tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của nguyễn bỉnh khiêm luận văn thạc sĩ - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại. Nghiên cứu tư
tưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thế
giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng. Song ở mỗi giai đoạn, mỗi
thời đại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triết
học.
Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiến
khác nhau, theo hai khuynh hướng chủ yếu: Thứ nhất, nhiều người cho rằng
Việt Nam không có triết học, Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng - Mạnh nói thế
nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần nào đó thôi.
Họ cho rằng giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không có khả năng sáng
tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân dân vĩ đại. Tóm lại, khuynh hướng
này khẳng định: Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có
thích nghi, đó là tư tưởng Đại Việt. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là nhà
nghiên cứu Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quốc Vượng…
Khuynh hướng thứ hai, nhiều người khẳng định Việt Nam có triết
học, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử
triết học Việt Nam. Đại diện cho khuynh hướng quan niệm này là Giáo sư
Vũ Khiêu, Giáo sư Lê Hữu Tầng… Khuynh hướng này ngày càng cho
thấy tính thuyết phục của nó khi nghiên cứu kỹ càng, cặn kẽ những di sản
tinh thần của dân tộc.
Có thể thấy rằng, nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với
những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn
Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạo
đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước. Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn

1




ngưỡng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu, nghìn năm như một ngày vậy”.
Không chỉ 7, 8 đời mà cho đến nay đã gần năm thế kỷ trôi qua những tư
tưởng của ông vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị cho các thế hệ mai sau.
Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giá
trị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh. Trong khi đằng sau những tư
tưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến
bộ. Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữa
các sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư
duy được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng. Khác với triết
học Phương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới. Triết học Việt Nam
nói chung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những
tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được
thể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ. Đây là nét đặc
sắc của nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và
phát triển nó.
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện
chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận
văn thạc sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tư tưởng lớn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn,
niềm tự hào của dân tộc ta. Tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu sắc đến các thế
hệ con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Trong lịch sử đã từng
có những công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của ông một cách
công phu và sâu sắc. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về
Nguyễn Bỉnh khiêm đều là sự tập hợp những tác phẩm thơ, văn hoặc sấm
mà ông đã viết và phân tích chúng dưới góc độ văn học nghệ thuật hoặc tư
tưởng nhân sinh. Còn những công trình nghiên cứu mang tính triết học thì ít
hơn. Cho đến nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn
Bỉnh Khiêm như sau:

Năm 1991, Bộ Văn hóa thông tin và truyền thông cùng viện khoa học
xã hội công bố cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa” do
4


Nguyễn Huệ Chi chủ biên. Đây cũng là công trình được đánh giá rất cao, là
nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này. Tác
phẩm “Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập”,
Nguyễn Khuê, nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh (1997); “Trạng trình sấm và
ký”, Nguyên Nghiệp, nhà xuất bản văn hóa thông tin (2004); “Tuyết giang
phu tử”, Trần Tuấn Tiến, nhà xuất bản sân khấu (2011).
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia
và tác phẩm của Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh Huyền tuyển chọn và giới
thiệu. Công trình tập trung những bài viết từ trước đến nay của nhiều nhà khoa
học lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp một cách hệ thống và khoa học,
gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh
Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng
và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm
thức thế nhân xưa và nay. Những bài viết này bao gồm những lời bình thú vị
và sâu sắc về con người, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nhóm công trình nghiên cứu về triết học có một số công trình nghiên
cứu như sau: Trước hết là cuốn sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý của
Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà xuất bản năm 1957. Cuốn sách là cái nhìn
mới về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các tác giả đã chỉ ra được một số
vấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Trạng Trình mà đến nay nó
vẫn mang nhiều giá trị. Năm 1992 trung tâm Hán Nôm TP. Hồ Chí Minh
xuất bản cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử triết học Việt Nam”
do Phan Văn Các biên soạn cũng là một cách nhìn mang tính triết học về tư
tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trong các cuốn sách về Lịch sử tư tưởng
Việt Nam tập 1 của Nguyễn Tài Thư xuất bản năm 1993 và Lịch sử tư tưởng

- Giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt
giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của ông.
-

Phân tích nội dung tư tưởng biện chứng trong các tác phẩm đó và
đánh giá những giá trị và hạn chế chủ yếu của nó.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
6


Đề tài hướng vào việc nghiên cứu những tư tưởng biện chứng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số tác phẩm của ông.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Những tác phẩm cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ
sộ. Do những giới hạn nhất định mà luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi
những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số sáng
tác chủ yếu nhất của ông (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập,
Sấm Trạng Trình và một số bài văn bia).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử .
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng
như logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, khái
quát hóa, hệ thống... nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích một cách

trọn cuộc đời với những thăng trầm biến đổi của thế kỷ này. Vì vậy tư
tưởng, thái độ của ông đều mang dấu ấn sâu đậm của thời cuộc. Do đó muốn
hiểu một cách sâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta
không thể không tìm hiểu đôi nét về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Việt
Nam đương thời.
Nếu như thời Lê Thánh Tông là thời kì hoàng kim của nhà Lê thì cuối
thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kì suy thoái, kéo
theo sự rối ren của tình hình kinh tế, chính trị xã hội với sự tranh chấp quyền
lực của các thế lực phong kiến khác nhau. Trong vòng 24 năm (1503 - 1527)
nhà Lê thay đổi đến sáu ông vua, có người (Quang Trị) ở ngôi đúng được 3
ngày. Trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị, mâu thuẫn ngày càng trầm
trọng, các cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực và địa vị diễn ra liên miên.
Bản thân những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê lại đều
là những kẻ bất tài vô hạnh. Xã hội Việt Nam đương thời vô cùng rối ren và
phức tạp “Lê mạt, Trịnh - Nguyễn phân tranh”. Chính điều này đã có sự tác
động sâu sắc đến quá trình nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đặc biệt,
giai đoạn ông bắt đầu trưởng thành và miệt mài kinh sử Nho giáo với những
đạo lí vua tôi tốt đẹp và mong ước:
“Hà phần phụ cập cộng tòng si (sư)
Khí nghiệp tương tương viễn đại kỳ”
9


(Ký hữu nhân)
Dịch:
“Cắp cặp sách cùng theo học ở đất Hà Phần
Hẹn ước con đường công danh sự nghiệp xa rộng”
(Gửi bạn)
Song đây lại chính là thời kì trị vì của hai ông vua thối nát nhất trong
lịch sử phong kiến nước ta mà các sử gia sau này gọi là nỗi kinh hoàng của

nhân dân còn phải đóng rất nhiều thuyền đẹp cho vua để nhà vua bắt những
mỹ nữ chèo thuyền cho hắn đi dong chơi trên Hồ Tây” [15, 11]. Ngoài ra
chúng còn cho xây dựng nhiều công trình khác như chùa, điện và bao quanh
bởi hàng ngàn trượng tường... càng làm cho nhân dân khốn khổ mọi bề .
Một số lớn của cải và nhân công chỉ để phục dịch cho sự xa xỉ của vua chúa
phong kiến… Tất cả những điều này làm cho triều chính nhiễu nhương,
nhân dân căm hận, đất nước suy yếu về mọi mặt. Sự xa xỉ vô lối này đã
được Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa:
“Thói tà ích hoang dâm lưu lê
Sang thì quen thói kiêu căng,
Giầu thì xa xỉ há rằng một ai.
Sửa sang những tường dài nhà rộng,
Nào kẻ hoa trạm bóng vẽ vời.
Đường đem chát chõa đồ xôi
Sáp đem làm củi đủ mùi xa hoa.
Ăn uống phí tiêu pha lại quá,
Nào khinh cừu, phi mã rủi rong”.
(Bài văn bia quán Trung Tân)
Có lẽ chính do lối trị vì thối nát của những ông “vua quỷ”, “vua lợn”
của triều Lê mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù đã mang trong mình “một bồ
kinh sách” và tấm lòng “ưu đời ái quốc” sâu sắc, nhưng ông không ra thi thố
và làm quan mà chấp nhận ở quê nhà dạy học, trong những áng thơ của ông
thể hiện nỗi niềm mơ ước về một thời đại “Ước một tôi hiền chúa thánh
minh” nhưng điều đó thật khó trước bối cảnh thời đại bấy giờ.
11


Cho đến năm 1558, trải qua nhiều lần bạo loạn, lật đổ, truất ngôi, giết
chóc…, đất nước Việt Nam rơi vào cuộc nội chiến giữa Nam triều tức Lê Trịnh và Bắc triều tức nhà Mạc kéo dài hơn năm thập kỷ. Trước cảnh triều
chính đất nước suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót:

Canh ngưu đồ nhi thực.
Nhượng đoạt phi kỉ hóa,
Hiếp dụ phi kỉ sắc”
(Thương loạn)
Dịch:
“Nhà ở đem bẻ làm củi
Trâu cày đem mổ thịt ăn.
Cướp đoạt tài sản không phải là của mình
Hiếp dỗ người không phải là vợ mình”
Chính vì vậy phong trào đấu tranh của các tầng lớp nông dân diễn ra
khắp nơi. Thợ thủ công và nhà buôn nhỏ cũng bị ảnh hưởng nhiều vì chính
sách chiếm đoạt đó. Những người thợ thủ công bị bắt làm công tượng,
không còn được làm công việc của mình mà phải phục dịch cho bọn quan
lại. Còn lại những người thợ thủ công không bị bắt đi làm công tượng thì
quay ra làm ruộng nhưng “đồng ruộng chỉ còn mạ khô”, mà thuế khóa lại
nặng nề. Những người buôn bán không thể kinh doanh vì nhân dân nghèo
đói, không đủ tiền để trao đổi mua bán. Đồng thời việc buôn bán lớn tập
trung chủ yếu vào tay bọn quan lại có quyền lực. Triều chính bê tha, giai
cấp thống trị đua nhau tranh giành quyền lực, xung đột diễn ra liên miên,
mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng trở nên gay gắt.
Dưới ách thống trị thối nát ấy và sự bóc lột cùng kiệt của bọn vua quan
phong kiến, phong trào nông dân nhanh chóng lan ra khắp nơi. Chiến tranh
giữa các tập đoàn phong kiến, đấu tranh của nhân dân chống phong kiến
thống trị, những tranh đoạt, chiếm đoạt, xung đột thường xuyên làm xã hội
rối loạn. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn mà chua chát:
“Chiến tranh hỗ tương tầm
13


Họa loạn chí thử cực”


tưởng triết học biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi thực tiễn là cơ sở,
động lực, là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức. Chính thực tiễn xã hội
đương thời đã tác động đến những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và
những tư tưởng đó được ông thể hiện qua những áng văn thơ sâu sắc.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Cùng với sự bất ổn của tình hình chính trị, đời sống kinh tế của người
dân vô cùng khốn đốn, nền sản suất nông nghiệp bị giảm sút nhiều. Tầng lớp
vua quan phong kiến không chăm lo đến sự phát triển nông nghiệp như thời
vua Thái Tổ, Thái Tông. Đê điều không được quan tâm, tu sửa, đất đai hoặc
bọn quan lại chiếm đoạt phục vụ cho mục đích riêng hoặc bị bỏ hoang. Người
nông dân không có đất cày cấy “khốn đốn dìu dắt nhau, thở than không có
đất” [31, 89], còn nếu canh tác được chút ít thì thuế má các loại quá nặng nề.
Nạn đói kém, thất bát, mất mùa triền miên, nền nông nghiệp nhìn chung là
suy kém, cảnh chết đói bần cùng xảy ra khắp nơi:
“Đồng ruộng chỉ còn mạ khô,
Kho đụn không hạt thóc thừa
Vất vả nghèo khổ, người nông phu than vãn
Đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc”.
(Tăng thử)
Hình ảnh “đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc” là hình ảnh có sức tố
cáo mãnh liệt hậu quả của những cuộc chém giết lẫn nhau, của sự bóc lột
dân chúng đến tận cùng trong giai đoạn này đồng thời cũng là điều ám ảnh
lớn với bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đã tái hiện một cách sâu sắc tình
cảnh đất nước thế kỷ XVI vào trong thơ, văn của mình, qua đó thể hiện rõ
thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả.
Về tình hình công thương có một số điểm đặc biệt làm cho tình hình
công thương không đến nỗi suy yếu như nông nghiệp do sự ảnh hưởng của
việc buôn bán với người Phương Tây và nhu cầu của xã hội.


“Giàu sang người trọng khó ai nhìn
Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn
16


Thuở khó dẫu chào, chào cũng lặng
Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen.
Quen hiềm dan díu điều bè bạn,
Lặng kẻo lân la nỗi bạ men
Đạo nọ, nghĩa này trăm tiếng bướm
Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”.
(Thơ Nôm, bài 5)
Hay:
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thời hơn hết mọi nhời
Trước đến tay không nào thốt hỏi
Sau vào nặng gánh lại vui cười”
(Thơ Nôm, bài 80)
“Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”.
(Thơ Nôm, bài 77)
Trước tình cảnh chiến tranh loạn lạc liên miên, đời sống vất vả cực
nhọc, sống chết lúc nào không hay dường như con người ta trở nên ích kỉ
hơn, vụ lợi hơn. Đây cũng chính là kết quả của một xã hội mà triều chính
đảo điên, chiến tranh xâu xé, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Nền kinh tế xã
hội đương thời đã tác động và chi phối sâu sắc cục diện chính trị của đất
nước. C. Mác và Ph. Ănghen từng khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội (cơ
cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế sinh ra) là hai yếu tố cấu thành cơ sở
lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy” [28, 11]. Chính nền kinh

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã “mũ ni che tai”, thế nhưng với tấm lòng ưu
thời mẫn thế, ông vẫn mong được góp sức mình cho đời, cho người, mong
đem cái “vốn” sẵn có trong mình để có thể thành “tôi hiền” cho “chúa thánh
minh”, giúp đất nước qua khỏi cơn loạn lạc và sớm xây dựng được một xã
hội như thời Nghiêu Thuấn.

18


Trong bối cảnh suy đồi, suy thoái đến mức cùng cực của nhà Lê, khắp
nơi dân tình ai oán, sự ra đời của nhà Mạc trên cơ sở thoán đoạt nhà Lê, dù
không danh chính ngôn thuận nhưng với cái nhìn khách quan, so với sự suy
tàn, thối nát của những “vua lợn”, “vua quỷ” đương thời và lũ lâu la nịnh
thần, triều Mạc là một vương triều mới, có nhiều mặt tiến bộ, nhất là trong
giai đoạn trị vì của Mạc Đăng Doanh và Mạc Đăng Dung. Hơn nữa sự ra đời
của nhà Mạc cũng xuất phát từ chính cái nền tảng đổ nát của nhà Lê, đúng
như quy luật thịnh suy mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nhắc đến trong
nhiều tác phẩm của mình. Sau những biến động, hỗn loạn của triều Lê, vào
những năm 30 của thế kỷ XVI, triều Mạc đã tạo ra được một thời kì ổn định
và phát triển của xã hội. Ngay sử chính thống của triều Lê trên lập trường
đối địch với triều Mạc cũng phải ghi nhận những thành quả mà vương triều
Mạc tạo ra từ năm 1532: “Từ đấy, người buôn bán và người đi đường đều đi
tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem
về, chỉ mỗi tháng kiểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là
vật của mình. Trong khoảng vài năm đường xá không nhặt của rơi, cổng
ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên” [20, 126]. Trong
bối cảnh xã hội đương thời, thậm chí ngay cả trong xã hội hiện đại, nhà Mạc
có thể làm được một điều đáng ghi nhận và trân trọng. Bởi với mỗi vương
triều, cái cốt yếu là tạo ra và đảm bảo cho nhân dân có cuộc sống ấm no,
thanh bình.

Do yêu cầu tất yếu của lịch sử cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, tình
hình thế giới có những bước chuyển biến có ý nghĩa bản lề trong mối quan
hệ giữa phương Đông và phương Tây có ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát
triển của các nước phương Đông. Ở phương Tây, cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ
XV, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước. Sau quá trình
tích lũy nguyên thủy, đầu thế kỷ XVI chủ nghĩa tư bản đã ra đời ở những
nước tiên tiến của Châu Âu, tiếp đó sang thế kỷ XVI, XVII, XVIII chủ
nghĩa tư bản lần lượt thắng lợi ở nhiều nước tạo nên một cục diện mới trên
phạm vi thế giới.

20


Sau những phát kiến địa lí cuối thế kỷ XV, từ đầu đầu thế kỷ XVI, chủ
nghĩa tư bản phương Tây đã tràn sang phương Đông. Từ thế kỷ XVI, nước ta
bắt đầu tiếp xúc với các thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan...
ngoài sự tiếp xúc về kinh tế, nhiều tư tưởng văn hóa cũng bắt đầu du nhập vào
Việt Nam.
Trong khi đó như ta đã biết từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt
Nam với cơ cấu kinh tế - xã hội, thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng
Nho giáo của nó đã bộc lộ sự trì trệ và bất cập so với xu thế chung của thời
đại. Xã hội Việt Nam ở trạng thái cái mới chưa xuất hiện, cái cũ thì chưa
mất đi, mọi thứ trở nên xáo trộn, không còn cái tôn ti trật tự vốn có của
Khổng Giáo, cương thường đạo lí sụp đổ, nền kinh tế hàng hóa bắt đầu
manh nha, đồng tiền trở thành nguồn sức mạnh to lớn có thể điểu khiển
được cả xã hội. Những bậc nho sĩ bấy giờ như Nguyễn Bỉnh Khiêm bất lực
trước thời cuộc đảo điên.
Mặc dù có nhiều cố gắng, có nhiều tiến bộ trong buổi đầu khởi
nghiệp, tuy nhiên nhà Mạc cũng không tìm ra một mô hình mới cho chế độ
phong kiến Việt Nam. Những mâu thuẫn nội tại của chế độ quân chủ theo

nghiệp phò vua giúp nước, nhưng bằng tài năng và trí tuệ uyên thâm ông đã
để lại cho đời những áng văn thơ bất hủ, những cấu sấm kí nổi tiếng và hơn
nữa là hệ tư tưởng triết học biện chứng có giá trị sâu sắc. Cho đến nay nhiều
tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị và đóng góp một phần to lớn vào
dòng chảy lịch sử tư tưởng nước nhà.
1.1.3. Điều kiện tinh thần xã hội
Trong bài Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc, Trần
Khuê có đưa ra lời bình sắc sảo về sự có mặt của cả ba hệ tư tưởng
Nho, Phật, Đạo trong thơ của Nguyễn BỉnhKhiêm: “Điều thú vị là
Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sân
nhà Lão Tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý và đạo
lý; cuối cùng ông đã trở về với ruộng đồng và lũy tre xanh của làng

22


quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc. Suốt đời
ông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành động như mình cần
hành động”. Xét cho cùng, đối với các nhà nho Việt Nam từ Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du cho đến Nguyễn Đình Chiểu
đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho, Phật, Lão. Có điều là mức độ ảnh
hưởng ít hay nhiều, đậm hay nhạt có khác nhau tùy theo quan niệm
của từng cá nhân và thời đại.
Ngay từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn Bỉnh
Khiêm nhận được sự giáo huấn trong một gia đình và môi trường Nho
học. Tinh thần Khổng giáo thấm nhuần trong ông khi ông được tiếp
nhận những bài học từ danh nho Lương Đắc Bằng. Và kết quả của
bao năm khổ luyện từ “cửa Khổng sân Trình” là nho sĩ đã chiếm bảng
vàng trong ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Giải nguyên, Hội
nguyên, Trạng nguyên không chỉ là sự thỏa chí công danh nơi ông mà

theo qui luật tự nhiên như hoa nở rồi hoa tàn, ngày đi đêm lại, xuân
sinh hạ trưởng, thu liễm đông tàn….Qui luật tự nhiên điều khiển chặt
chẽ vũ trụ, xã hội, con người cho nên con người phải hiểu lẽ biến
động đó mà thuận theo tự nhiên, tùy thời mà hành xử, tránh đôi co,
tránh “ chen lấn làm chi cho nhọc nhằn?”(Thơ Nôm, bài 87), tránh bi
quan chán nản:
“Chẵn lẻ đầy vơi ấy sự thường,
Thừa trừ tiêu trưởng khí âm dương…”
(Cảm tưởng khi đọc Chu dịch - Nguyễn Khuê dịch)
Xét về chính trị-xã hội, triết lý của Khổng Tử với tam cương ngũ
thường đã buộc chặt con người vào gia đình và xã hội. Đạo Khổng
xem gia đình là một trong ba khâu không thể thiếu của hoạt động con
người: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đạo quân thần, phụ tử,
phu phụ, huynh đệ, bằng hữu là gốc của đạo đức Nho gia. Cũng như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến và nhiều nhà nho khác, Nguyễn Bỉnh
Khiêm luôn mang nặng trong lòng hai chữ “trung quân”, lúc nào cũng
canh cánh một điều: “Lộc nặng ơn nhờ đức thánh minh”(Thơ Nôm,
24


bài 125), lúc nào cũng khăng khăng một niềm: “Lui tới thìn cho phải
đạo trung”(Thơ Nôm, bài 119), và vì trung quân nên lúc nào cũng
muốn thực hiện lý tưởng “trị quốc, bình thiên hạ”:
“Xã tắc nguy ngập nghiêng đổ, ra sức phù trì,
Tuổi già chẳng ngại, gắng gỏi ruổi rong…”
(Thơ cảm hứng-bài 5)
Các sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều đề cập tới thuyết tam
cương, ngũ thường. Ông đã từng khẳng định: “Tôi lúc nhỏ chịu sự
dạy dỗ của gia đình….”(Bài tựa tập thơ am Bạch Vân) cho nên khi
viết về những tình cảm gia đình, ông viết bằng một tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status