Từ xưng hô trong một số tác phẩm của nguyễn quang sáng - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN


NGUYỄN THỊ THẢO LY

TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Th.S GV BÙI THỊ TÂM

Cần Thơ, năm 2011


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1
MẤY VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG HÔ
TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. KHÁI NIỆM VỀ TỪ TIẾNG VIỆT

1.2.4 Một số đặc điểm chung trong cách xưng hô của người Nam Bộ

CHƯƠNG 2
KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
2.1 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG
2.1.1 Tác giả
2.1.2 Sự nghiệp văn chương

2.2 KHẢO SÁT TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
NGUYỄN QUANG SÁNG
2.2.1 Từ xưng hô dùng trong quan hệ gia đình
2.2.2 Từ xưng hô dùng trong quan hệ tình yêu
2.2.3 Từ xưng hô dùng trong quan hệ xã hội
2.2.4 Tác dụng của việc sử dụng từ xưng hô trong tác phẩm
2.2.5 Một số đặc điểm chung của cách xưng hô của người Nam Bộ thể hiện
trong tác phẩm

CHƯƠNG 3
GIÁ TRỊ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ TRONG
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
3.1 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ THỂ HIỆN THÁI ĐỘ, NHÂN CÁCH CỦA
NHÂN VẬT
3.1.1 Sử dụng từ xưng hô thể hiện thái độ của nhân vật
3.1.2 Sử dụng từ xưng hô thể hiện nhân cách của nhân vật


3.2 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ THỂ HIỆN VĂN HÓA GIAO TIẾP,
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NHÂN VẬT
3.2.1 Sử dụng từ xưng hô thể hiện văn hóa giao tiếp

người sử dụng đôi khi cũng gặp không ít khó khăn khi chọn đại từ nhân xưng xưng hô
cho phù hợp.
Từ việc muốn tìm hiểu rõ hơn về sự phong phú trong đại từ nhân xưng, từ xưng hô
trong tiếng Việt, hiểu rõ thêm về chức năng của đại từ nhân xưng và muốn hiểu thêm
về sự đa dạng, độc đáo trong cách xưng hô của người Việt nên người viết đã chọn đề
tài luận văn: “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng”.
Người viết chọn tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng bởi Nguyễn Quang Sáng không
chỉ nổi tiếng là nhà văn xuất sắc của miền đất Nam Bộ mà nghệ thuật sử dụng từ trong
các tác phẩm của ông cũng rất sinh động, linh hoạt, mới lạ và phong phú, nhất là cách
dùng từ xưng hô. Các tác phẩm của ông không chỉ được viết với bút pháp gần gũi với
lời ăn, tiếng nói của đời sống nhân dân, lời văn mộc mạc, giản dị mà còn rất giàu kịch
tính, cốt truyện có nhiều tình tiết bất ngờ, độc đáo. Đọc tác phẩm của ông, ta như hiểu


thêm về vùng đất, con người Nam Bộ, về cách nói năng, ứng xử của người dân miền
Nam.
Chính vì những điều này và thêm sự yêu thích của bản thân đối với tác phẩm của
Nguyễn Quang Sáng mà người viết đã chọn một số tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng
để làm đối tượng khảo sát từ xưng hô trong đề tài luận văn.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có rất nhiều tác giả cùng các công trình nghiên cứu về từ
xưng hô trong tiếng Việt và nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng.
Về từ xưng hô trong tiếng Việt thì từ trước đến nay đã có không ít những công trình
nghiên cứu về từ xưng hô hay đại từ xưng hô thì đã có hàng loạt những bài nghiên
cứu, bài viết, bài phê bình, nhận định, nhận xét… của các nhà nghiên cứu.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, Diệp Quang Ban có nhận xét: “Đại từ xưng hô
dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [3;tr.111]
Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ pháp tiếng Việt đã nhận định đại từ xưng hô dùng để thay
thế và “chỉ trỏ người khi giao tiếp” [18;tr.58]. Tác giả còn chỉ ra bên cạnh đại từ xưng
hô thì các danh từ thân tộc như: ông, bà, cha, mẹ, anh, em, cô, chú, bác… cũng còn

nghe như thế nào, có phần chịu ảnh hưởng từ vị thế xã hội của họ. Trong giao tiếp
bằng lời, mối quan hệ này được xác lập và thể hiện ra thành vai giao tiếp, trước hết là
nhờ hệ thống xưng gọi”. Và ông cho rằng: ““Xưng gọi” hiểu theo ý nghĩa phổ thông,
là cách tự xưng đối với mình và gọi người khác, để biểu thị tính chất của các mối quan
hệ với nhau trong giao tiếp”. [38;tr.22]
“Đối với người Việt, tuổi càng cao thì những nghi thức xã giao càng được xem
trọng. Xu hướng chung của người Việt là ưa sử dụng những nghi thức xã giao sao cho
vừa thân mật, gần gũi mà vẫn giữ được thái độ trang trọng, lịch sự. Lời chào cao hơn
mâm cỗ - đó là ý thức văn hóa - giao tiếp của người Việt. Việc sử dụng từ xưng hô
cũng không thể vượt ra khỏi ý thức văn hóa này” là nhận định của Phạm Ngọc Thưởng
trong bài viết Cách sử dụng đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số ít trong tiếng Nùng (xét
trong mối liên hệ với tiếng Việt). [39;tr.47]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia
có nhận định: “Cách xưng hô có chú ý tới những quan hệ xã hội, tình cảm rất tế nhị,
chứ không phải chỉ phân biệt các “ngôi” thứ nhất, thứ hai, thứ ba và các “số” nhiều,
ít”. [52;tr.110]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), Đinh Văn Đức cho rằng các đại từ chỉ định
như: “đây, đấy, đó, kia, kìa, vậy, thế… nhiều khi cũng được dùng để chỉ người”.
[12;tr.204]


Lê Biên với Từ loại tiếng Việt hiện đại đã có những nghiên cứu khá sâu về đại từ
xưng hô. Ông còn chia từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai lớp có phạm vi sử dụng
khác nhau, gồm những từ xưng hô dùng trong gia tộc và những từ xưng hô dùng ngoài
xã hội. Và ông còn nhận định rằng: “Xưng hô trong giao tiếp là một vấn đề lớn, liên
quan đến nhiều nhân tố”. [4;tr.123]
Theo Đỗ Hữu Châu trong Đại cương ngôn ngữ học - tập 2: Ngữ dụng học thì :
“Bằng cách lựa chọn từ để tự xưng và để “hô” người giao tiếp, người nói định một
khung quan hệ liên cá nhân cho mình và cho người đối thoại với mình” [5;tr.78]. Ông
còn chỉ ra: “Vì phải thể hiện quan hệ liên cá nhân cho nên các ngôn ngữ mới có nhiều

tiếp bình thường đều là những danh từ, trước hết là những thuật ngữ chỉ quan hệ thân
tộc (trừ: dâu, rể, vợ, chồng, ông nhạc, bà nhạc…) rồi đến những thuật ngữ chỉ chức vụ
hay cương vị có ít nhiều màu sắc tôn vinh như: thầy giáo, giáo sư, chủ tịch, bác sĩ,
sếp, thủ trưởng, sư ông, sư cụ rồi đến các cấp bậc quân đội - nếu không kể một vài
trường hợp dùng danh từ chỉ người nhà như vú”. [14;tr.297-tr.298]
Trong Để tiếng Việt ngày càng trong sáng, Phan Hồng Liên có đưa ra nhận xét: “
Người Việt không chỉ sử dụng một nhóm từ xưng hô là danh từ thân tộc mà sử dụng tất
cả các nhóm từ xưng hô nhưng linh hoạt trong từng tình huống cụ thể, tạo ra cho hệ
thống từ xưng hô Việt Nam một diện mạo hết sức phong phú, mới mẻ”. [19;tr.46]
Nguyễn Ngọc Ẩn có bài viết Xác định từ xưng gọi với người dạy học nhận định
rằng: “…Người Việt Nam thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đình, nghề nghiệp chức
vụ, học hàm, học vị... để xưng gọi, đặc biệt là các từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số
lượng lớn và xuất hiện trong mọi môi trường hoạt động của con người. Trong tâm lý
của người Việt Nam, mọi người dân sống trên đất nước Việt Nam đều có quan hệ gần
gũi, thân thích, xem như “người một nhà”. Cho nên trong giao tiếp, các nhân vật tham
gia giao tiếp thường “nhắm nhắm” xem người nói chuyện với mình khoảng bao nhiêu
tuổi để chọn từ mà xưng hô “cho phải đạo” - ai lớn tuổi hơn mình một tí thì gọi bằng
“anh”, bằng “chị”, ai lớn hơn nữa thì gọi bằng “chú” bằng “bác”,…và xưng mình là
“em”, là “con”, là “cháu”…” . [2;tr.17-tr.18]
Ta thấy rằng từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú. Ở từng
vùng, miền khác nhau sẽ có từng cách xưng hô tương ứng khác nhau.Và từ xưng hô ở
Nam Bộ cũng có những nét đa dạng, phong phú nhưng bên cạnh đó thì nó cũng mang
những khác biệt, mới lạ, độc đáo của riêng vùng đất miền Nam. Đã có rất nhiều nguồn
tài liệu nhắc đến vấn đề này.
Bài viết của Mai Văn Thắng về Một vài kỉ niệm về tiếng Nam Bộ” có nhắc đến cách
nói năng rất riêng của người Nam Bộ. Ông còn so sánh giữa tiếng Nam Bộ và tiếng


Bắc Bộ: “…tiếng Nam Bộ có nét khác tiếng Bắc cả ở cách kết hợp các từ để tạo ra
một câu nói. Nói cách khác, rõ ràng có những khác biệt giữa cách nói của tiếng Nam


muốn phục vụ cách mạng kháng chiến bằng ngòi bút. Đời văn của ông khá phong phú
về truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết, còn có kịch bản phim. [42;tr.690]
Trong Văn học 1975 - 1985: Tác phẩm và dư luận, các tác giả đã có đề cập đến nhận
xét của Nguyễn Văn Bổng về Nguyễn Quang Sáng: “Nguyễn Quang Sáng là một cây
bút có tài viết về truyện ngắn”. [43;tr.274]
Trong Nhà văn về làng của Nguyễn Quang Sáng có nhận xét của Nguyễn Thái Sơn
về sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng: “Viết về cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Quang Sáng có những chi tiết sống mà chỉ
có những nhà văn trong cuộc mới phát hiện ra: đi tắm sông không được để nước rợn
sóng, chú gà trống ngứa cổ mà không được phép gáy. Chi tiết “độc” điển hình được
thể hiện trong phim “Cánh đồng hoang”: mỗi lần máy bay địch nhào xuống bắn, bao
ni lông trong có đứa trẻ lại được nhấn chìm xuống nước để tránh đạn. Về nghệ thuật
sử dụng chi tiết, có lẽ phải nói tới cảnh hết của phim “Cánh đồng hoang”: người mẹ
trẻ Việt Nam ôm đứa con nhỏ, không nhìn chiếc máy bay đang bốc cháy, cũng không
nhìn xác tên phi công Mĩ vừa giết chồng mình, mà nhìn chằm chằm vào tấm ảnh rơi từ
túi ngực xác tên phi công Mĩ, chụp vợ và đứa con nhỏ của hắn, rồi hướng cái nhìn về
phía chân trời”. [ 26;tr.235]
Trong Phê bình bình luận văn học Anh Đức - Nguyễn Quang Sáng - Nguyên Ngọc Đoàn Giỏi đã có ba viết của các tác giả về Nguyễn Quang Sáng.
Bài viết của Trần Hữu Tá giới thiệu vài nét về Nguyễn Quang Sáng và ông có nhận
xét: “Nguyễn Quang Sáng có phong cách viết truyện độc đáo. Truyện thường lắm tình
huống bất ngờ, ngẫu nhiên nhưng tự nhiên, giàu chi tiết sống động và kì diệu nhưng
hợp lí, tính kịch rất nỗi nhưng cũng đậm đà chất trữ tình”. [51;tr.114]
Vân Thanh có bài viết về Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng và nhận xét truyện
Nguyễn Quang Sáng luôn chứa đựng những yếu tố “kì diệu” và “Nguyễn Sáng là
người viết có ý thức khai thác đề tài và khơi nguồn cảm hứng của mình trong những
điều kì diệu đó của cuộc sống” [51;tr.118]. Vân Thanh còn nhận định: “Truyện Nguyễn
Sáng giàu chi tiết sống. Nhưng chi tiết đối với anh không phải là một thứ trang sức để
phô bày. Chi tiết được anh dùng trước hết là để khắc họa nhân vật” [51;tr.120] và
“Nguyễn Sáng vốn là cây bút khéo sử dụng các yếu tố ngẫu nhiên, tự nhiên, có thể xảy

một đời văn. Mỗi truyện của anh là kết đọng cả tâm huyết, là sự tìm tòi về ý tưởng, về
cách thể hiện nghệ thuật, sự định hình nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng chắc sẽ kết
đọng ở thể truyện ngắn”. [23;tr.215-tr.216]
Trong Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng tập 1, bài viết Còn lại tình yêu của Bùi Việt
Thắng có nhận định: “Những truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975,
trong đó cốt truyện thường tiêu biểu hấp dẫn, chi tiết chọn lọc, tình huống đặc sắc và


kịch tính cao” và tác giả còn thấy: “Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975,
như người ta nói “ ròng ròng sự sống”, một sự sống đa dạng cung bậc, màu sắc, có
tiếng khóc và tiếng cười, có khổ đau và hi vọng. Một cuộc sống biến ảo đầy bất ngờ
thú vị. Dường như cái chất sống này tự nhiên như khí trời nên sự triết lý của nhà văn
cũng từ đó mà tự nhiên, nhuần nhị”. [37;tr.12]
Trong bài viết Truyện ngắn miền Nam trên đà phát triển của cách mạng, Hà Minh
Đức có nhận xét: “Nguyễn Sáng đã tạo cho mình một bản sắc riêng… Truyện của ông
giàu chất sống thực tế và thường có cốt truyện hay… Nguyễn Sáng có nhiều khả năng
để xây dựng những nhân vật giàu tính chất khắc họa, có cá tính, gây được ấn tượng
mạnh. Mạch truyện sáng sủa, cách dẫn truyện sinh động, lôi cuốn”. [34;tr.585].
Hà Minh Đức còn có nhận xét về truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng trong bài viết
Sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945: “Truyện
ngắn của Nguyễn Quang Sáng thường có cốt truyện hay, xúc động, kết hợp được cái
riêng, cái lạ của một tình huống, của xung đột với ý nghĩa xã hội rộng rãi… nghệ
thuật miêu tả và dẫn dắt truyện rất khéo, tạo được sức hấp dẫn với người đọc”.
[34;tr.568]
Nhận xét về truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng còn có ý kiến của Nguyễn văn
Long trong bài viết Sự vận động và những thành tựu văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1945 - 1975: “Truyện của Nguyễn Quang Sáng thường có cốt truyện hấp dẫn và
những tình huống bất ngờ, giàu kịch tính, nhưng không bị đẩy tới khác thường nên vẫn
khá tự nhiên và đặc biệt tác giả có một lối kể chuyện rất giản dị, gần với lối kể dân
gian mà vẫn linh hoạt và hấp dẫn nhờ vốn hiểu biết đời sống phong phú”. [21;tr.175]

về dòng sông thơ ấu. Làng Mỹ Luông của anh tuy không sầm uất về kinh tế nhưng lại
“trù phú” về những tính cách và những tấm lòng”. [30;tr.299]
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, bình luận trên về Nguyễn Quang Sáng thì
cũng còn có nhiều bài viết cùng các công trình nghiên cứu khác về tác giả Nguyễn
Quang Sáng và tác phẩm của ông như: Đặc sắc truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
của Lâm Thị Thiên Lan (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn - Trường Đại học Cần Thơ), Tìm
hiểu tính từ chỉ màu sắc trong một số tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng của Trà Thúy
Trinh ( Luận văn tốt nghiệp ngành Sư phạm Ngữ văn K30 - Trường Đại học Cần Thơ),
Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng của Phùng Thị Hương Lan
(Luận văn tốt nghiệp ngành Sư phạm Ngữ văn K27 - Trường Đại học Cần Thơ) …
Có thể thấy nghiên cứu đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn
Quang Sáng” là một công việc còn khá mới mẻ, hầu như chưa có tác giả thực hiện
hoàn chỉnh. Và dù nghiên cứu sâu hay sơ lược thì các công trình trên cũng đã trở thành
nguồn tư liệu quý báu cho luận văn của người viết, giúp người viết có cái nhìn rộng và


toàn diện hơn về từ xưng hô cũng như về tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng.
3. Mục đích nghiên cứu
Người viết chọn đề tài này với mong muốn được hiểu thêm về sự đa dạng,
phong phú của từ xưng hô trong ngôn từ tiếng Việt. Người viết thấy được sự phong
phú, linh hoạt trong cách dùng từ của Nguyễn Quang Sáng trong tác phẩm của ông khi
viết về con người, về nghị lực, ý chí chiến đấu, tình người trong chiến đấu của con
người miền Nam trong cuộc chiến đấu của dân tộc. Người viết còn được hiểu biết
thêm về cách xưng hô trong cách ăn nói, ứng xử của người dân Nam Bộ, hiểu thêm về
con người Nam Bộ và về sự độc đáo trong văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp của
người miền Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi là một đề tài luận văn, người viết chỉ có thể nghiên cứu một khía
cạnh cụ thể về từ xưng hô, đó là từ xưng hô trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng.
Và do số lượng tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Sáng rất nhiều nên khi

1.1KHÁI NIỆM VỀ TỪ TIẾNG VIỆT
1.1.1 Các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt
Có thể thấy vấn đề xác định thế nào là từ và ranh giới của chúng như thế nào thì
đó còn là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa đưa ra một


khái niệm nào thống nhất và thỏa đáng khi định nghĩa về từ tiếng Việt. Mỗi nhà nghiên
cứu lại có một định nghĩa riêng, cách hiểu riêng về từ.
“Từ, mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một
cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể ngôn ngữ” [31;tr.193] là câu nói của
F.D.Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương khi nói đến định nghĩa về từ.
Đỗ Hữu Châu định nghĩa về từ trong Giáo trình từ vựng học tiếng Việt là: “Từ của
tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo quan
hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống…) và cú pháp trong câu, nằm trong một
kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những
nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ
thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. [6;tr.29]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt 1 Nguyễn Văn Tư đã định nghĩa: “Từ trong tiếng Việt là
một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định,
nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhất định, lớn
nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. [45;tr.37]
Trong Bài giảng từ vựng học tiếng Việt, Nguyễn Thị Thu Thủy còn đưa ra một số khái
niệm của một số nhà ngôn ngữ học xung quanh khái niệm về từ.
Trong Từ và nhận diện từ tiếng Việt Cao Xuân Hạo cho rằng: “Chúng ta hiểu tính đa
dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các
ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết
(wordsyllabe), đơn tiết (monosyllable) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính
là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ
Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị,
hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục

từ. Và giống như Nguyễn Thị Thu Thủy, ông cũng cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất,
có nghĩa, dùng để tạo câu” và ông còn nói thêm: “Bất kì đơn vị nào lớn nhất trong hệ
thống của một ngôn ngữ và là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu thì đều là từ. Trong tiếng
Việt những đơn vị đó là: cha, anh, chị, áo, hoa, tre, giỏ, da, trời, lối, nét, gương,
mặt…”. [47;tr.76]
Lê A, Đỗ Xuân Thảo định nghĩa về từ trong Giáo trình tiếng Việt 1 (dành cho học
viên ngành Giáo dục tiểu học hệ đào tạo tại chức và từ xa) rằng: “Từ là một đơn vị
được tạo ra từ một hình vị có chức năng định danh và có khả năng độc lập gánh vác
các vai trò khác nhau trong câu”. Các tác giả còn đưa ra ví dụ: “Từ “người” được
tạo ra từ một hình vị, từ “xe đạp” từ hai hình vị, cả hai từ này đều biểu thị tên gọi của


các sự vật khác nhau. Chúng có khả năng độc lập, đảm nhận các chức năng ngữ pháp
khác nhau trong câu như: chủ ngữ, định ngữ, bổ ngữ…”. [1;tr.78]
Theo Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Thị Thu Thủy định nghĩa trong Giáo trình Cơ sở
ngôn ngữ học thì: “Từ là đơn vị cơ bản và quan trong nhất của ngôn ngữ, là đơn vị có
sẵn, có tính hiện thực cao nhất của ngôn ngữ”. [7;tr.192]
Qua những ý kiến nghiên cứu về từ của các nhà ngôn ngữ, các tác giả trên có thể
thấy từ là một khái niệm còn rất khó nắm bắt mặc dù nó là một đơn vị cơ bản của ngôn
ngữ, là đơn vị tồn tại trong thực tế.
1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt
Hiện nay định nghĩa về từ như thế nào cho thống nhất, chặt chẽ, bao quát vẫn
còn là một vấn đề chưa được giải quyết trọn vẹn nhưng tổng hợp những công trình
nghiên cứu về từ, ta có thể chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của nó nhằm giúp ta
phân biệt được giữa từ với các đơn vị ngôn ngữ khác.
Có thể thấy từ là một loại đơn vị ngôn ngữ có nghĩa. Đặc điểm này giúp ta phân
biệt giữa từ với các đơn vị ngữ âm, là những đơn vị thuộc bình diện hình thức biểu đạt,
được trừu tượng hóa, tách khỏi mặt nội dung của tín hiệu ngôn ngữ.
Từ tiếng Việt thường có cấu tạo trùng khít với một âm tiết (trừ từ ghép, từ láy) nhưng
vẫn khác âm tiết vì khi nhắc đến từ ta phải nhắc đến cả hai mặt về hình thức lẫn nội

bán - nhà - giàu

Qua ví dụ trên ta thấy, xét về mặt lý thuyết tương đối, yếu tố “gia” có sự kết hợp hạn
chế. Còn nếu kết hợp được thì nó cũng tạo nên đơn vị lớn hơn nó: là từ. Còn yếu tố
“nhà” thì kết hợp không hạn chế và đơn vị nó kết hợp được tạo nên đơn vị lớn hơn từ:
là cụm từ. Vì vậy mà có thể thấy “gia” là hình vị, “nhà” là từ.
Một đặc điểm của từ nữa là từ có tác dụng định danh. Chức năng định danh dùng
để gọi tên sự vật, sự việc, hoạt động, tính chất… cụ thể trong thực tế khách quan. Tác
dụng định danh là của từ và cụm từ. Còn chức năng giao tiếp thuộc về của câu. Qua
đặc điểm này giúp ta phân biệt giữa từ và câu.
Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là “tiếng”. Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng
là một âm tiết. Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến
nhạc điệu của câu văn.
Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa. Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các
đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để
định danh sự vật, hiện tượng... chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy.
Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật
kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, máy bay, nhà lầu xe hơi, nhà tan cửa nát... Hiện
nay, đây là phương thức chủ yếu để sinh ra các đơn vị từ vựng. Theo phương thức này,
tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn
ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị, karaoke, thư điện tử (e-mail), thư
thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập
ngẫu nhiên,…
Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi
phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: chôm chỉa, chỏng chơ, đỏng
đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng lá lúng liếng,…


Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một
tiếng). Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo



­

Danh từ chỉ đơn vị quy ước.

Danh từ không đếm được. Gồm:
­

Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng

­

Danh từ chỉ người

­

Danh từ chỉ đồ vật và động thực vật

­

Danh từ chỉ chất liệu

­

Danh từ chỉ tổng hợp.

Động từ
Là từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật và của những khái niệm được ngôn ngữ
phản ánh như những thực thể.


-

Động từ tư thế

- Động từ chỉ trạng thái
-

Động từ tồn tại

-

Động từ so sánh

-

Động từ biến hóa

-

Động từ tình thái (động từ biểu thị ý chí và động từ tiếp thụ).


Tính từ
Là từ loại chỉ tính chất của sự vật, của hoạt động và của trạng thái. Ý nghĩa khái
quát của tính từ là ý nghĩa tính chất.
Phần lớn tính từ tiếng Việt không tự thân có nghĩa về mức độ, vì vậy tính từ có thể
kết hợp với từ chỉ mức độ. Tính từ có thể tự nó hoặc kết hợp với một số từ khác trực
tiếp làm vị ngữ; vừa có khả năng bổ nghĩa cho danh từ, vừa có khả năng bổ nghĩa cho
động từ là đặc điểm tiêu biểu của từ tiếng Việt.

- Đại từ chỉ họat động, tính chất, sự việc: thế, vậy.
 Đại từ chưa xác định. Gồm:
- Đại từ chưa xác định về sự vật: ai, gì, nào, đâu, bao giờ, bấy, bao nhiêu.
- Đại từ chưa xác định về hoạt động, tính chất: sao, thế nào.
Phụ từ
Là những từ dùng để bổ nghĩa cho các thực từ cơ bản hoặc biểu thị một số ý nghĩa
liên quan đến câu, nó có thể làm thành tố phụ trong ngữ, như: đã, sẽ, đang, không,
chưa, chẳng, đều, vẫn, cứ, những, các, mỗi, từng…
Phân loại:
 Phụ từ chỉ lượng. Gồm hai nhóm:
- Nhóm chỉ lượng: các, những, mấy, một. Có sự phân biệt giữa các và những.
- Nhóm chỉ sự phân phối: mỗi, mọi, từng. Có sự đối lập giữa mỗi, mọi, từng và có sự
phân biệt giữa mỗi với từng.
 Phụ từ tình thái. Gồm:
- Phụ từ cầu khiến: hãy, đừng, chớ…
- Khẳng định hay phủ định: nhất định, còn, không, chưa, chẳng…
- Chỉ tính chất hiện thực hay phi hiện thực của hành động tính chất: từng, đã, sẽ, sắp…
- Chỉ thể thức diễn biến: cũng, đều, vẫn, mãi, nữa…
- Chỉ mức độ: rất, hơi, khá, lắm, quá…
Quan hệ từ
Là từ loại biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ và kết cấu ngữ pháp.
Phân loại
 Quan hệ từ biểu hiện quan hệ đẳng lập (quan hệ từ đẳng lập) gồm: và, hay,
hoặc, rồi, còn, không những… mà…
 Quan hệ từ biểu hiện quan hệ chính phụ (quan hệ từ chính phụ) gồm: của, vì,
do, nếu… thì…, tuy… nhưng…
Trợ từ


Là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái nhằm thể hiện thái độ người nói đối với hiện thực

cam, con cá, con sông, chiếc nhẫn, tấm ảnh, cơn gió, cuộc sống…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status