TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
VÕ THỊ NGỌC SUYÊN
MSSV: 6076549
TỪ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
ANH ĐỨC
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: Ths. BÙI THỊ TÂM
Cần Thơ, tháng 5 năm 2011
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ XƯNG
HÔ TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. Khái niệm về từ tiếng Việt
1.1.1. Các quan niệm khác nhau về từ tiếng việt
SỐ TÁC PHẨM CỦA ANH ĐỨC
3.1. Sử dụng từ xưng hô bộc lộ tình cảm của nhân vật trong tác phẩm
3.2. Sử dụng từ xưng hô bộc lộ tính cách của nhân vật trong tác phẩm
3.3. Sử dụng từ xưng hô bộc lộ khí phách của nhân vật trong tác phẩm
3.4. Sử dụng từ xưng hô thể hiện văn hóa của người dân Nam Bộ
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Anh Đức là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Cách mạng thời kì
chiến tranh vệ quốc đương đại. Trong gần nửa thế kỉ cầm súng và cầm bút, Anh Đức
đã đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm có giá trị, ông có một vị trí chắc
chắn và xứng đáng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Anh Đức lớn lên trên mãnh
đất màu mỡ của miền tận cùng Tổ quốc, chứng kiến những bước đi đẫm máu nhưng
rất anh hùng của con người Nam Bộ. Chính vì thế, các tác phẩm của ông mang một
giọng điệu đằm thắm, nồng nàn tình nghĩa thủy chung, nhân hậu của con người Nam
Bộ.
Tác phẩm của Anh Đức là một trong những cuốn sử biên sinh động về giai đoạn
lịch sử ác liệt nhất, hào hùng nhất của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; về con
người Nam Bộ đặc biệt nhân hậu, tình nghĩa thủy chung, bất khuất, kiên cường. Các
nhân vật trong tác phẩm của Anh Đức là những người dân bình thường, mỗi người có
một hoàn cảnh sống và địa vị khác nhau nhưng ở họ có một điểm chung là căm thù
giặc sâu sắc. Vì sự yên bình của quê hương, đất nước mà họ có thể hy sinh tất cả, kể cả
mạng sống của mình chứ không chịu khuất phục trước kẻ thù. Các nhân vật như chị Tư
Hậu, chị Sứ, chị Lộc, ông Tám Xẻo Đước, ông lão vườn chim,… đã trở thành những
hình tượng gây xúc động sâu sắc trong tâm trí người đọc. Chính vì viết về những
người nông dân như thế nên ngôn ngữ được Anh Đức sử dụng rất mộc mạc - giản dị,
gần gũi với lời ăn, tiếng nói hằng ngày của nhân dân miền Nam. Mỗi nhân vật trong
và phức tạp. Ngoài việc là đối tượng chính của Ngữ pháp tiếng Việt, từ xưng hô còn
được nghiên cứu từ góc độ của hai phân môn: Ngữ dụng học và Phong cách học tiếng
Việt.
Từ góc độ Ngữ pháp tiếng Việt: hầu như không có một công trình nào nghiên
cứu riêng về từ xưng hô. Các nhà ngữ pháp học chỉ nhìn nhận và xem xét từ xưng hô
về mặt từ loại, chủ yếu là từ loại đại từ.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã nhận xét: “Đại từ xưng hô dùng
thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp”[1;tr.111]. Ông đã chia
đại từ xưng hô ra thành đại từ xưng hô dùng ở ngôi xác định và đại từ xưng hô dùng ở
nhiều ngôi linh hoạt.
Đỗ Thị Thúy Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt, cũng đã nhận định đại từ xưng hô
dùng để thay thế và “chỉ trỏ người khi giao tiếp.”[11;tr.58]. Tác giả có điểm khác biệt
với Diệp Quang Ban là đã chỉ ra bên cạnh đại từ xưng hô thì các danh từ thân tộc như:
ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cô, bác cũng còn được dùng để xưng hô điển hình là
những
cặp
từ:
“anh/em,
cha/mẹ,
ông/bà,
cô/bác,
Bằng một lời đánh giá trong Cơ sở ngữ dụng học: “Xưng hô là hành vi chiếu vật,
ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói,
người tiếp thoại. Xưng hô thể hiện vai giao tiếp”[3;tr.268]. Đỗ Hữu Châu đã đi vào
phân tích khá tỉ mỉ và sâu sắc hệ thống từ xưng hô, nêu lên được những đặc điểm cũng
như phạm vi, cách thức sử dụng của các từ xưng hô trong tiếng Việt.
Từ góc độ Phong cách học: các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét riêng
của mình trong việc nghiên cứu từ xưng hô.
Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt đã nhận xét: “Phong cách học
quan tâm chủ yếu đến cái giá trị biểu đạt, biểu cảm - cảm xúc, các giá trị phong cách
của các phương tiện ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu, với những
điều kiện giao tiếp nhất định trong quá trình giao tiếp”[9;tr.10]. Theo quan điểm đó
thì từ xưng hô cũng như những phương tiện ngôn ngữ khác đều được phong cách học
nhìn nhận và xem xét dưới những phương diện: đặc điểm tu từ (bao gồm màu sắc
phong cách, sắc thái biểu cảm) và phong cách chức năng ngôn ngữ.
Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt cho rằng ngoài
các đại từ nhân xưng và các từ chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc thì còn“lấy cả tiếng
đệm giữa họ và tên của nữ giới (thị) để dùng làm từ xưng hô, thậm chí còn dùng cả
cách nói trống không (từ xưng hô zero) để xưng hô” [21;tr.166]. Cuối cùng ông đưa ra
nhận xét:“Trong tiếng việt, từ xưng hô, cách xưng hô, mô hình xưng hô là phương tiện
biểu cảm, là phương tiện phong cách” [21;tr.168].
Bên cạnh đó, còn có các nhà nghiên cứu khác như: Trần Thị Ngọc Lang trong
Phương ngữ Nam Bộ đã đưa ra nhận xét về từ xưng hô trong tiếng Việt “Các từ xưng
hô tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, trong cái đa dạng của cách xưng
hô hằng ngày, chúng ta vẫn thấy mức độ thống nhất giữa các phương ngữ tiếng Việt
khá cao. Những khác biệt nhỏ trong cách xưng hô làm nên sắc thái riêng của các
phương ngữ” [10;tr.87]. Trong bài viết của mình thì Trần Thị Ngọc Lang đã đưa ra
vấn đề từ xưng hô trong giao tiếp hằng ngày được thể hiện ở các cấp độ và địa vị của
mỗi người khi giao tiếp với nhau. Từ đó, tác giả đưa ra nhận xét chung về cách xưng
năng sáng tạo nghệ thuật. Trong các tác phẩm của Anh Đức thì hình ảnh con người
Nam Bộ hiện lên với những đức tính bộc trực mà tinh tế, thẳng thắn mà chí tình, chín
chắn, sâu sắc nhưng rất cởi mở, khoáng đạt. Họ yêu tha thiết nhưng căm thù giặc cũng
cháy bỏng. Để xây dựng được những nhân vật như thế thì nhà văn cần phải có cái nhìn
tinh tế về hiện thực cuộc sống và khả năng vận dụng linh hoạt.“Trong sáng tác của
Anh Đức bút pháp hiện thực và bút pháp trữ tình xuyên thấm rất nhuần nhuyễn. Hiện
thực được lí tưởng chấp cánh vươn cao bay bổng. Xuất phát từ một thực tế đau thương
cháy bỏng căm thù, từ cuộc sống của những con người ở mỏm đất tận cùng của Tổ
quốc, phải đổi máu và mồ hôi để giành lại từng ngọn cỏ, gốc cây, từng mảnh vườn,
thửa ruộng, nhà văn dựng lên giấc mơ rất lãng mạn mà lại rất chân thực của người
nông dân Nam Bộ” [13;tr.197]. Chính những tìm tòi sáng tạo đó đã tạo nên một nhà
văn mang đậm phong cách Nam Bộ, mang dáng vẻ riêng của Anh Đức.
Trong bài viết Hòn Đất với vài nét phong cách của Anh Đức, Phương Lựu cũng
có những nhận xét tương tự như Phùng Quý Nhâm về bút pháp của Anh Đức “Bằng
bút pháp khá nhuần nhuyễn, tự nhiên và chân thật, nhà văn đã làm sống lại trong lòng
người đọc cuộc chiến đấu của Việt Nam cùng những con người Việt Nam trong chiến
đấu” [12;tr.879]
Khi bàn luận về tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức, Hoài Thanh cũng đề cặp đến
ngòi bút của Anh Đức. Tuy ngòi bút của Anh Đức còn vụng về, không được điêu
luyện như các tác giả khác cùng thời nhưng lại rất hồn nhiên, bình dị gần gũi với khẩu
ngữ người dân Nam Bộ. Chính vì thế làm cho người đọc dễ tiếp nhận, dễ đi vào lòng
người.“Anh Đức không có cái tài điêu luyện của Nguyên Ngọc trong Đất nước đứng
lên, của Nguyễn Trung Thành trong Rừng Xà Nu. Chẳng những thế, ngòi bút của Anh
Đức còn có những lúc vụng về, còn có những chỗ rề rà, còn khá nhiều hạt sạn nhưng
ngòi bút của Anh Đức có cái hay lớn là rất hồn nhiên. Nhiều khi người đọc có cảm
tưởng như cuộc sống tự nó lên vậy thôi, không có bàn tay nào sửa sang, đẻo gọt”
[19;tr.132]. Cũng trong Hòn Đất, hòn ngọc, Hoài Thanh cho rằng dù Hòn đất còn có
những tỳ tích này nọ, chưa được hoàn chỉnh nhưng “Hòn Đất vẫn đúng là hòn ngọc, là
chuyện. Ít thấy sự trau chuốt bóng nhoáng và cũng ít sự tinh vi khúc mắc, vậy mà cái
cách cái điệu nói chuyện, viết văn ấy thường dẫn người nghe tới những xúc động bất
ngờ, ấy là nội dung câu chuyện mang cái thật của kinh nghiệm sống, mang cái thật
của những suy nghỉ về thế thái nhân tình” [19;tr.274]. Chính ngôn ngữ ấy, đã đem lại
cho người đọc nhiều cảm xúc bất ngờ khi đọc tác phẩm của Anh Đức. Mặc dù lối viết
văn của Anh Đức có phần phóng khoáng, không gò bó nhưng tác giả đã có những tìm
tòi, chọn lọc về từ ngữ. Để chứng minh cho điều này, Phan Văn Sỹ đã dẫn ra trường
hợp sử dụng từ “bình tỉnh” trong truyện ngắn Con chị Lộc, đây là một từ mà tác giả
Xuân Trường trong bài viết Đọc Bức Thư Cà Mau của Anh Đức nhận định là một từ
“đẹp” và “có sức nặng lớn”. Về mặt từ ngữ, ta còn thấy Anh Đức có thói quen sử
dụng nhiều “Từ ngữ hay mang dáng vẻ riêng của cách nói Nam Bộ” [19;tr.274].
Cùng với sự đánh giá về sự thành công trong cách sử dụng ngôn ngữ của Anh
Đức, Diệp Minh Tuyền trong bài viết Anh Đức và những truyện ngắn, bút ký xuất sắc
của anh, đã đưa ra nhận định: “Ngôn ngữ của Anh Đức trong sáng, chính xác, chứng
tỏ rằng nó đã được trau chuốt cẩn thận” [19;tr.251]. Bên cạnh đó, tác giả cũng quan
tâm đến vấn đề dùng từ ngữ của Anh Đức.“Anh Đức đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ
địa phương Nam Bộ: những từ ngữ trong ngôn ngữ địa phương Nam Bộ trong tác
phẩm của anh được dùng ở mức độ cần thiết và những từ ấy thường là những từ mà
không thể có từ nào khác diễn đạt một cách thành công cái điều mà anh muốn nói.”
[19;tr.251]
Ngoài những ý kiến đánh giá cao về sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ
của Anh Đức, còn có một vài ý kiến chỉ ra những mặt còn hạn chế trong vấn đề sử
dụng ngôn ngữ của Anh Đức. Cụ thể như tác giả Thiếu Mai trong bài viết Về Một
truyện chép ở bệnh viện và Biển xa của Bùi Đức Ái, đã đánh giá “Về ngôn ngữ, còn
nhiều chỗ tác giả chưa được thận trọng lắm. Lắm lúc anh để cho nhân vật nói nhiều
câu quá sáo, quá văn hoa. Anh chưa chú ý tách bạch lời của tác giả và lời của nhân
vật” [19;tr.54]. Mặc khác, việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm của Anh Đức
“Đôi khi để tô đậm thêm màu sắc địa phương, anh có lạm dụng thổ ngữ Nam Bộ (rọ
mang đậm phong vị Nam Bộ của Anh Đức. Đồng thời cũng có thể hiểu được một phần
nào những tâm tư, tình cảm mà nhà văn muốn gởi gắm qua các nhân vật của mình.
Ngoài mục đích giúp cho người viết hoàn thành luận văn tốt nghiệp trong bốn
năm trên giảng đường Đại học. Thì việc nghiên cứu đề tài “Từ xưng hô trong một số
tác phẩm của Anh Đức” còn giúp cho người viết thống kê, phân loại và chỉ ra được giá
trị sử dụng của từ xưng hô trong tác phẩm của Anh Đức; làm quen và thích ứng được
với phương pháp làm việc khoa học, độc lập và sáng tạo.
4. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Anh Đức”, trước tiên
người viết đã đi vào tìm hiểu phần lý thuyết về từ xưng hô từ các công trình nghiên
cứu của các nhà ngôn ngữ học về Ngữ pháp, Ngữ dụng và Phong cách học tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, đưa ra một số mô hình xưng hô tiêu biểu và phân tích giá trị sử dụng từ
xưng hô thông qua ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm của Anh Đức.
Với yêu cầu như thế, tài liệu tham khảo của người viết trước hết là các công trình
nghiên cứu, các bài viết liên quan đến từ và từ xưng hô trong tiếng Việt, kế đến là các
tác phẩm của nhà văn. Do số lượng tác phẩm của Anh Đức tương đối nhiều nên người
viết không thể nào khảo sát được hết mà chỉ chọn ra một số tác phẩm tiêu biểu. Tài
liệu cơ bản mà người viết sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài này là
2 quyển: Tuyển tập Anh Đức – tập 1 và Tuyển tập Anh Đức – tập 2, NXB văn học Hà
Nội- 1997. Bởi vì những tác phẩm trong 2 quyển này không chỉ là những tác phẩm tiêu
biểu của Anh Đức mà nó còn là những tác phẩm phản ánh được cuộc sống chân thật
của người dân Nam Bộ trong thời kì chiến tranh. Qua đó, người viết cũng so sánh
những tác phẩm đó với nhau để thấy được những nét nổi bật trong việc sử dụng từ
xưng hô trong sáng tác của nhà văn Anh Đức
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn này, người viết luôn tìm hiểu và lựa chọn những
phương pháp nghiên cứu cơ bản, thuận tiện nhằm làm nổi bật lên nét đặc sắc trong
1.1.1. Các quan điểm khác nhau về từ tiếng Việt
Theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ
nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một khối viết liền”
[8;tr.168]
Đái Xuân Ninh trong Hoạt động của tiếng Việt, cho rằng: “Từ là đơn vị cơ bản
của cấu trúc ngôn ngữ giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều
đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh.” [14;tr.24]
Đỗ Hữu Châu thì cho rằng:“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,
bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về
giống….) và cú pháp trong câu, nằm trong một số kiểu cấu tạo nhất định, ứng với ý
nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ
thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.” [5;tr.29]
Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng: “Từ
là đơn vị cơ bản, là đơn vị cốt lõi để tạo nên các đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn
bản. Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài
ngôn ngữ.” [5;tr.17]
Dựa vào các quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về từ tiếng
Việt, đã khái quát lên được phần nào sự phức tạp và đa dạng của việc nghiên cứu từ
trong hệ thống tiếng Việt. Do mỗi tác giả có cách hiểu khác nhau về khái niệm hình vị
trong ngôn ngữ học đại cương, mỗi tác giả đứng ở một góc độ nghiên cứu khác nhau
nên dẫn đến cách lựa chọn các đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các nhà nghiên cứu
cũng khác nhau.
1.1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt
Qua các quan niệm về từ của các tác giả trên cho thấy đặc điểm chung của từ: Từ
là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, mang tính cố định, có sẵn; Từ là đơn vị
nhỏ nhất để tạo nên câu. Từ đó, chúng ta có thể khái quát các đặc điểm cơ bản của từ
hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể.
Về khả năng kết hợp: động từ thường có các phụ từ đi kèm để biểu thị các ý
nghĩa quan hệ có tính chất tình thái. Ngoài ra, động từ còn kết hợp được với thực từ
nhằm phản ánh nội dung vận động của quá trình.
Động từ có khả năng đảm nhận nhiều chức năng cú pháp khác nhau. Động từ
cũng được chia thành hai lớp: động từ độc lập và động từ không độc lập.
Ví dụ: Đi, đứng, chạy, nhảy,…
Tính từ
Tính từ là từ chỉ ý nghĩa đặc trưng. Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính
từ thường có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ
(so sánh và miêu tả theo thang độ).
Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ nhưng không kết hợp được với “hãy”,
“đừng”, “chớ”, có thể kết hợp với thực từ đi kèm (bổ nghĩa cho tính từ).
Chức năng chính của tính từ là làm vị ngữ trong câu. Tính từ chia thành hai lớp:
lớp từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ và lớp từ chỉ đặc trưng xác định thang
độ.
Ví dụ: Đẹp, xấu, hiền lành,…
Số từ
Số từ là những từ biểu thị ý nghĩa số.
Về khả năng kết hợp của số từ phổ biến là được dùng kèm với danh từ được biểu
thị số lượng sự vật được nêu ở danh từ.
Số từ có khả năng đảm nhận một số chức năng cú pháp: làm chủ ngữ, vị ngữ
nhưng lại bị hạn chế trong những điều kiện nhất định của kết cấu câu trong văn bản.
Số từ được chia thành hai lớp: số từ xác định và số từ không xác định.
Ví dụ: Một, hai, ba,…
Đại từ
Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ.
Về khả năng kết hợp, đại từ không chỉ thay thế cho một thực từ (danh từ, động từ,
Nhóm phó từ phủ định, khẳng định: không, chẳng, chưa, có,…
Nhóm phó từ trình độ: rất, lắm, quá,…
Nhóm phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ,…
Nhóm phó từ chỉ kết quả: mất, được,…
Nhóm phó từ chỉ tác động: cho, biếu,…
Nhóm phó từ chỉ các ý nghĩa tình thái chủ quan hoặc khách quan: chợt, bỗng
dưng, đột nhiên,…
Ví dụ: chúng em đã rãi bao nhiêu đá mà đường còn ra thế.
Kết từ
Kết từ là dấu hiệu biểu thị các quan hệ cú pháp giữa các thực từ một cách tường
minh.
Khả năng kết hợp và chức năng cú pháp, kết từ được dùng kết nối các từ, các kết
hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ cú pháp. Kết từ có 2 lớp: kết từ chính phụ và
kết từ đẳng lặp.
Tiểu từ
Tiểu từ là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn và nội dung
phản ánh. Ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái.
Tiểu từ không có khả năng kết hợp như thực từ và phần lớn các từ loại hư từ.
Chúng chỉ được dùng trong câu với chức năng biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình
thái ở bậc câu và ở văn bản. Tiểu từ cũng có 2 loại: trợ từ và tình thái từ.
1.1.3.2. Theo Đinh Văn Đức trong “Ngữ pháp tiếng Việt từ loại”
Hệ thống từ loại tiếng Việt chia ra thành ba loại từ: Thực từ, hư từ và tình thái từ.
Thực từ
Các từ loại trong thực từ giống như sự phân chia từ loại theo nhóm 1 của Diệp
Quang Ban.
Danh từ
Danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ loại của ngôn ngữ nói
1.2.1 Khái niệm về từ xưng hô
Tiếng Việt là tiếng có từ xưng hô rất phong phú và đa dạng, có thể dùng nhiều
cách khác nhau để xưng gọi. Do đó, cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ xưng
hô trong tiếng Việt.
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ dụng học, đã đưa ra khái niệm “Xưng hô
là hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn
ngôn với người nói, người tiếp thoại. Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” [3;tr.264].
Trong Đại từ điển tiếng Việt thì lại đưa ra một định nghĩa khác về từ xưng hô là
“Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong thực từ” [22;tr.1880].
Còn ở Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Tự xưng và gọi người khác là ai đó với nhau
nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai bên” [18;tr.1872]
Từ những định nghĩa trên, cho ta thấy có rất nhiều cách nói khác nhau cũng như
khái niệm khác nhau về từ xưng hô. Tùy thuộc vào sự tiếp nhận của mỗi người mà có
cách hiểu khác nhau về từ xưng hô.
Còn trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Nở định
nghĩa từ xưng hô như sau: “Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi
giao tiếp.” [13;tr.49]
Để thực hiện hành động xưng hô thì người nói cần có một phương tiện biểu đạt
mà phương tiện đó chính là từ xưng hô. Thế nhưng khác với định nghĩa về xưng hô,
định nghĩa về từ xưng hô ít được đề cặp đến. Nhìn chung, từ xưng hô là những từ dùng
để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp.
1.2.2. Các loại từ xưng hô trong tiếng Việt
Từ xưng hô là một bộ phận trong hệ thống từ loại tiếng Việt nên chúng ta có thể
phân chia từ xưng hô theo từ loại. Do tính chất đặc thù của từng loại phân môn khác
nhau nên các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có những nghiên cứu về các loại từ xưng hô
trong tiếng Việt ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau.
Số
Số ít
Ngôi gộp
Số nhiều
Các biến thể
hỗn số
Ngôi
Ngôi thứ
Tao
Ta
Chúng tao
Tau (tao)
nhất (người
Tôi
Mình
Chúng tôi
Chúng mày
Mi (mày)
hai (người
Bay (mi)
Chúng bay
Bây (bay) (1)
Mày (bậu) (2)
nghe)
Ngôi thứ
Nó
Chúng nó
ba (người,
Hắn
Họ
Nó (va)
vật được
1.2.2.2. Từ xưng hô dùng trong gia đình.
Theo quan điểm của các nhà Ngữ dụng học từ xưng hô dùng trong gia đình là các
từ xưng hô chỉ quan hệ thân tộc (gọi tắt là từ thân tộc). Điển hình là Đỗ Hữu Châu cho
rằng: “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình,
họ tộc có quan hệ huyết thống nội ngoại xa gần với nhau” [3;tr.274]. Còn trong Đại
cương ngôn ngữ học, ông lại chia từ thân tộc trong tiếng Việt thành ba nhóm: nhóm
thứ nhất bao gồm những từ như: U, bầm, tía, ba, má,…; nhóm thứ hai bao gồm các từ
như: anh, chị, em, chú, bác, cha, mẹ, cháu, con,…; nhóm thứ ba bao gồm các từ như:
anh họ, ông nội, chị họ, dâu, rể,… Mỗi một nhóm điều có đặc điểm riêng.
Những từ thuộc nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai mới được dùng để xưng hô với
nhau được, còn nhóm thứ ba không thể dùng để xưng hô với nhau được.
Nhóm thứ nhất chỉ dùng để xưng hô không dùng để miêu tả quan hệ, còn nhóm
thứ ba dùng để miêu tả quan hệ chứ không dùng để xưng hô. Đặc biệt hơn hết là nhóm
thứ hai vừa dùng để miêu tả vừa dùng để xưng hô đều được.
Theo Lê Biên, trong quan hệ gia tộc, thân tộc “Chủ yếu dùng các danh từ thân
thuộc, rất ít dùng đại từ xưng hô gốc, theo một tôn ti chặt chẽ, tương đối ổn định”
[2;tr.127]. Như những khuôn hình có sẵn, ràng buộc mọi người phải chấp nhận, tuân
theo, các từ xưng hô phản ánh các quan hệ: thứ bậc (trên/dưới), tuổi tác, giới tính, địa
vị xã hội,… Trong đó, quan hệ thứ bậc dùng trong gia tộc quyết định và chi phối các
quan hệ khác.
Trong gia đình, họ tộc xưng hô bằng từ thân tộc luôn luôn thể hiện sự đối lập
trên, bậc dưới. Tuy nhiên, sự đối lập theo bậc này chỉ chặt chẽ khi người bậc dưới còn
nhỏ tuổi, chưa gia đình, chưa con cái và chưa có định danh phận. Ngoài ra, trong gia
đình còn sử dụng lối thay ngôi theo ngôi con, cháu để xưng hô với nhau. Cách gọi thay
ngôi này chỉ dùng trong ngữ vực cực thân tình và hoàn toàn trong không khí gia đình,
không có sự có mặt của những người ngoài gia đình, họ hàng.
Trong gia đình có thể có nhiều thế hệ giao tiếp với nhau, vì vậy họ bị bắt buộc
giao tiếp mà có cách xưng hô cho phù hợp.
Xưng hô giữa cha mẹ với con cái trong gia đình.
Xưng hô giữa cha, mẹ với con cái là mối quan hệ hình thành thứ bậc về huyết
thống và máu mủ. Cho nên, khi xưng hô thường dùng một số câu mang tính đặc trưng
của giao tiếp nghi thức. Tuy nhiên, có một số trường hợp ở vùng nông thôn cha mẹ
thường có thói quen gọi con cái là mày và xưng tao. Cách xưng gọi như thế không hề
có ý bực bội hay phật ý mà trái lại nó mang một ý nghĩa thân mật trong giao tiếp đối
với quan hệ cha, mẹ và con cái. Ngược lại, ở vùng thành thị hay những vùng lân cân
thành phố cha mẹ mà xưng gọi mày, tao với con cái là tỏ thái độ bực bội, không hài
lòng về con cái của mình.
Khi con cái xưng hô với cha, mẹ không cần phải theo một quy luật bất biến nào
mà xưng hô theo quy tắc vận động, linh hoạt theo từng hoàn cảnh tương ứng với độ
tuổi của cha mẹ và sự thay đổi ngôi thứ trong gia đình. Trước người thứ ba bằng hoặc
xấp xỉ tuổi của con thì cha mẹ thường gọi con một cách lịch sự nhã nhặn, thân mật và
âu yếm. Trong cách cha, mẹ gọi con cái một cách thân mật, nếu kèm thêm ngữ sở hữu
sẽ làm tăng tính biểu cảm, trịnh trọng, pha cười hài hước như gọi: cô/cậu + tên, cô/cậu
+ này/ấy, anh/chị + tên + này/ ấy. Khi người thứ ba bằng tuổi mình, con cái thường
gọi cha mẹ kèm theo vai của mình với người thứ ba. Còn khi cần giữ ý tứ con cái có
thể gọi cha/mẹ + mình/tớ/tao, ông/bà già + mình/tớ/tao để biểu thị sự gần gũi, quen
thuộc.
Khi giao tiếp với người thứ ba ít tuổi đối với con của mình cha, mẹ thường gọi
con cái bằng vai của con với người đó, để có được sự thân mật hơn, cha mẹ có thể gọi
con cái như tên kèm theo ngữ sở hữu: nhà tôi, nhà ông, nhà cô. Nhìn chung chỉ có cha
mẹ thường xưng hô là cha/ mẹ, ba/ má, con … còn người con tùy theo độ tuổi, vùng
sinh hoạt văn hóa và mức giáo dục mà có cách xưng gọi khác nhau trong giao tiếp.
Trong cách xưng hô giữa cha mẹ và con cái còn có một số cách gọi con rất đặc biệt,
chỉ dùng khi con cái có gia đình, có con cái: cha/ mẹ + tên(con của người con), đây là
cách gọi thay vai cháu.