sơn Nam vẫn thể hiện được sự tôn kính, nghiêm
nghị. “Nữ sĩ này mượn cây mai trắng để nói lên lòng yêu nước”[25,220]. Bạch mai trở
thành vật linh thiêng trong tiềm thức của người Việt, nhất là với người nữ sĩ này. Nữ sĩ
muốn bày tỏ lòng yêu nước của mình thông qua hình sắc của bạch mai. Hoặc “Để tang
màu trắng, với nhà sư tụng kinh”[25,228] cũng là một sự kính trọng của mọi người đối
với người quá cố, nhất là người theo đạo Phật.
Nhắc tới màu trắng, ta không quên khói trắng đã được nhà văn đề cập ở tác
phẩm của mình. Đây là hình ảnh quen thuộc. Nó gợi ta nhớ về vùng quê bình yên, về gia
đình ấm áp. Nếu khói trắng thường gợi người ta nhớ đến buổi cơm chiều trong tác phẩm
Lê Vĩnh Hòa thì với Sơn Nam, đó lại là hình ảnh gợi ta nhớ việc lấy ong mật ở xứ U
Minh. “Lúc bắt ổ có thấy gì đâu, chỉ thấy khói trắng, ong kêu điếc tai”[28,11]. Nói đến
nghề ăn ong là cả một nghệ thuật nguy hiểm, nhưng đã sống vì nghề ấy thì việc mạo hiểm
trèo cây cao, làm kèo gác và nhất là phải đối diện với con đàn cháu đống của chúng mới
thực sự là cả vấn đề. Người lấy mật ong phải bịt kín người mình trong chiếc bao bố, chỉ
khoét hai lỗ nhỏ ở phía hai con mắt mà thôi, vì thế nên không nhìn rõ những diễn biến
xung quanh mình khi tới tổ ong, thêm khói trắng đang tạo lớp sương mù để tránh sự tấn
công thô bạo và đánh hội đồng của lũ ong nên người lấy ong chỉ nghe vo ve bên tai là
thế.
được nhân dân ta trước tinh thần cảnh giác bọn mật thám cao độ. Qua đó, nhà văn muốn
đề cao lòng yêu nước và ý thức chống giặc của người dân. Tuy nhiên, Sơn Nam còn đề
cập đến trang phục dành cho các chức sự khi có việc trọng đại như: hầu quan tỉnh, thắp
nhang ở các nơi thờ thần thánh và đó còn là bộ lễ phục của các đạo tỳ. Tất cả loại trang
phục ấy đều là màu đen. Như vậy, màu đen vừa thể hiện sự tôn nghiêm song nó cũng là
niềm đau xót, tiếc thương đối với người đã khuất.
Màu đen trong tác phẩm Sơn Nam đã thể hiện sinh động, đa dạng cũng như chức
năng ý nghĩa cụ thể trong mỗi sự vật, đối tượng, tiêu biểu là miêu tả nét đẹp truyền thống
như nhuộm răng, nhuộm vải… “Cô gái miền quê ngày nay đã lần hồi cũng không còn giữ
răng đen, lại lần hồi đi giày cao gót, đeo đủ loại bông tai “tòn ten” ”[22,221]. Nét đẹp
ngày nào đã lùi xa, nhường chỗ cho vẻ đẹp tân thời đang thịnh hành, nhưng giá trị truyền
thống được gợi lại để nhà văn cũng như độc giả nuối tiếc về một thời quá khứ đã xa rồi.
Như muốn thể hiện tính cách của cá nhân, không phải bằng hành động mà trang phục
cũng ngỏ lời hộ cho điều ấy. “Họ gìn giữ tiết tháo, sống tự túc, giữ đầu tóc, áo dài đen cổ
truyền”[18,47]. Nét đẹp truyền thống không phải là cái cao xa, nó rất gần gũi với đời
sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, giữ văn hóa, giữ truyền thống là giữ những gì
đơn sơ, bình thường nhất nhưng giá trị ấy không tầm thường chút nào.
Trong tác phẩm “Xóm Bàu Láng”, ta nhận thấy màu đen được nhắc đi nhắc lại
rất nhiều. Màu đen ấy gắn liền với trang phục của chúa Đảng Khăn Đen tốt bụng. “Bọn
thanh niên không lầm lẫn khi thấy một bóng đen, giống hệt người nằm trong quan tài
xuất hiện ngoài đường”[29,51].Trong tác phẩm, bóng đen xuất hiện nhiều lần, vừa giới
thiệu sự xuất hiện bí hiểm của ông, vừa nói cái tài ẩn hiện bất thường khi sau này ông ra
tay giúp đỡ Mến ở bất kì trường hợp nào.
Sơn Nam còn dùng màu đen để miêu tả con người với màu da. Qua đó, thể hiện
tính cách người dân vùng đất Nam Bộ: mộc mạc, giản dị, lam lũ và chịu thương chịu khó.
Ta làm sao quên “làn da ngăm đen vì nước mặn, nước phèn”[15,303] của Thiện, một
nông dân chính thống quanh năm sống nơi đồng sâu ruộng cạn. Cuộc sống vất vả qua bao
ngày đã tụ lại thành màu da trên cơ thể anh. Nhìn con trai mình trong bộ dạng như thế,
lòng người cha cũng đau xót vô cùng, vì ông đã từng nghĩ đến số phận của các con mình:
Dũng thì khỏi phải bàn vì anh sống rất phóng khoáng, còn Thiện luôn đeo đuổi những ý