hội thoại trong truyện kiều của nguyễn du - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thủy

HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN
KIỀU CỦA NGUYỄN DU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN HOÀNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
MỤC LỤC

0TMỤC LỤC0T 3
0TMỞ ĐẦU0T 5
0T0.1. Lý do chọn đề tài0T 5
0T0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài0T 7
0T0.2.1. Những nghiên cứu về hội thoại0T 7
0T0.2.2. Những nghiên cứu về hội thoại trong Truyện Kiều0T 10
0T0.3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu0T 11
0T0.3.1. Đối tượng nghiên cứu0T 11
0T0.3.2. Mục đích nghiên cứu0T 11
0T0.4. Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu0T 12

0T2.1.5. Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời trong màn đoàn viên0T 64
0T2.2. Quy tắc điều hành nội dung hội thoại trong Truyện Kiều0T 67
0T2.2.1. Nguyên tắc cộng tác trong các cuộc thoại của Truyện Kiều0T 67
0T2.2.2. Lý thuyết quan yếu trong một số cuộc thoại của Truyện Kiều0T 71
0T2.2.2.1. Lý thuyết quan yếu trong đoạn báo ơn báo oán0T 72
0T2.2.2.2. Lý thuyết quan yếu trong đoạn Kiều khuyên Từ Hải0T 74
0T2.3. Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự của các cuộc thoại trong Truyện Kiều0T 76
0T2.3.1. Quy tắc lịch sự của R. Lakoff và Leech thể hiện trong Truyện Kiều0T 77
0T2.3.2 Chiến lược lịch sự trong Truyện Kiều0T 78
0T2.4. Tiểu kết0T 81
0TKẾT LUẬN0T 82
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T 85
0TPHỤ LỤC0T 88
0TPhụ lục 1: Kim – Kiều gặp gỡ0T 88
0TPhụ lục 2: Thúy Kiều khuyên Kim Trọng giữ ý0T 90
0TPhụ lục 3: Trao duyên0T 91
0TPhụ lục 4: Kiều đến thanh lâu0T 93
0TPhụ lục 5 : Sở Khanh lừa Kiều0T 94
0TPhụ lục 6 : Thúc Sinh hứa hẹn cùng Kiều0T 95
0TPhụ lục 7: Hoạn Thư hành hạ Kiều0T 97
0TPhụ lục 8: Phiên tòa báo ơn báo oán0T 98
0TPhụ lục 9: Kiều cảm tạ Từ Hải0T 101
0TPhụ lục 10: Kiều khuyên Từ Hải0T 102
0TPhụ lục 11: Màn đoàn viên0T 103
MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài
Thứ nhất, theo dòng lịch sử, tác phẩm văn chương luôn chịu sự thử thách, chọn lọc khắc
nghiệt của thời gian. Vậy mà hơn 200 năm sau, độc giả vẫn yêu mến Truyện Kiều, yêu mến Nguyễn
Du, vì “Nói đến di sản Nguyễn Du chủ yếu phải nói đến Truyện Kiều. Nói về việc tiếp thu nghiên
cứu di sản Nguyễn Du quan trọng nhất phải nói về quá trình tiếp thu nghiên cứu Truyện Kiều”

và có vai trò quyết định trong hội thoại chính là ngôn ngữ).
Như vậy, hội thoại và lý thuyết về hội thoại (bao gồm những yếu tố cơ bản như vận động hội
thoại, cấu trúc hội thoại, thương lượng hội thoại, quy tắc hội thoại…) là những vấn đề gắn bó một
cách chặt chẽ, mật thiết với đời sống hằng ngày của chúng ta. “Người cùng giao tiếp với mình nói
cái gì? Họ nói như thế nào? Nói vậy có ý gì? Tại sao họ lại nói như vậy mà không nói khác đi? …”.
Những câu hỏi như vậy hầu như luôn luôn được đặt ra trong óc ta khi ta giao tiếp hội thoại với một
người nào đó.
Hội thoại là một vấn đề có vẻ như hiển nhiên, không cần tìm hiểu về nó con người vẫn có thể
dễ dàng giao tiếp với nhau. Nhưng hội thoại là một phần của cuộc sống muôn màu muôn vẻ nên nó
luôn luôn mới lạ, rất thực tế và vô cùng thú vị trong đời sống chúng ta. Nghiên cứu về một số yếu tố
của hội thoại giúp ta hiểu hơn về các yếu tố tâm lý, tính cách, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ, hành động,
kinh nghiệm sống, trình độ hiểu biết… của nhân vật giao tiếp. Thúc Sinh bảo với Thúy Kiều rằng
chàng hoàn toàn có khả năng đưa Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh:
Đường xa chớ ngại Ngô Lào,
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
Lời nói trên phải chăng đã cho chúng ta thấy một sự quả quyết nhưng có phần khoác lác của
chàng Thúc?
Nghiên cứu về hội thoại nói chung sẽ giúp ta có một cái nhìn mới hơn, đầy đủ hơn về cuộc
thoại, về nhân vật giao tiếp. Từ đó, hoạt động giao tiếp của con người sẽ dễ dàng đạt hiệu quả hơn.
Thứ ba, có lẽ không cần phải nói nhiều đến vị trí của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc.
Điều đó đã được thể hiện qua biết bao công trình nghiên cứu miệt mài, say mê về Truyện Kiều và
những nhận định đúng đắn, sâu sắc, ý vị và tinh tế về Truyện Kiều, về Nguyễn Du. Người viết xin
mượn lời của văn sĩ Pháp René Craysac nói về Truyện Kiều: “Áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có
thể so sánh mà không sợ kém với văn chương kiệt tác, vô luận ở thời điểm nào và xứ nào.” [12,
407].
Như vậy, ta cũng đủ thấy rằng Truyện Kiều đã chiếm một vai trò quan trọng trong nền văn
học nước nhà. Và đã có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều thật thấu đáo, thật đặc sắc.
Nay, người viết muốn nhìn lại và nghiên cứu Truyện Kiều dưới một góc độ mới – góc độ hội
thoại. Vì Truyện Kiều là một tác phẩm tự sự (hình thức là thơ lục bát) nên hội thoại chiếm một vị trí
quan trọng và là lẽ đương nhiên. Hội thoại làm cho Truyện Kiều gần gũi, chân thật, sinh động hơn.

đã nêu những vấn đề hết sức cơ bản và lý thú của ngữ dụng học. Ngoài ra, Đỗ Hữu Châu còn dành
rất nhiều tâm huyết cho bộ môn này thông qua nhiều giáo trình giản yếu, nhiều bài giảng và những
bài phân tích về ngữ dụng học rất đặc sắc. Có thể nói rằng các đóng góp của ông về ngữ dụng học
đã mang lại những kiến thức bổ ích và lý thú dành cho những ai yêu thích bộ môn này.
Đỗ Hữu Châu trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học của mình đã nêu một cách
đầy đủ, rõ ràng, chi tiết về lý thuyết hội thoại. Chương V trong “Đại cương ngôn ngữ học”, tập Ngữ
dụng học [3] đã trình bày sự vận động hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời, các quy tắc hội thoại,
thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại, ngữ pháp hội thoại, kết luận về cấu trúc hội thoại, tính
thống nhất của hội thoại.
Trước khi trình bày những vấn đề cơ bản về lý thuyết hội thoại, Đỗ Hữu Châu đề cập đến
vận động hội thoại nói chung. Sự trao lời, sự trao đáp, sự tương tác là những yếu tố cơ sở của vận
động hội thoại. Trong phần quy tắc hội thoại, Đỗ Hữu Châu lý giải vì sao phải bàn đến vấn đề quy
tắc hội thoại. Nhất thiết mỗi một cuộc hội thoại (dù trang trọng hay thân mật về cả nội dung lẫn hình
thức) đều cần có quy tắc của nó. Những công thức “siêu giao tiếp” (chữ dùng của Đỗ Hữu Châu)
kiểu như: đừng nói như vậy chứ, dịu dàng hơn một chút được không, đừng đánh trống lảng nhé, để
tôi nói xong đã, về việc này thì cậu phải nói trước mới được… cho ta thấy tầm quan trọng của việc
nghiên cứu các quy tắc trong hội thoại.
Đỗ Hữu Châu dẫn ra nhiều quy tắc hội thoại của các nhà nghiên cứu trước đó: nguyên lý
cộng tác, quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại và quy tắc chi
phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. Trong đó, ông chọn phân tích, lý giải ba quy tắc hội thoại
mà ông cho là quan trọng nhất, không thể thiếu để tiến hành thành công một cuộc hội thoại. Đó là,
quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung của hội thoại và quy tắc chi phối
quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự. Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách cụ thể, rõ ràng các quy tắc
hội thoại đó.
Nguyễn Đức Dân cũng đã có công trình nghiên cứu về ngữ dụng học [9]. Đây cũng là một
công trình nghiên cứu về ngữ dụng học rất đáng quan tâm. Quyển sách này cung cấp cho độc giả
những kiến thức ngữ dụng cơ bản cùng những kiến giải và thí dụ minh họa sâu sắc, dễ hiểu. Trước
khi nói về quy tắc các cuộc hội thoại, Nguyễn Đức Dân đã nêu những đặc điểm khái quát của một
cuộc thoại vì đó là cơ sở để tìm hiểu về quy tắc hội thoại.
Với ông, mỗi một cuộc thoại có 2 đặc điểm khái quát nhất. Đó là đặc điểm nội tại và đặc

tác, hàm ý hội thoại, hành động đe dọa thể diện,…
Như vậy, có thể thấy rằng những kiến thức về hội thoại là một lĩnh vực đang được đông đảo
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm.
Nhìn chung, tất cả những nhà Việt ngữ học nào có quan tâm đến ngữ dụng học cũng đều cho
độc giả thấy được những yếu tố quan trọng của hội thoại trong sự giao tiếp của con người với nhau.
0.2.2. Những nghiên cứu về hội thoại trong Truyện Kiều
Có thể nói, Truyện Kiều đã được nghiên cứu ở tất cả các bình diện có thể. Hầu như nhà
nghiên cứu nào về Truyện Kiều cũng có đề cập về hội thoại trong tác phẩm này dù ít hay nhiều
(dưới các dạng như: ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, lời bình luận trữ tình ngoại đề của tác giả,…).
Truyện Kiều là một truyện thơ, có cốt truyện với những biến cố quan trọng, nhân vật có tính
cách tâm lý rõ ràng, thậm chí còn là những điển hình sống động, có sức sống lâu bền với thời gian.
Do vậy, hội thoại là một phần quan trọng trong Truyện Kiều.
Trước tiên, phải kể đến Phan Ngọc với tác phẩm “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều” [24 ].
1TChúng ta có thể thấy trong công trình nghiên cứu của Phan Ngọc những vấn đề
của Truyện Kiều được đặt ra và giải quyết từ góc độ phong cách học với những kết luận có phần
mới mẻ, khác lạ so với cách tiếp cận truyền thống. Cuốn sách đã góp phần giúp cho độc giả có cái
nhìn đầy đủ hơn về Truyện Kiều cũng như các đoạn hội thoại.
Đặng Thanh Lê trong “Giảng văn Truyện Kiều” chủ yếu nghiên cứu về các đoạn hội thoại
giữa các nhân vật trung tâm với nhau (như Kiều với Từ Hải, Kiều với Kim Trọng, Hoạn Thư với
Thúy Kiều…). Bà đã có nhận định: “Ngôn ngữ đối thoại là thi pháp chủ yếu của những đoạn hội
thoại.” [20, 76].
Phạm Đan Quế đã có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về hội thoại trong Truyện Kiều
(chương VIII - Về những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương Truyện Kiều). Ông đã thống kê:
“Truyện Kiều có 73 cuộc thoại và riêng Kiều đã có 75 lượt lời trong 45 cuộc thoại. Nghĩa là trong
3254 câu Kiều thì tác giả đã dành riêng cho nhân vật chính 652 câu chỉ tả lời ăn tiếng nói của nàng:
quá một phần năm tác phẩm.” [27, 126]. Và “lời của nhân vật chiếm tới 1212 dòng thơ đối thoại tức
một phần ba tác phẩm” [27, 127].
Qua công trình nghiên cứu của mình, Phạm Đan Quế cũng chỉ ra các đơn thoại, song thoại,
tam thoại và đa thoại trong Truyện Kiều. Ông cũng đã trình bày một cách hết sức khái quát về một

- Nguồn ngữ liệu của đề tài “Hội thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” chính là tất cả
những cuộc thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Văn bản Truyện Kiều có rất nhiều, nhưng
người viết chọn bản “Duy Minh Thị 1872” của Nguyễn Tài Cẩn [2].
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hội thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Trên cơ
sở những cuộc thoại đa dạng và phong phú trong Truyện Kiều, người viết chủ yếu chỉ chọn một số
cuộc thoại tiêu biểu. Sự lựa chọn này được dựa theo những tiêu chí như đã nêu ở trên. Khi tìm hiểu
về quy tắc hội thoại, lý thuyết hội thoại và ứng dụng những tri thức ấy để phân tích Truyện Kiều thì
người viết có đi sâu phân tích những phương châm hội thoại, chiến lược lịch sự trong các cuộc
thoại. Bởi vì, hầu như bất kỳ một cuộc giao tiếp nào đó có thành công hay không đều phụ thuộc vào
các yếu tố này của hoạt động hội thoại.

0.5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Phương pháp này được vận dụng để thống kê
những cuộc thoại trong Truyện Kiều, phân loại và chọn ra những cuộc thoại tiêu biểu phục vụ cho
mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn: Luận văn vận dụng phương pháp
này để phân tích hội thoại, các quy tắc thoại và những vấn đề có liên quan, phân tích các cuộc thoại
cụ thể trong Truyện Kiều.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương pháp được vận dụng để so sánh, đối
chiếu các quan điểm khác nhau về lý thuyết hội thoại (cùng những vấn đề có liên quan đến hội
thoại), đặc biệt là những quan điểm, ý kiến khác nhau về các quy tắc hội thoại nhằm hiểu rõ hơn về
những cuộc thoại được chọn phân tích và nhất là hiểu hơn về những vấn đề chung của hội thoại.
0.6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương này người viết tập trung khai thác, tìm hiểu
hành động ngôn ngữ, các nhân tố giao tiếp, để từ đó tìm hiểu về cấu trúc hội thoại, vận động hội
thoại, đặc biệt là các quy tắc của hội thoại: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành
nội dung của hội thoại và quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự.
Chương 2: Truyện Kiều dưới góc nhìn hội thoại. Ở chương này, người viết sẽ khảo sát các

“How to do things with words” [40]. Có thể nói rằng chính Austin là người đã nhìn thấy bản chất
hành động của ngôn ngữ. Bởi vì khi chúng ta hứa, cảm ơn, xin lỗi, ra lệnh, yêu cầu,… là chúng ta đã
thực hiện một hành động, chúng ta đã tác động đến người nghe. Cũng như tất cả những hoạt động
khác của con người, hoạt động ngôn ngữ cũng có mục đích. Mỗi một cuộc thoại của con người được
tiến hành với nhau thì cũng đều có đích cả.
Có hai hình thức cơ bản của hoạt động ngôn ngữ. Đó là nói và viết. Lý thuyết về hội thoại
chủ yếu nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng nói. “Nói là tác động. Sự tác động xảy ra trong quá trình trao
đổi, nói qua nói lại” [9, 13].
Còn Đỗ Hữu Châu trong công trình nghiên cứu về ngữ dụng học thì đã nói một cách cụ thể
hơn: “Khi chúng ta cùng tác động với ít nhất một người thứ hai, cùng nhau thực hiện một việc nào
đó nhằm một kết quả nào đó, chúng ta đã làm một hành động xã hội. Xét tới cùng, một hành động
xã hội là sự phối hợp, tác động lẫn nhau, điều chỉnh lẫn nhau giữa các hành động đơn phương để đạt
mục đích chung. Trong một hành động xã hội, muốn đạt mục đích, những người tham gia phải cộng
tác, phối hợp theo quy tắc với nhau.
Nói năng cũng vậy, khi người nói hỏi, ra lệnh, kể chuyện… anh ta thực hiện một hành động
ngôn ngữ đơn phương. Nhưng khi anh ta cùng trò chuyện với ít nhất một người thứ hai, anh ta đã
tham gia vào một hành động xã hội. ” [3, 14].
Trên đây là cái nhìn tổng quát hết sức cơ bản về ngữ dụng học. Như vậy, ngữ dụng học
nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ theo một chiều sâu và ở bình diện mới “Không thể thực sự có được
các quan hệ xã hội, nếu không có hoạt động ngôn ngữ” [34, 133]. Ngữ dụng học đã thực sự gắn
ngôn ngữ với những hoàn cảnh nói năng cụ thể.
Vậy thực chất của hành động ngôn ngữ là như thế nào, cần được hiểu ra sao?
1.1.2. Hành động ngôn ngữ
Đề tài không có mục đích tìm hiểu các loại hành động ngôn ngữ mà chỉ tìm hiểu rõ hơn cái
gọi là “hành động ngôn ngữ” để làm sáng tỏ “lý thuyết hội thoại”.
Như trên đã nói, khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động. Chúng ta thực hiện một
loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Với cách hiểu này, Đỗ Hữu Châu đã phân
hành động ngôn ngữ ra làm 3 loại lớn:
- “Hành động tạo lời là hành động tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung” [3, 88-
89]. Thí dụ: ”Trời mưa” với hình thức của phát ngôn là “câu đơn hai thành phần” và nội dung của


Hình 1.1 Sơ đồ các nhân tố của một cuộc giao tiếp
Có thể nói ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong một cuộc giao tiếp.
Nhân tố giao tiếp
Ngữ cảnh
Ngôn ngữ
Diễn ngôn
Nhân vật giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngôn
Đường kênh thính giác và thị giác của
ngôn ngữ
Loại thể
Diễn ngôn
Chức năng của giao tiếp và các thành tố
nội dung của diễn ngôn
1.1.3.1. Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn.
Ngữ cảnh là một tổng thể của những hợp phần sau: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn.
Nhân vật giao tiếp là một yếu tố thuộc ngữ cảnh. Như vậy, nhân vật giao tiếp nên được hiểu
như thế nào?
a. Nhân vật giao tiếp
Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa về nhân vật giao tiếp như thế này: “Nhân vật giao tiếp là người
tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn
qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những tương tác bằng ngôn ngữ” [3, 15].
Đối với yếu tố nhân vật giao tiếp thì vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân là những nhân tố
quan trọng góp phần quyết định sự thành công hay thất bại của một cuộc giao tiếp.
 Vai giao tiếp
Trong bất kỳ một cuộc giao tiếp hội thoại nào thì cũng có sự chuyển đổi vai: Vai nói (viết) và
vai nghe (đọc).
- Vai phát ra diễn ngôn (vai phát tin) là vai mà nhiệm vụ các nhân vật phải làm là sử dụng

hợp tình hợp lý. Kiều sợ rằng Thúc Sinh vì nàng mà sẽ “mặn tình cát lũy, lạt tình tào khang” nên
khuyên chàng Thúc hãy luôn nghĩ đến gia đình và đảm bảo cuộc sống cho phận lẽ mọn như nàng.
Đó là toàn bộ ngôn bản mà Kiều đã tạo ra khi giao tiếp với Thúc Sinh. Và Kiều đã thành
công, nàng đã đạt được đích giao tiếp mà mình đặt ra. Thúc Sinh đã hiểu được nỗi lòng của người
giao tiếp với mình. Để rồi Thúc hứa “Đường xa chớ ngại Ngô Lào; Trăm điều hãy cứ trông vào một
ta”.
Như vậy, qua khảo sát một cách khái quát, sơ lược đoạn thoại giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh,
ta nhận ra được sự chuyển đổi vai trong giao tiếp và có một cái nhìn thật cơ bản về ngôn bản.
Thuộc về phạm trù nhân vật giao tiếp không chỉ có vai giao tiếp với sự chuyển đổi vai trong
giao tiếp mà còn có một yếu tố khác không kém phần quan trọng. Đó là quan hệ liên cá nhân. Trong
giao tiếp, quan hệ liên cá nhân sẽ giúp cho hội thoại tiến hành được thuận lợi theo chiều hướng tốt
hay khó khăn (theo chiều hướng xấu) hoặc thậm chí thất bại. Rõ ràng, vai trò của quan hệ liên cá
nhân trong hội thoại là điều không thể phủ nhận.
 Quan hệ liên cá nhân
Đỗ Hữu Châu đã nêu lên khái niệm quan hệ vai giao tiếp như sau: “Quan hệ vai giao tiếp là
quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá
nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp
với nhau” [3, 17].
Quan hệ liên cá nhân bao gồm quan hệ theo chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc giữa các
vai giao tiếp. Đỗ Hữu Châu đã gọi mối quan hệ theo chiều ngang là trục khoảng cách (hay trục thân
mật) và mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp theo chiều dọc là trục quyền uy.
- Trục quyền uy: Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác nhận vị thế giao tiếp ở những
mức độ cao thấp khác nhau. Người ở vị thế giao tiếp cao được quyền quyết định nội dung giao tiếp.
Chẳng hạn, một kĩ sư nông nghiệp sẽ chỉ dẫn cho những người nông dân về kĩ thuật canh tác. Lúc
này, anh ta có vị thế giao tiếp cao. Nhưng khi tìm hiểu truyền thống văn hóa của địa phương nơi anh
ta đang công tác thì anh ta sẽ phải học hỏi từ các lão nông. Lúc đó, anh ta sẽ ở vị thế giao tiếp thấp
và các lão nông mới là người quyết định nội dung giao tiếp.
Chẳng hạn như trong Truyện Kiều, ta thấy mụ Tú Bà mắng Kiều sau khi biết rằng nàng đã
thất thân với họ Mã:
Con kia đã bán cho ta,

ngôn của mình để “nói” về một cái gì đó. Cái được nói tới là hiện thực - đề tài của diễn ngôn” [3,
19]. Và để cụ thể hơn, ông đã cho rằng: “Đề tài diễn ngôn là một mảng trong hiện thực ngoài diễn
ngôn được các nhân vật giao tiếp (người nói, người nghe) thỏa thuận lấy làm đối tượng để trao đổi
trong cuộc giao tiếp đó” [3, 20]. Thí dụ, khi nói “trời mưa” thì một hiện tượng thời tiết đã được các
nhân vật giao tiếp lấy làm đối tượng để trao đổi trong cuộc giao tiếp với sự thỏa thuận của cả người
nói và người nghe. Khi ấy, các nhân vật giao tiếp có sự hiểu biết về hiện thực - đề tài của diễn ngôn
đó như: Trời là gì? Ở đâu? Và mưa là như thế nào?
Như vậy, hiện thực đã nói tới bao gồm toàn bộ sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan,
kể cả tâm trạng, tình cảm của người nói và bản thân những dấu hiệu ngôn ngữ mà diễn ngôn thể
Cao
Thấp
Xa lạ
(Power)
Quyền uy
Thân tình (Trục thân mật)
Khoảng cách
(Distance)
hiện. Tất cả các yếu tố trên được đưa vào ngôn bản và hình thành nội dung diễn ngôn gồm: đề tài,
chủ đề, tư tưởng được nói tới trong diễn ngôn.
Trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào thì yếu tố hoàn cảnh giao tiếp cũng đều được kể đến.
 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là nơi chốn (không gian), thời gian và những đặc điểm của hoạt động
giao tiếp. Thí dụ, ta có đoạn hội thoại sau:
- Đã hơn 8 giờ rồi đấy! An dậy đi học mau!
- Hôm nay con được nghỉ ạ.
Khảo sát thí dụ trên ta có thể thấy hoàn cảnh giao tiếp là ở phòng ngủ trong gia đình và đã
hơn 8 giờ sáng.
Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm 2 nhóm:
- Hoàn cảnh giao tiếp rộng (còn gọi là hoàn cảnh giao tiếp): bao gồm toàn bộ những hiểu
biết về thời gian, về xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, khoa học, tự nhiên… Những hiểu biết này của

Giao tiếp hội thoại là hình thức giao tiếp cơ bản, phổ biến nhất của con người. Có nhiều
phương tiện dùng để giao tiếp. Nhưng ngôn ngữ là phương tiện đặc biệt nhất, tiêu biểu, phổ biến và
đặc trưng của con người. Thiết nghĩ cũng cần phải nhắc lại ý kiến của Sapir: “Cùng có chung một
ngôn ngữ, đó là biểu hiện mạnh mẽ của sự đoàn kết gắn bó giữa các cá nhân trong xã hội” [34, 133].
Tóm lại, tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ. Trong đó, ngôn
ngữ là một công cụ giao tiếp quan trọng nhất. Trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín
hiệu là các ngôn ngữ tự nhiên. Các phương tiện sau đây của ngôn ngữ tự nhiên sẽ chi phối diễn
ngôn: Đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ, loại thể.
a. Đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ
“Ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là đường kênh thính giác. Về sau,
cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác.Từ đó, ngôn ngữ có thêm đường
kênh thị giác và diễn ngôn. Do vậy, mà có hai dạng thức: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết” [3, 26].
Về mặt ngôn ngữ, loại thể của diễn ngôn cũng đóng một vai trò quan trọng.
b. Loại thể
“Loại thể là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn. Đối với ngữ dụng học, các loại thể
như văn xuôi, văn vần, thần thoại, cổ tích, tiểu thuyết hiện thực,… chắc chắn sẽ quy định hình thức,
nội dung các diễn ngôn. Chính loại thể đã khởi động tâm lý tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn
ngôn theo loại thể khi gặp những diễn ngôn được viết theo một thể loại nào đó. Thí dụ, trong ngôn
ngữ đời thường, không một người Việt Nam nào lại chấp nhận lối nói ngược. Thế nhưng khi biết
rằng đang tiếp xúc với thơ thì chúng ta sẽ rộng rãi để rồi đánh giá rất cao lối nói ngược như trong
Truyện Kiều:
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau
(Nói xuôi là: Rút tên ra khỏi sổ đoạn trường, phải đưa trả nhau thơ đoạn trường)” [3, 29].
Tương tự như vậy, độc giả rất thích cách nói vừa hình ảnh, vừa mạnh mẽ của Hồ Xuân
Hương qua lối đảo ngữ:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
(Tự tình)
Từ loại thể, ta có thể tìm hiểu Truyện Kiều một cách dễ dàng hơn vì Truyện Kiều thuộc thể

thông tin từ Thúy Kiều là nàng đã trao thân cho Mã giám sinh (xem phụ lục 4).
- Chức năng biểu hiện: Nhờ giao tiếp, con người bày tỏ được đặc điểm, sở thích, ưu điểm,
khuyết điểm, trình độ hiểu biết, tâm lý, tình cảm, thái độ, kinh nghiệm sống,… của bản thân. Qua
lần đầu tiên giao tiếp với Thúy Kiều, Tú Bà đã cho người đọc thấy mụ là một người chỉ vì tiền, tàn
độc, nhẫn tâm, chửi mắng và đang tâm vùi dập cuộc đời Thúy Kiều.
- Chức năng giải trí: Ngôn ngữ là phương tiện giải trí không tốn kém, tiện lợi và lành
mạnh nhất của con người. Các nhân vật giao tiếp có thể dùng ngôn ngữ để giao tiếp nhằm giải tỏa
những căng thẳng, những buồn vui trong cuộc sống.
- Chức năng hành động: Thông qua giao tiếp mà chúng ta thúc đẩy nhau hành động.
Không phải chỉ người nghe mới hành động dưới sự thúc đẩy của lời nói trong giao tiếp. Chẳng hạn:
“Chúng ta nên cố gắng học” thì chẳng những người nghe phải hành động mà người nói cũng phải
hành động nữa.
Giao tiếp có nhiều chức năng, chức năng nào cũng biểu hiện những đặc trưng của giao tiếp.
Và giao tiếp, dù muốn dù không thì nó vẫn có một (thậm chí nhiều) chức năng giao tiếp như trên.
Bất kỳ một diễn ngôn nào cũng có thành tố nội dung và đích của nó.
 Các thành tố nội dung và đích của diễn ngôn
- Thành tố nội dung của diễn ngôn: “Về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố: Thứ nhất là
nội dung thông tin, hình thành do quan hệ giữa diễn ngôn và hiện thực được nói tới. Thứ hai là nội
dung liên cá nhân bao gồm tất cả các nội dung của diễn ngôn không bị quy định bởi tính đúng sai
logic” [3, 37].
Có thể dẫn lại lời của Đạm Tiên nói với Thúy Kiều trong hoàn cảnh giao tiếp khi Kiều đã trải
qua 15 năm lưu lạc:
Đoạn trường sổ rút tên ra
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
Xét trong diễn ngôn này thì nội dung mà Đạm Tiên thông tin cho Kiều biết là nàng Kiều đã
thoát khỏi số kiếp lưu lạc khi được rút tên ra khỏi sổ đoạn trường. Đồng thời, thơ đoạn trường cũng
được đưa trả lại để chấm dứt những tháng ngày gian truân, lưu lạc của Kiều. Thiết nghĩ nội dung
liên cá nhân thì không cần phải bàn đến nữa. Chỉ xin nói đến nội dung liên cá nhân không bị quy
định bởi tính đúng sai logic. Như các phần trước có nói qua, diễn ngôn này được phát ra từ nhân vật
giao tiếp Đạm Tiên với hình thức đảo ngữ (mà hình thức này không phù hợp trong giao tiếp thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status