KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
HỒNG NHI
TÌM HIỂU TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Luận văn tốt nghiệp
ngành NGỮ VĂN
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN: ThS. CHIM VĂN BÉ
ĐIỂM A
CẦN THƠ, THÁNG 04 NĂM 2011
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cơ bản của
câu tiếng Việt. Ranh giới đề - thuyết trong câu tiếng Việt có thể đƣợc nhận diện nhờ
một số yếu tố đặc biệt đƣợc gọi là tác tử chuyên dùng đó là: thì, mà, là.
Truyện Kiều ra đời tính đến nay đã hơn hai thế kỉ và cũng đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu Truyện Kiều ở rất nhiều khía cạnh. Ngôn ngữ trong Truyện Kiều là
một trong những vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, đề
tài “Tìm hiểu tác tử thì, mà, là trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” là một đề tài mới,
chƣa đƣợc khai khác, chƣa có công trình nghiên cứu nào. Chọn đề tài này chúng tôi
muốn tìm hiểu xem văn chƣơng thời trƣớc đã sử dụng tác tử ra sao. Và cụ thể là ba tác
tử thì, mà, là đã đƣợc Nguyễn Du sử dụng nhƣ thế nào trong Truyện Kiều – một tác
Khoảng mƣời năm sau, Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức
năng có bàn đến thì và là nhƣng vẫn chƣa chạm đến chữ mà, một tác tử có chức năng
rất phức tạp, mặc dù mà xuất hiện trong rất nhiều câu ông dẫn ra.
Sau này, trong Giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt – Cú pháp học
Chim Văn Bé đã nghiên cứu, tìm hiểu và đƣa ra những lí thuyết chung về ba tác tử
này. Ông đã lí giải cụ thể những đặc điểm và cách sử dụng các yếu tố này trong việc
đánh dấu và phân giới đề - thuyết của câu, cú, tiểu cú. Đặc biệt là đối với mà, một yếu
tố có nhiều chức năng phức tạp trƣớc giờ chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu tìm hiểu đến.
Đối với ba tác tử này cũng có một vài công trình nghiên cứu, vận dụng chúng
vào phân tích cấu trúc câu tiếng Việt nhƣ:
- Tục ngữ Việt Nam – Cấu trúc và thi pháp - Nguyễn Thái Hòa (1997)
- Cấu trúc cú pháp của các đơn vị tục ngữ - Nguyễn Đức Dƣơng (1998)
Riêng đối với Truyện Kiều thì cũng đã có không ít những công trình nghiên cứu.
“Trong các vấn đề tranh luận về Truyện Kiều xưa nay, có một vấn đề duy nhất dường
như không có mấy ý kiến trái ngược. Đó là vấn đề những thành tựu về ngôn ngữ văn
học của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Hầu như các nhà nghiên cứu, bình luận đều
khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn
ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại lên một
đỉnh cao chói lọi” [12:359].
Trong 200 năm nghiên cứu bàn luận về truyện Kiều – Lê Xuân Lít đã tập hợp
1024 công trình của các tác giả nghiên cứu Truyện Kiều từ trƣớc tới nay, trong đó có
nhiều bài viết về ngôn ngữ trong Truyện Kiều nhƣ:
- Đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ truyện Kiều – Đào Thản, trên cơ sở
thống kê đã trình bày một cách thuyết phục về việc khẳng định ngôn ngữ Truyện Kiều
rất phong phú và đa dạng, có những nét đặc biệt về cú pháp và mang đậm tính nhân
3
dân. Ông cho rằng: “Cách làm giàu của Nguyễn Du về vốn từ đáng chú ý nhất là phát
đánh dấu và phân giới đề - thuyết thì, mà, là, và lí thuyết chung về đề tình thái, thuyết
tình thái đƣợc lấy từ các sách về ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo, Chim Văn
4
Bé và một số tác giả khác… Qua đó chúng tôi vận dụng vào khảo sát Truyện Kiều của
Nguyễn Du để làm rõ thêm đề tài nghiên cứu.
V. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành tiếp cận tìm đọc tài liệu,
lƣợc thuật tài liệu, thống kê, phân loại, và sau đó phân tích, tổng hợp tài liệu. Và trên
nền kiến thức chung về cấu trúc đề - thuyết và các đặc điểm, chức năng, cách dùng của
ba tác tử thì, mà, là, chúng tôi tiến hành khảo sát vào tác phẩm Truyện Kiều của
Nguyễn Du để đƣa ra kết quả cho luận văn.
5
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng một
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CHUNG
I. CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP
CHỨC NĂNG
1. Khái niệm về đề và thuyết
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng thì cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cơ bản của
câu tiếng Việt. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã tìm hiểu và đƣa ra nhiều định nghĩa
khác nhau về đề - thuyết. Sau đây chúng tôi xin dẫn ra một vài định nghĩa của một số
tác giả.
Trong Ngôn ngữ học và tiếng Việt, Lƣu Vân Lăng cho rằng: “Đề và thuyết là
vào sự tình được nêu trong câu, cú chính. Nó thường nêu lên một hay một vài đối
tượng như sự vật ngoại tại, có mối quan hệ nào đó với sự tình được câu, cú chính biểu
đạt”.[3:55]
Nhƣ vậy, ngoại đề là phần nằm bên ngoài cấu trúc câu, có chức năng dẫn nhập vào
sự tình đƣợc nêu trong câu.Câu, cú có thể có một hoặc vài ngoại đề có quan hệ đẳng
lập.
Trong các câu sau đây, phần gạch dƣới là ngoại đề:
3) Ngày hòa bình lập lại, bấy giờ An đã là một tiểu đoàn trưởng. (NMC)
4) Ngay cả đến trẻ con, chúng nó cũng không bậy bạ như xưa. (VTP: SĐ)
Trên bề mặt cấu trúc của câu, có thể nhận diện ngoại đề dựa vào hai đặc điểm:
(1) Về ngữ điệu, ngoại đề thƣờng đƣợc tách khỏi phần còn lại của câu, cú bằng
một quãng ngắt giọng ngắn.
(2) Nếu ngoại đề nêu lên một đối tƣợng có tham gia vào sự tình đƣợc biểu đạt
tiếp theo trong câu chính, thì đối tƣợng đó sẽ đƣợc nhắc lại bằng cách lặp từ hay thay
thế bằng đại từ hồi chiếu.
Ngoại đề không thƣờng xuyên xuất hiện trong câu, chỉ là thành phần phụ nên
không thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt.
2.2. Nội đề
Nội đề thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. Nội đề gồm hai tiểu loại. Tuy
nhiên, về cách gọi tên hai tiểu loại trong nội đề thì lại không nhất quán với nhau giữa
các tác giả. Theo Cao Xuân Hạo thì nội đề gồm: chủ đề và khung đề. Chủ đề và khung
đề đƣợc Cao Xuân Hạo định nghĩa:
“Chủ đề là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết, cái chủ
thể của sự nhận định”. [4:154]
7
“Khung đề là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh
huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói ở phần thuyết có hiệu lực”.
8
Dƣới đây là một số ví dụ về hiện tƣợng ghép:
10) Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm đang quây quần với nhau
trong xó bếp. (NC)
Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm đang quây quần với nhau trong xó bếp.
Đề tài 1
Đề tài 2
Thuyết
Câu (10) có hai đề và một thuyết, hai đề đƣợc ghép với nhau bằng kết từ “và”.(câu
ghép đề)
11) Tôi ấp úng và vội vàng nhỏm dậy. (NC)
Tôi ấp úng và vội vàng nhỏm dậy.
Đề tài Thuyết 1
Thuyết 2
Câu (11) có một đề và hai thuyết, hai thuyết đƣợc ghép với nhau bằng kết từ
“và”.(câu nghép thuyết)
12) Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (TNĐL)
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
đt 1
t1
Cú 1
Có thể gọi câu có phần đề hay phụ tố trong phần đề đƣợc phức tạp hóa là câu
phức đề, câu có phần thuyết hay phụ tố trong thuyết đƣợc phức tạp hóa là phức thuyết,
câu có phần đề lẫn phần thuyết hay phụ tố trong phần đề và phần thuyết đƣợc phức tạp
hóa là câu phức đề - thuyết.
Dƣới đây là một số ví dụ về hiện tƣợng phức tạp hóa cấu trúc cú pháp:
14) Hắn hút đến điếu này là điếu thứ ba. (NC)
Hắn hút đến điếu này là điếu thứ ba.
đt
t
ĐK
T
Trong câu (14), thì đánh dấu đề - thuyết bậc câu, đề của câu đƣợc phức tạp
hóa một bậc đề - thuyết, có đề là đề tài.(câu phức đề)
15) Bà Tổng Hiền coi hàng thì bà cũng vừa ý lắm. (HBC)
Bà Tổng Hiền coi hàng thì bà cũng vừa ý lắm.
đt
t
đt
ĐK
t
T
chúng tôi tiếp thu ba tác tử thì, mà, là theo cách lí giải của Chim Văn Bé.
1.1. Đối với thì
Thì có biến thể phát âm là thời, là tác tử chuyên dùng có chức năng đánh dấu và
phân giới đề - thuyết thuộc nhiều bậc, ngoại trừ những trƣờng hợp thì không đƣợc
dùng với chức năng này. Thì có hai chức năng chính đó là đánh dấu phần đề và đánh
dấu phần thuyết. Ngữ đoạn đứng trƣớc thì là đề, ngữ đoạn đứng sau thì là thuyết.
1.1.1. Thì đánh dấu phần đề:
Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết, khi đề mang tính chất
đối sánh với đề khác, đƣợc nêu ra hay mang tính chất tiền giả định. Đề đƣợc đánh dấu
bằng thì có thể là đề tài hoặc đề khung thuộc nhiều cấp độ.
Trong các câu sau đây thì đánh dấu phần đề (phần gạch dƣới):
17) Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?(ND)
18) Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng. (ND)
Cũng cần lƣu ý thêm rằng, thì đƣợc dùng đánh dấu đề đối sánh không chỉ diễn ra
trong tổ chức nội tại của câu, mà còn đƣợc thực hiện xuyên qua biên giới câu:
19) Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự
cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. (NC)
1.1.2. Thì đánh dấu phần thuyết
Thì đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết, khi đề của câu, cú,
tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời gian, không gian, cảnh huống hay số lượng và
không mang tính chất đối sánh.
Trong các câu sau đây thì đánh dấu phần thuyết (phần gạch dƣới):
20) Dần thức dậy thì trong nhà còn tối om. (NC)
11
làm đề khung nêu điều kiện thuộc nhiều cấp độ:
27) Tao mà bắt được đứa nào thì tao đuổi. (NCH:TN)
Trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, vì về mặt ngữ âm, mà gắn với
phần thuyết.
Ngoài ra, khi phân giới đề – thuyết mà còn có thể đƣợc dùng nhƣ một tác tử phủ
định. Khi đƣợc dùng với chức năng này, nếu sau mà không có các từ phủ định khác
12
nhƣ: không, chẳng, chả, thì câu, cú, tiểu cú có nghĩa phủ định. Ngƣợc lại, nếu sau mà
có các tác tử phủ định này, thì câu, cú, tiểu cú có nghĩa khẳng định.
28) Bài tập như vậy thì ai mà không làm được.
29) Bài tập như vậy thì ai mà làm được.
1.3. Đối với là
Là có thể đƣợc dùng với hai tƣ cách: tác tử chuyên dùng và vị từ quan hệ.
Là là tác tử chuyên dùng phân giới đề - thuyết, khi đó nó có vai trò thuyết hóa
những ngữ đoạn phi tuyến tính (phi vị từ tính) nhƣ danh ngữ, tiểu cú có chuyển tố (kết
từ) tiền tính, từ ngữ luôn có vật quy chiếu (referent) xác định nhƣ tên riêng, đại từ
nhân xƣng, đại từ trực chiếu, hồi chiếu, khứ chiếu. Trong trƣờng hợp này, là đánh dấu
phần thuyết và phân giới đề - thuyết. Ngữ đoạn đứng trƣớc là là đề, ngữ đoạn đứng sau
là là thuyết.
Khi là đƣợc dùng với chức năng này. Ta không thể tình thái là bằng cách đặt
trƣớc nó các yếu tố tình thái nhƣ: đã, sẽ, đang, vừa, mới, sắp, vẫn, còn…
30) Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. (ND)
31) Anh ra đi là để kiếm tiền.
Ngoài chức năng làm tác tử, là còn là vị từ quan hệ, khi đó trƣớc là có thể dùng
tác tử thì, mà hay có thể tình thái là bằng cách đặt trƣớc nó các loại yếu tố tình thái.
2.1. Quy tắc thứ nhất
Ở cùng một bậc quan hệ cú pháp, mỗi tác tử thì, mà, là có thể đƣợc dùng nhiều
lần, nhƣng thƣờng thì không qúa bốn lần.
35) Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.(TN)
36) Người là cha, là bác, là anh. (TH)
37) Cô thấy đời là sự nghèo khổ và sự nhẫn nhục của cha mẹ, là sự siêng năng
làm ăn của cô mà thôi. (VTP:GT)
2.2. Quy tắc thứ hai
Ở hai bậc quan hệ đề - thuyết gián cách, mỗi tác tử thì, mà, là cũng có thể đƣợc
dùng nhiều lần, tuy nhiên trƣờng hợp này xuất hiện không phổ biến.
(Vợ Văn Minh dẩu mỏ nói:
-Sống như vậy thật là trái lẽ tạo hóa.
Cụ Hồng phân trần:
38) Nên tôi mong cho cụ tôi về đi, là vì cụ tôi chết sớm ngày nào hay ngày ấy,
chứ sống mà ăn không được, ngủ không được, lúc nào cũng kêu rên, nằm đâu thì
phóng uế ra đấy, thì sống mà làm gì!(VTP:SĐ)
(Thế nào chúng ta cũng còn gặp nhau nữa)
39)(Mà) (cho dù) cô xuống dưới kia (thì) tôi cũng không bao giờ (mà) cho rằng
cô là người khi gặp khó khăn thì bỏ người khác. (NMC)
14
2.3. Quy tắc thứ ba
Ở hai bậc đề - thuyết kế cận nhau (tiếp giáp nhau), thì, mà, là hoặc đƣợc dùng
phân giới kết cấu đề - thuyết bậc trên, hoặc đƣợc dùng phân giới kết cấu đề-thuyết bậc
dƣới, nghĩa là không thể dùng thì, mà, là cùng một lúc ở hai bậc đề – thuyết kế cận
nhau.
40) Những đứa con lớn, đứa đi ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin những cái
Qua kiểm tra, chúng ta thấy trong câu (40 b), có thể dùng thì ba lần, vì thì ở đây
phân giới ba tiểu cú cùng một bậc làm thuyết ghép của câu. Trong câu (41 b), thì có
thể đƣợc dùng đến bốn lần để phân giới đề - thuyết trong bốn tiểu cú cùng bậc của câu.
Điều này càng chứng minh rõ quy tắc thứ nhất đã nêu là chính xác.
3. Cách dùng thì
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng đã đƣa ra những cách dùng chủ yếu của
tác tử thì. Theo Chim Văn Bé, đối với thì ta có thể lƣu ý một số trƣờng hợp sau đây:
3.1. Bắt buộc dùng thì
(1) Trong những câu mà nếu vắng thì, cấu trúc đề - thuyết không rõ ràng, khó
nhận diện, nghĩa của câu mơ hồ, dễ bị lẫn lộn với cấu trúc khác.
42) Bán thì làm văn tự. Không bán thì về. (NTT)
43) Không biết thì im lặng mà nghe người khác nói.
(2) Khi câu có đề dài, thuyết lại ngắn, ranh giới đề - thuyết khó nhận diện.
44) Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng
nhẫy. (NC)
(3) Trong kiểu câu ngắn, kiểu câu tục ngữ có dạng cô đúc.
45) Tham thì thâm. Túng thì tính.
(4) Khi câu có phần thuyết biểu đạt nội dung tình thái, đã đƣợc thành ngữ hóa,
tiêu biểu nhƣ: thì thôi, thì chết, thì nguy, thì phải, thì phải biết, thì khốn, thì đâu đến
nổi, thì hết chổ nói, thì khỏi phải nói, thì hết xẩy, thì bỏ mẹ,…
46) Người mà đến thế thì thôi,
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! (ND)
(5) Khi phần đề đã bị tỉnh lƣợc dựa vào ngôn cảnh hay tình huống.
(Anh đốt nhà thì hàng xóm bắt vạ anh)
47)- Thì ông đi ngồi tù cho chúng mày đi ăn mày cả lượt. (T. Hoài)
3.2. Không bắt buộc dùng thì
(1)Khi biên giới đề - thuyết đã rõ ràng nhờ tác dụng của ngôn từ hay ngôn cảnh,
(3) Khi ngƣời nói muốn nhấn mạnh nội dung biểu đạt của phần thuyết hay nhấn
mạnh cả sự tình trong mối quan hệ đối sánh với sự tình khác đã nêu ra hay đƣợc tiền
giả định. Trong trƣờng hợp này, là đƣợc dùng phối hợp với phó từ tình thái có ý nghĩa
hạn định: chỉ là, chỉ…là, mới là.
53) Anh…anh…chỉ là một thằng khốn nạn. (NC)
(4) Trong kiểu câu phản bác – cải chính (đối thoại hay độc thoại), là đƣợc dùng
để nhấn mạnh phần thuyết biểu đạt nội dung cải chính.
54) Bà sợ là sợ cái không khí nặng nề, giữ kẻ lẫn nhau trong gia đình. (XT)
(5) Trong kiểu câu có thuyết biểu đạt tình thái, đƣợc thành ngữ hóa, tiêu biểu
nhƣ: là may, là phúc, là giỏi, là cùng, là cái chắc, là khác, là được…
17
55) Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn thấy được gốc phần là may!
4.2. Không bắt buộc dùng là
(1) Trong kiểu câu có thuyết giải thích nguồn gốc, nguyên quán, quyền sở hữu,
thời gian, nguyên nhân…của sự vật nêu ở phần đề. Tất nhiên, khi có là thì ranh giới đề
- thuyết trong các kiểu câu trên rõ ràng hơn, dễ nhận diện hơn.
56) Năm nay là năm Tân Mão. (có thể bỏ là)
(2) Trong những tục ngữ có cấu trúc đối xứng, gồm hai vế hay nhiều vế song đôi
nhịp nhàng.
57) Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. (TN)
4.3. Một số trƣờng hợp thì và là có thể thay thế cho nhau
Với chức năng phân giới đề - thuyết, trong một số ngôn cảnh hay tình huống, thì
và là có thể thay thế cho nhau mà cấu trúc cú pháp không bị thay đổi.
58) Chắc rễ thì/ là bền cây.
sau mà là phó từ phủ định (không, chẳng) thì cả kết cấu có sắc thái khẳng định mạnh
hơn khi không có mà.
62) Con gái mà đẹp người đẹp nết thì chàng trai nào mà chẳng mê.
5.2. Không bắt buộc dùng mà
(1) Khi đề khung của câu chỉ điều kiện, đƣợc cấu tạo bằng tiểu cú, mà có thể đƣợc
dùng hay không đƣợc dùng.
63) Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải
buồn? (có thể lƣợc bỏ mà)
(2) Khi câu có tiểu cú làm đề khung chỉ điều kiện điều giả định (phi thực), mà có
thể đƣợc kết hợp với là (= mà là), qua đó biên giới đề - thuyết hiện ra đậm nét hơn.
64) Tôi mà là anh, thì tôi đã tống cổ nó ra khỏi nhà.
Bên cạnh những chức năng đã nêu trên, mà còn đƣợc dùng với nhiều chức năng
phức tạp khác nhƣ: kết nối chính tố với định tố đứng sau trong danh ngữ, kết nối đề,
thuyết hay cú có quan hệ đẳng lập, kết nối ngữ vị từ có quan hệ chính – phụ, …
Ngoài thì, mà, là thì bên cạnh đó đề và thuyết còn đƣợc đánh dấu bằng một số
yếu tố phụ trợ khác nhƣ: này, ấy, nọ, kia,hắn, nó họ, người ta,giá, nếu, mặc dầu, khi,
lúc,dạo, phen…đánh dấu thêm phần đề; liền, bèn, lập tức, tức khắc, tức thì, ắt, tất
(tất nhiên), chắc, chắc chắn, chắc hẳn, rõ, thật, đích, thật (thực, thiệt), bổng, bổng
dưng, đột nhiên, chợt, (bất) thình lình…đánh dấu thêm phần thuyết.
III. ĐỀ TÌNH THÁI VÀ THUYẾT TÌNH THÁI
1. Đề tình thái
Đề tình thái là loại đề nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá chủ quan của ngƣời nói về sự
tình hay sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo.
Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú hay tiểu cú.
19
Đề tình thái có nội dung thể hiện những ý nghĩa tình thái nhƣ thể hiện ý nghĩa tình
chút nữa, tí nữa, một tí nữa, thiếu (một) chút nữa, không khéo, khéo không (thì)…
20
(7) Nhận định sự tình là tích cực hoặc tiêu cực không nhƣ ý muốn so với một sự
tình khác đƣợc giả định theo ý muốn. Dạng thức biểu đạt: đàng này (thì)…
(8) Thể hiện thái độ chấp nhận sự tình đƣợc nêu tiếp theo một cách miễn cƣỡng,
ngoài ý muốn. Dạng thức biểu đạt: thôi thì…
(9) Đƣa ra cách nhìn nhận, đánh giá sự tình đƣợc nêu tiếp theo. Các dạng thức
biểu đạt: nói chung, suy cho cùng, xét cho cùng, về cơ bản, về đại thể (thì)…
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với thì:
65) Theo ý tôi thì trẻ con thời buổi này cần được hưởng cả mọi sự giáo
dục.(VTP)
66) Nếu tôi không nhầm thì hiện ngài đang chiếm đoạt vợ con người ta.
(VTP:SĐ)
67) Thật ra thì Hồng đâu có ngủ. (NC)
68) Đúng lí tôi đã mời cô xuống. (NMC)
69) Dù sao hôm nay cũng là ngày nó lấy chồng. (DH)
70) Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. (NT)
71) Thật vậy, nếu trắng, ông đã là người Âu, nếu vàng , ông đã là người Á,
nếu đỏ, ông đã là người Mĩ, nếu nâu, ông đã là người Úc, và nếu đen, ông đã là người
Phi. Đàng này ông lại xanh xanh, đích là thứ da của chủng tộc người nghiện. (NCH:
BĐC)
72) Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì khuất mặt chẳng thà lòng đau! (ND)
1.2. Đề tình thái đi với mà
Đề tình thái đi với mà có 11 nội dung và đƣơc biểu đạt bằng các dạng thức:
(1) Đánh giá điều đƣợc nêu tiếp theo là may mắn xét trong mối quan hệ với
tiếp theo, kèm theo thái độ tiếc rẻ: phải chi (mà), giá (mà)…
(10) Thể hiện sự tình hay sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo là điều tùy nghi, tùy
thích thực hiện, không bi hạn chế. Các dạng thức biểu đạt: tha hồ, mặt sức (mà)…
(11) Khẳng định điều đƣợc nêu tiếp theo là chân thực hay là khả năng cùng
cực. Dạng thức biểu đạt: có mà.
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với mà:
73) May mà mày không bỏ mạng đấy. (NCH)
74) Hơi đâu mà anh lo chuyện hàng xóm.
75) Có làm thì mới có ăn,
Không dưng ai dễ đem phần đến cho. (CD)
76) Dại gì mà tha thằng ăn cắp. (NCH)
77) Phải chi tôi nghe lời cha mẹ thì đâu đến nổi.
78) Phen này độc lập rồi, tha hồ mà kiến thiết. (NĐT)
22
79) Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời. (NC)
1.3. Đề tình thái đi với là
Đề tình thái đi với là có 16 nội dung và đƣơc biểu đạt bằng các dạng thức sau:
(1) Khẳng định tính chân thực, các dạng thức biểu đạt thƣờng gặp: quả, thật
(thực), quả thật, thật quả, sự thật, thú thật, kì thực/ thật, đích thực, đúng, quả tình, thật
tình, thiệt tình, rõ, thật rõ, rõ ràng, phải nói, có thể nói, có thể gọi, phải thừa nhận,
phải công nhận (là)…
(2) Phỏng đoán về tính chân thực của sự tình với nhiều mức độ khác nhau.
Các dạng thức biểu đạt thƣờng gặp: chắc, đâu như, không chừng, họa là, họa chăng,
phải chăng, không khéo, dễ thường, không loại trừ, dường như, hình như, chừng như,
cơ chừng, ý chừng, có lẽ, có thể, có vẻ (là)…
(3) Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình đƣợc nêu tiếp theo:
chẳng hiểu, chả hiểu, chẳng hiểu, chẳng rõ, chẳng hay, chưa biết, chưa biết chừng
ngƣời nói muốn nhấn mạnh. Các dạng thức biểu đạt: thậm chí, đến nổi, đâu đến nổi,
không đến nổi (là)…
(14) Biểu thị thái độ chấp nhận miễn cƣỡng sự tình đƣợc nêu tiếp theo nhƣ là
giải pháp tình thế, hay nhìn nhận sự tình, sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo là ý nghĩa của
sự tình hay sở đề đã đƣợc nêu ra. Dạng thức biểu đạt: âu, âu cũng, coi như, cầm bằng,
chẳng qua, chả trách (là)…
(15) Đánh giá sự tình hay sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực
xét trong mối quan hệ với tình huống cụ thể. Dạng thức biểu đạt: có điều, chỉ có điều,
được (một) cái, chết cái, mắc cái, ngặt cái, khốn nổi, khổ nổi, hiềm một nổi, chết một
nổi, hiềm một nổi, ác một nổi, chết một nổi, chỉ tiếc một điều (là)...
(16) Dẫn nhập một nhận định mang tính chất đúc kết, tổng kết. Các dạng thức
biểu đạt: rốt cuộc, chung quy, kết cục, kết quả, vị chi, nói tóm lại (là)…
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với là:
80) Có con mà lại không nhận con thì thật là phạm một tội đại ác. (VTP:TN)
81) Lúc nãy hình như cô ả có đem một cái ghế đẩu đi theo. Nhưng vậy chắc là
ra ngồi chơi mát ngoài vườn. (VTP:GT)
82) Chẳng qua là câu chuyện đặt cho vui để trêu chọc chị thôi. (NK)
83) Mày làm gì có nhiều tiền thế này? Hẳn là tiền buôn thuốc phiện
lậu.(NCH:TN)
84) Vợ anh như ngọc như ngà,
Anh còn tình phụ nữa là thân tôi. (CD)
85) Và người con gái tôi yêu nơi làng quê. Có ai ngờ chân lấm bùn mà tôi ngỡ
gót chân tiên. (AT)
86) Không hề gì. Miễn là nàng cứ để tay thế mãi. (NCH)
24
87) Thì ra hắn định đến đây nằm vạ. (NC)
88) Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị
chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. (NTT:TĐ)
25