MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong lời giới thiệu cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand
de Saussure, Hoàng Phê khẳng định: “Trong các nhà ngôn ngữ học lớn của thế kỷ
XX, cho đến nay F.de Saussure vẫn là người được nhắc đến nhiều hơn cả. Có thể
nói không quá đáng rằng trong ngôn ngữ học hiện đại, “không có một học thuyết
chung nào mà không nhắc đến ông” (E.Ben-vesite), bởi vì khó mà tránh khỏi phải
dựa vào, hoặc nếu không thì phải phản bác, một vài luận điểm quan trọng nào đó
của F.de Saussure”.
Quả thực như vậy, công lao của F.De Saussure, nói như Đỗ Hữu Châu: “là ở
sự khẳng định bản chất hệ thống của ngôn ngữ và ở sự khẳng định sự tồn tại quy
định lẫn nhau của các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ, là ở chỗ qua việc chứng
minh bản chất hệ thống của ngôn ngữ mà đề ra những nét cơ bản nhất của phương
pháp hệ thống và của các thao tác nghiên cứu ngôn ngữ theo phương pháp hệ
thống”. Những luận điểm của F. De Saussure đã và sẽ “đẩy ngôn ngữ học tiến lên
giành vị trí bình đẳng với các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác”.
Thực chất học thuyết của F. De Saussure là sự đề xuất một số cặp lưỡng
phân trong ngôn ngữ và từ những cặp lưỡng phân đó đề xuất những luận điểm làm
nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại. Trong những cặp lưỡng phân đó có cặp lưỡng
phân ngôn ngữ/ lời nói và cặp lưỡng phân mặt nội tại/ mặt ngoại tại của ngôn ngữ.
Nhấn mạnh mặt những quan hệ nội tại có tính hệ thống trong ngôn ngữ, giáo trình
khẳng định rằng “nghiên cứu ngôn ngữ không những phải gạt ra ngoài tất cả những
gì mà người ta gọi là ngôn ngữ học ngoại tại mà còn phải gạt bỏ tất cả những gì
thuộc về thể chất, về vật chất”. Và giáo trình kết thúc bằng câu kết luận nổi tiếng:
“đối tượng duy nhất và chân thực của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân
nó và vì bản thân nó”. Với những quan niệm như vậy, ngôn ngữ biến thành một hệ
thống siêu hình, đóng kín của những quan hệ thuần túy, phi vật chất. Hầu hết các
trường phái cấu trúc luận cổ điển đã tập trung sự chú ý vào cấu trúc nội tại của ngôn
ngữ, xem nhẹ hoạt động của ngôn ngữ trước hết trong việc thực hiện chức năng
1
2
loại). Tác phẩm được giảng dạy và là kiến thức trọng tâm trong nhà trường ở cả bậc
THCS và THPT.
Trong tác phẩm, nhân vật Thúy Kiều là nhân vật trung tâm, là lăng kính để
Nguyễn Du thể hiện “Đôi mắt nhìn thấu sáu cõi” nhân gian (Mộng Liên Đường).
Thông qua số phận mười lăm năm chìm nổi của người con gái tài sắc này, Nguyễn
Du đã thể hiện nỗi xót thương đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa và
sự đồng cảm với những kiếp người tài hoa bạc mệnh. Ba nhân vật Kim Trọng,
Thúc Sinh, Từ Hải là ba người yêu Thúy Kiều và cũng là những người Thúy
Kiều yêu. Tuy nhiên, với Thúy Kiều, sắc thái tình cảm của những nhân vật này
rất khác nhau. Điều đó chi phối đến ngôn ngữ hội thoại nói chung và lập luận nói
riêng ở các nhân vật.
Tìm hiểu về lập luận của 3 nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải trong tác
phẩm “Truyện Kiều” vừa góp phần khẳng định tài năng của đại thi hào dân tộc
Nguyễn Du trong việc xây dựng ngôn ngữ nhân vật vừa có điều kiện tìm hiểu thêm
về lập luận đồng thời tạo thêm một nguồn ngữ liệu phong phú cho lĩnh vực này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về lập luận
Lập luận là một thuật ngữ quen thuộc của văn nghị luận. Vì thế, nói đến lập
luận người ta thường cho rằng đây là vấn đề của nội dung nghĩa học. Ngày nay,
ngôn ngữ học hiện đại coi ngữ dụng học không phải là chuyên ngành bị thống hợp
mà trái lại chính ngữ dụng học lại thống hợp các chuyên ngành khác của ngôn ngữ
như ngữ nghĩa học, ngữ pháp học, âm vị học, ngữ âm học. Do đó, lập luận chính là
vấn đề của ngữ dụng học. Người có công nghiên cứu và chứng minh lập luận là sự
kiện ngữ dụng học là hai nhà ngôn ngữ học người Pháp O.Ducrot và
J.C.Anscombre.
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học, lí thuyết lập
miêu tả qua khảo sát một tác phẩm văn học cụ thể. Luận văn “Tìm hiểu các dạng
lập luận trong tục ngữ” bước đầu đã vận dụng thành công lí thuyết lập luận để
nghiên cứu những văn bản và kiểu loại văn bản cụ thể.
4
2.2. Những nghiên cứu về lập luận trong “Truyện Kiều”
Trực tiếp đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và gián tiếp đề cập đến vấn đề lập luận
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có các công trình, tác phẩm của các học giả
lớn như GS. Phan Ngọc với “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều”,
Vũ Đình Long với “Văn chương Truyện Kiều”, Xuân Diệu với “Thi hào dân tộc
Nguyễn Du”, Nguyễn Lộc với “Về ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều”…
Tuy nhiên, phải đến luận văn “Tìm hiểu lập luận miêu tả trong Truyện Kiều”
của Lưu Thị Thanh Mai, vấn đề lập luận trong tác phẩm này mới được khai thác
trực diện. Trong công trình này, tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề lập luận
trong miêu tả. Tiếp đó là Luận văn “Ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong
“Truyện Kiều” của Phạm Thị Mai Hương (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn),
Khóa luận “Tìm hiểu lập luận trong các cuộc thoại trong “Truyện Kiều” của
Nguyễn Thị Hồng Lợi (dựa trên 15 lập luận tiêu biểu) (Đại học sư phạm Hà Nội),
Khóa luận “Tìm hiểu lập luận hàm ẩn kết luận trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
(Đại học sư phạm Hà Nội), Luận án “Tìm hiểu lập luận của nhân vật Thúy Kiều
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du” (Đại học sư phạm Hà Nội). Những công trình
này bước đầu đã vận dụng thành công lí thuyết lập luận để nghiên cứu những văn
bản và kiểu loại văn bản cụ thể.
Những công trình trên, chưa có công trình nào tìm hiểu riêng, chi tiết về lập
luận của các nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải trong “Truyện Kiều” nhưng
những nghiên cứu này đã có những gợi mở quan trọng, đặc biệt là ở hướng đi và
phương pháp khi chúng tôi tiến hành đề tài “Tìm hiểu lập luận của các nhân vật
Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du”.
Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, từ đó có cơ sở để xác định lập luận của nhân vật.
- Phân tích, miêu tả: Được sử dụng để miêu tả những đặc điểm các
dạng lập luận, các thành phần khác nhau của lập luận từ đó rút ra những đặc
điểm của từng lập luận và đặc điểm lập luận của từng nhân vật.
- Mô hình hóa: Phương pháp này dùng để cụ thể hóa dưới dạng sơ đồ những lập
luận cụ thể của nhân vật. Nhìn vào các mô hình khái quát này, chúng ta có thể nhận diện
được các cấu trúc, các dạng, các kiểu loại lập luận khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nhận xét, rút ra đặc điểm và so sánh lập luận của các nhân vật.
- So sánh đối chiếu. Phương pháp này được sử dụng để:
6
+ Tìm hiểu quan hệ giữa các luận cứ với nhau, giữa các luận cứ với kết luận,
cụ thể là so sánh định hướng lập luận giữa các luận cứ. Trên cơ sở đó, xác định lập
luận chứa luận cứ đồng hướng, nghịch hướng.
+ Chỉ ra các đặc điểm riêng của luận cứ và kết luận trong lập luận của
nhân vật.
+ Chỉ ra sự giống và khác nhau giữa lập luận của từng nhân vật trong tương
quan với nhân vật khác và với chính nhân vật đó ở những giai đoạn khác nhau.
6. Những đóng góp
Về mặt lí luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ sự
đúng đắn của lí thuyết lập luận.
Về mặt thực tiễn, luận văn nếu thành công có thể xem như một tài liệu tham
khảo cho những ai quan tâm, giảng dạy, nghiên cứu về lí thuyết lập luận và phân
tích ba nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải trong tác phẩm “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được
triển khai thành 3 chương:
Thì trong đó: Con sẽ cay đắng = Kết luận;
khi nhớ lại những lúc làm cho mẹ đau lòng = Luận cứ
Theo đó, tác giả Đỗ Hữu Châu trong tác phẩm trên cũng cho rằng: “Tiêu chí
để xác định một lập luận là kết luận. Hễ tìm ra được một kết luận thì ta có một lập
luận”. [3; 162]
1.1.2. Đặc điểm lập luận
1.1.2.1. Thành phần của lập luận
Mỗi lập luận (LL) gồm 2 thành phần:
8
- Luận cứ: là các lí lẽ; kí hiệu là p, q;
- Kết luận: kí hiệu là r;
Để phân biệt các luận cứ và kết luận trong cùng một LL, chúng ta dùng cách
đánh số:
- p1, p2, … chỉ các luận cứ;
- r1, r2, … chỉ các kết luận thành phần;
- R chỉ kết luận chung.
Công thức lập luận
- p, q -> r hoặc p1, p2, … => r
Về số lượng, luận cứ có thể là một/một số; kết luận thành phần r có thể hơn
một nhưng kết luận cuối cùng (R) thường chỉ có một.
- p1, p2, p3, … -> r1
- p3, p4
-> r2
- r1, r2, …….. -> R
1.1.2.2. Phân loại lập luận
àR
p3, q3 à r3 (p3’)
VD: [3165 – 3178]
Lời nói
Gắn bó một lời,
Vai trò trong lập luận
p1
p1’
Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau
Xót người lưu lạc bấy lâu,
Tưởng thề thốt nặng, cũng đau đớn nhiều.
Thương nhau sinh tử đã liều
Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình
Chừng xuân tơ liễu còn xanh
Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân
Gương trong chẳng chút bụi trần.
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.
Bấy lâu đáy bể mò kim,
Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?
Ai ngờ lại hợp một nhà,
p2
r1
p1
p2
r2
p
Sự nàng đã thế lời thầy dám tin!
Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần?
Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân,
Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên.
p1
p2
R
p2’
- Kết luận có thể tường minh, có thể hàm ẩn; Luận cứ cũng có thể tường
minh hoặc có thể hàm ẩn.
+ Kết luận tường minh. VD: “Ân oán hai bên/ Mặc nàng xử quyết báo đền
cho minh”. [2319 – 2320]. Trong đó: “Ân oán hai bên” = p; “Mặc nàng xử quyết
báo đền cho minh” = r.
+ Kết luận hàm ẩn. VD: “Nghe nổi tiếng cầm đài/ Nước non luống những lắng
tai Chung Kỳ” [463 – 464] = p; r (hàm ẩn) = muốn nghe (Thúy Kiều) đánh đàn.
+ Luận cứ tường minh. VD: “Xót nàng còn chút song thân/ Bấy nay kẻ Việt
người Tần cách xa/ Sao cho muôn dặm một nhà/ Cho người thấy mặt là ta cam
lòng.” [2433 – 2436]. Trong đó, p = “Xót nàng còn chút song thân/ Bấy nay kẻ Việt
người Tần cách xa”.
+ Luận cứ hàm ẩn. VD: “Việc ấy để cho mặc nàng” [2324] = r. p hàm ẩn là
nội dung đã được đề cập từ trước đó: “Ân oán hai bên”, ở đây nội dung này được ẩn
đi nhưng người đọc vẫn có thể hiểu được.
1.1.3. Quan hệ lập luận
11
p3
r
Ở đây, các luận cứ p1, p2, p3 đều thống nhất hướng đến khẳng định: Thúy
Kiều không cần tạ ơn Từ Hải mới gọi là biết ơn “Lọ là thâm tạ mới là tri ân”.
12
- LL đơn có 2 luận cứ trở lên; các luận cứ nghịch hướng với nhau.
Trong trường hợp này, các luận cứ được sắp xếp theo trình tự từ hiệu lực yếu
đến hiệu lực mạnh. VD: [419-422]
Lời nói
Giải cấu là duyên,
Vai trò trong lập luận
p1
Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều
Ví dù giải kết đến điều
Thì đem vàng đá mà liều với thân!
p2
r
p2 có hiệu lực lập luận mạnh nhất => r nhấn mạnh, khẳng định quyết tâm
theo đuổi và tấm lòng sắt son, thủy chung của Kim Trọng. Từ đó thuyết phục được
Thúy Kiều an lòng với cuộc tình cùng Kim Trọng.
Giá trị của nội dung miêu tả và các luận cứ trong lập luận không giống nhau.
Trong ví dụ trên, Kim Trọng sử dụng hai luận cứ nhưng kết luận khác
quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu, “Ngữ dụng học”, tập 2, NXB Giáo dục, 2001.
1.2.1. Nghĩa tường minh
Ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết hợp câu)
được gọi là ý nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn, nghĩa theo câu chữ).
VD: “Hay thì thật là hay/ Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!/ Lựa chi
những bậc tiêu tao/ Dột lòng mình cũng nao nao lòng người?” [489 – 492]
1.2.2. Nghĩa hàm ẩn
Nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn) là nghĩa không được nói ra trực tiếp, người nghe
phải dùng đến thao tác suy ý, phải dựa vào những yếu tố ngoài ngôn ngữ (ngữ
cảnh), phải dựa vào ngôn cảnh (tức là các phát ngôn trước và sau phát ngôn đang
xét), dựa vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều
khiển hội thoại... mới nắm bắt được.
Ví dụ: [2428 – 2431] -> Phát ngôn của Từ Hải có các nghĩa không thể hiện
trực tiếp trên câu chữ như:
(1) Thúy Kiều và Từ Hải đã thành thân.
(2) Thúy Kiều luôn lời tạ ơn sâu với Từ Hải.
Các nghĩa (1), (2) gọi là nghĩa hàm ẩn.
Nghĩa hàm ẩn chia làm 2 loại: hàm ý và tiền giả định.
1.2.3. Tiền giả định
14
Tiền giả định là những hiểu biết đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên
thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát
ngôn của mình.
Ví dụ: “Cá nước duyên ưa!/ Nhớ lời nói những bao giờ hay không?” [2275
– 2276] có tiền giả định “Từ Hải đã nói điều gì đó với Thúy Kiều mà nay, điều đó
trở thành hiện thực”. Có thể hiểu tiền giả định là luôn luôn đúng.
Tuy nhiên trong giao tiếp thông thường, không phải không có những trường
- Khi Sp1 và Sp2 đang ở trên đường đi thì phát ngôn A có thể là lời đề nghị
nên nghỉ chân ở dưới một bóng râm.
- Khi hai người đang đi ngang trước một cửa hàng giải khát thì phát ngôn A
có thể là lời bộc lộ giá như có một ly nước mát.
- Khi người khách mới đến, chủ nhà tỏ vẻ ái ngại cho khách “Trời nóng quá”.
Lúc này phát ngôn này lại mang nghĩa là “Anh vất vả quá”.
1.2.4.2. Cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn
a. Vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất
- Thay đổi nghĩa biểu vật của từ ngữ
Ví dụ:Vợ: - Anh có nhớ chín tháng trước anh đi nghỉ ở biển trong 2 tuần và
nói là câu được 2 con cá không? (1)
Chồng: - Nhớ chứ, hai con cá thật tuyệt. (2)
Vợ: - Chiều nay, một trong hai con cá đó gọi điện đến nói rằng có con với
anh đấy! (3)
Phát ngôn (1), (2), biểu thức “hai con cá” chiếu vật vào 2 con cá thật. Phát
ngôn (3) “một trong 2 con cá” chiếu vật vào một trong 2 phụ nữ tạo ra nghĩa hàm
ẩn:“Tôi biết tỏng chuyện nhăng nhít của anh rồi, đừng dối trá nữa.”
- Lấy các biểu thức khác nhau chiếu vào một sự vật
Ví dụ: Anh nhân viên trẻ A khi phát hiện ra đồng nghiệp già B có cô con gái
xinh. Anh ta bèn đổi gọi B từ “bác” sang “bố” tạo ra nghĩa hàm ẩn “Con muốn làm
con rể bố”.
b. Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp chính là nghĩa hàm ẩn không tự nhiên.
VD: Khi phát hiện chuyện ngoại tình của Thúc Sinh với Thúy Kiều, Thúc ông
vô cùng tức giận và kiên quyết chia tách đôi bên. Thúc Sinh phát ngôn: “Trót
16
vì tay đã nhúng chàm/ Dại rồi còn biết khôn làm sao đây? ” [1397 – 1398]. Về
- Vi phạm nguyên tắc quan hệ (quan yếu)
Nguyên tắc quan yếu: Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu, tức là
có dínhlíu đến câu chuyện đang diễn ra.Vi phạm nguyên tắc này để tạo hàm ý.Ví
dụ: Sp1: - Này, lại xem tin giật gân này. Sp2: - Ối, lộ hàng ghê quá! Sp3: - Tao
buồn ngủ quá! → Tao không quan tâm chuyện đó.
- Vi phạm nguyên tắc cách thức.
Nội dung của nguyên tắc này: Hãy tránh lối nói tối nghĩa, mập mờ, mơ hồ.
Hãy nóingắn gọn, có trật tự. Sự vi phạm nguyên tắc này thể hiện hàm ý.Ví dụ :
Chồng: - Bé Trà Mi hôm nay rất ngoan, phải thưởng cho bé cái gì chứ? Vợ: - Kờ E
Mờ nhá! Hàm ý: chưa cho con biết để hoặc xem chồng có đồng ý không (sợ chồng
không đồng ý) hoặc sợ con đòi ăn ngay khi họ chưa chuẩn bị cho con đi chơi.
1.3. Ngôn ngữ nhân vật
Lí thuyết về ngôn ngữ nhân vật được dẫn theo tác giả Phương Lựu trong
Giáo trình Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005.
Lời văn của một tác phẩm văn học thường được cấu tạo bởi hai thành phần:
ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả.
Ngôn ngữ nhân vật tồn tại dưới hai hình thức: đối thoại và độc thoại.
- Đối thoại là hoạt động giao tiếp căn bản sử dụng hình thức nói năng giữa
người này với người khác. Nó thường gồm hai yếu tố đặc trưng: trao lời và đáp lời,
có sự tương tác qua lại, bởi giao tiếp luôn luôn có mục đích.
Tùy năng lực sử dụng ngôn ngữ (ngữ năng) của mỗi người và điều kiện giao
tiếp cụ thể mà sự tương tác của ngôn ngữ đối thoại có cường độ mạnh - yếu và có
phạm vi ảnh hưởng về không gian (rộng - hẹp), thời gian (ngắn - dài), số lượng đối
tượng (ít - nhiều)... khác nhau.
Chẳng hạn, trong “Truyện Kiều”, khi Thúc Sinh đối thoại với Thúy Kiều
trong những ngày còn mặn nồng, anh ta nói rất dài, hùng hồn, to tát, thề non hẹn
biển. Thúy Kiều nghi ngại: “Yêu hoa yêu được một màu điểm trang/ Rồi ra lạt phấn
phai hương/ Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?” [1335 – 1337]. Anh ta
Mối quan hệ này thường biểu hiện ra dưới nhiều hình thức phong phú, đa
dạng vô cùng do mối tương quan của lời nói ngoài và ý nghĩ thầm kín bên trong tạo
nên, bị chi phối bởi nhiều yếu tố: tính cách người nói, hoàn cảnh xung quanh, tình
cảm và mối quan hệ đối với đối tượng người nghe, người được nói tới...
19
Có khi, suy nghĩ và lời nói thống nhất làm một: nhân vật nghĩ sao nói vậy
(như Từ Hải). Trong trường hợp này, lời nói là sự phản ánh tâm tư, tình cảm, suy
nghĩ, tính cách nhân vật. Nó chuyển tải một lượng thông tin lớn về con người trong
tác phẩm. Có lúc, suy nghĩ và lời nói không phù hợp với nhau: nhân vật nghĩ nhiều
nói ít, nghĩ ít nói nhiều, lời nói mâu thuẫn với ý nghĩ, lời nói được dùng để che đậy
ý nghĩ... (Thúc Sinh là nhân vật nói khá nhiều nhưng có lẽ nghĩ rất ít). Và như vậy,
muốn hiểu được nhân vật, không thể chỉ căn cứ vào ngôn ngữ bên ngoài mà còn
phải đối chiếu với thái độ, hành động, phải thám hiểm thế giới tinh thần bên trong,
phải suy luận cả những vấn đề đằng sau ngôn ngữ.
Ranh giới phân biệt lời tác giả và lời nhân vật không phải bao giờ cũng rạch
ròi. Không ít trường hợp, chúng dường như giao thoa với nhau: trong ngôn ngữ
nhân vật, có giọng nói, điệu nghĩ của nhà văn, trong ngôn ngữ tác giả, có lời lẽ, tình
cảm của nhân vật. Chẳng hạn, trong suy nghĩ thầm của Thúc Sinh ở trên, lời tác giả,
lời nhân vật đan xen vào nhau, đôi khi khó phân biệt rạch ròi.
Tiểu kết Chương I
Lập luận có mặt trong mọi phát ngôn và liên quan đến mọi phương diện
trong một phát ngôn, từ hình thức đến nội dung, từ chi tiết đến tổng thể. Bởi vậy, để
nghiên cứu vấn đề lập luận của các nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải trong
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du, luận văn không chỉ vận dụng lí thuyết lập luận mà
còn kết hợp các lí thuyết khác nhau cũng như tổng thể các tri thức về ngôn ngữ nói
riêng về văn hóa nói chung.
Lí thuyết lập luận cung cấp cho tác giả luận văn những công cụ quan trọng
Chương II. Đặc điểm lập luận
của các nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải
Trong Chương II, luận văn tìm hiểu đặc điểm lập luận của các nhân vật dựa
vào vị trí của các thành phần lập luận, sự hiện diện của các thành phần lập luận, tính
phức hợp của lập luận, đặc tính lập luận và đặc điểm các thành phần lập luận. Từ
đó, so sánh đặc điểm lập luận của các nhân vật.
Qua khảo sát, trong toàn bộ tác phẩm “Truyện Kiều”, nhân vật Kim Trọng có
20 lập luận, nhân vật Thúc Sinh có 18 lập luận và nhân vật Từ Hải có 10 lập luận.
2.1. Đặc điểm các kiểu loại lập luận
2.1.1. Dựa vào vị trí của các thành phần lập luận
Trong logic học có ba thao tác tương ứng với ba kiểu lập luận như sau:
Thứ nhất, lập luận theo kiểu diễn dịch:
Diễn dịch là một thao tác tư duy logic, từ một nguyên lí chung suy ra những
hệ luận, những đoán định cụ thể. Dưới góc độ lập luận, diễn dịch là cách trình bày,
tổ chức, sắp xếp các ý từ cái chung, cái khái quát đến cái riêng, cái cụ thể. Nói cách
khác, xét về vị trí của các thành phần lập luận, đây là kiểu lập luận mà thành phần
kết luận đứng trước, các luận cứ giải thích, chứng minh cho kết luận đứng sau.
Mô hình của kiểu lập luận diễn dịch: r p, q
Thứ hai, lập luận theo kiểu quy nạp:
Cũng như diễn dịch, quy nạp vừa là một thao tác tư duy logic, vừa là một
cách trình bày lập luận. Với tư cách là một thao tác tư duy, quy nạp là quá trình đi
từ những bộ phận, đối tượng riêng lẻ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng
với nhau, từ đó nâng lên thành những nhận định khái quát về những đặc điểm,
tính chất chung của chúng. Với tư cách là một cách trình bày lập luận, quy nạp
là cách đi từ các ý kiến, dẫn chứng cụ thể, riêng lẻ, rồi sau mới đến một sự tổng
hợp và khái quát về các ý kiến, các sự kiện riêng lẻ đó. Nói cách khác, xét theo
vị trí của các thành phần lập luận đây là kiểu lập luận có thành phần luận cứ
đứng trước, kết luận đứng sau.
Mô hình của kiểu lập luận này là: p, q r
lựa được cơ hội để sang với người yêu. Kim Trọng, có lẽ do đã mong ngóng, đợi
23
chờ nàng “quá lâu” (với kẻ đang yêu thì một vài ngày cũng tựa như thiên thu vậy!)
nên vừa thấy nàng đã cất tiếng “trách”:
Trách lòng hờ hững với lòng (r)/ Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu/
Những là đắp nhớ đổi sầu/ Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm”. [379 - 383]
Sự “trách” đó là kết luận, thể hiện thái độ hờn giận của Kim Trọng với Thúy
Kiều: “Trách lòng hờ hững với lòng” (r). Sau đó mới giãi bày lí – cơ sở của lời
trách. “Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu” (p) khiến chàng “Những là đắp nhớ
đổi sầu/ Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm” (q). Như vậy thì đúng là nàng
đáng trách quá đi!
b. Nhân vật Thúc Sinh
1 lập luận diễn dịch của Thúc Sinh là phát ngôn đầu tiên của anh chàng họ
Thúc trong thiên truyện. Lúc này, sao bao ngày tay ấp má kề với Thúy Kiều, Thúc
Sinh ngỡ Kiều là con cháu Tú Bà chi đây nên khi nghe Kiều nói nhớ cha mẹ, anh ta
phát ngôn:
“Rằng: Sao nói lạ lùng thay!
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?”. [1321 – 1322].
Ở đây, kết luận là thái độ bất ngờ, kinh ngạc của Thúc Sinh “Sao nói lạ lùng
thay” (r); và luận cứ là lí do của thái độ đó: “Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?” (p).
2.1.1.2. Quy nạp
a. Nhân vật Kim Trọng
Nhân vật Kim Trọng có18/20 lập luận là lập luận quy nạp (chiếm 90%).
Chẳng hạn, sau bao ngày mong ngóng, cuối cùng chàng Kim cũng “gặp”
được Thúy Kiều khi cùng nàng nói chuyện qua bức tường. Nghe giọng người ngọc,
chàng Kim vội vàng đưa lời:
“Sinh rằng: Lân lý ra vào/ Gần đây nào phải người nào xa xôi/ Được rày
chàng khăng khăng:
“Sinh rằng: Từ thuở tương tri/ Tấm riêng riêng những nặng vì nước
non/ Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch
sông”. [1329 – 1332]
Ở đây, Thúc Sinh dùng các luận cứ: Từ thuở gặp gỡ, ta đã yêu mến, nặng
lòng vì nàng Từ thuở tương tri/ Tấm riêng riêng những nặng vì nước non (p); ta đã
25