TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN MINH THƯ
TỪ CHỈ HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN
– HOA VÀ XUÂN – TRONG TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV NGUYỄN THỊ THU THỦY
Cần Thơ, năm 2011
1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
A. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
B. Phần nội dung
Chương 1: Những vấn đề chung về từ tiếng Việt
C. Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Phụ lục
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Nhận xét của giáo viên phản biện
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa đặc trưng. Một
trong những nhân tố góp phần quan trọng làm nên những đặc trưng đó chính là dòng
chảy của văn học. Nước ta tự hào với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Có thể
nói Truyện Kiều là sự kết tinh bề dày văn hóa của một nước, phô bày vẻ đẹp của một
thứ tiếng , biểu hiện tài hoa của một dân tộc. Ở Truyện Kiều chúng ta không chỉ thấy
được giá trị nhân đạo và hiện thực vô cùng sâu sắc mà còn thấy được cả nghệ thuật sử
dụng ngôn từ độc đáo của Nguyễn Du. Tiếp cận và khảo sát Truyện Kiều, người viết
cảm nhận được sự bền bỉ, tỉ mỉ trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật ngôn từ
của Nguyễn Du. Từng câu, từng từ được dùng đều có sự chọn lọc, gọt giũa một cách
công phu của tác giả. Và cũng chính điều này đã làm cho nghệ thuật sử dụng ngôn từ
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du luôn là một mảnh đất màu mỡ cho những nhà
nghiên cứu và những cả ai yêu mến Truyện Kiều.
Trong suốt hai trăm năm qua kể từ khi ra đời cho đến nay đã có không biết bao
công trình nghiên cứu về Truyện Kiều ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ vấn đề Truyện
Kiều là một bản dịch hay là một sáng tác cho đến nhiều vấn đề khác về nội dung tư
tưởng của tác phẩm. Nhưng người viết nhận thấy, cho đến nay chưa có một công trình
giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm dựa trên các quan điểm và phương pháp
hiện đại. Vì vậy việc nghiên cứu và khảo sát Truyện Kiều trở nên khách quan và chính
xác hơn.
Sau đây, người viết xin điểm qua một vài ý kiến của một số nhà nghiên cứu,
phê bình về ngôn ngữ Truyện Kiều và nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du:
Trong “Truyện Kiều và những lời bình”, Nguyên Lộc đã nhận xét: “Trong các
vấn đề tranh luận về Truyện Kiều xưa nay, dường như một vấn đề duy nhất không có
mấy ý kiến trái ngược. Đó là vấn đề về ngôn ngữ văn học của Nguyễn Du trong
Truyện Kiều. Hầu như tất cả các nhà nghiên cứu bình luận Truyện Kiều đều khẳng
định Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của
thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc lên một đỉnh cao chói lọi.
Ngôn ngữ Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi người về khả năng phong phú của
5
tiếng Việt, và Truyện Kiều đã có công khai sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về
phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương”.[23; tr.434]
Đào Thản trong “Một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều” đã có nhận
định rằng: “Những người nghiên cứu Truyện Kiều từ trước tới nay đã nhất trí xác
nhận thiên tài của Nguyễn Du về nghệ thuật, khẳng định công lao to lớn của nhà thơ
đối với dân tộc. Nguyễn Du là Puskin của Việt Nam, ngôn ngữ Truyện Kiều là đỉnh
cao, là tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ Truyện Kiều có những yếu tố hay,
đẹp và nổi bật mà trước đó chưa từng có”.[24; tr.208]
Và trong “Mấy lời bình luận về ngôn ngữ văn chương Truyện Kiều” thì
Nguyễn Tường Tam đã đánh giá : “Nói đến cái hay của ngôn ngữ Truyện Kiều thì
chưa biết thế nào mà kể hết được. Ta chỉ nên nhận rằng ngôn ngữ Truyện Kiều có thể
làm cái mẫu rất tốt cho ngôn ngữ văn chương quốc ngữ, và người làm văn nào cũng
nên theo cách làm văn trong Truyện Kiều, vì những câu thơ đó đã tới được cực điểm.
Tôi xin nói quyết một lời rằng: Mong được một quyển truyện nào hay hơn Truyện Kiều
là mộng tưởng. Cái trình độ ngôn ngữ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi”.[23;
thống về hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Trong phần này Đỗ Hữu
Châu đã nêu lên khái niệm, nguyên nhân, các dạng chuyển nghĩa, phương thức và cơ
chế chuyển nghĩa, phân biệt chuyển nghĩa từ vựng và chuyển nghĩa tu từ.
Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, nhà xuất bản Giáo dục, 1998 và “Nhận diện
từ tiếng Việt”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1999, Nguyễn Thiện Giáp đã đề cập đến
những vấn đề về từ tiếng Việt như: nhận diện từ , các đơn vị từ vựng, cơ cấu nghĩa của
từ, sự hình thành tồn tại và phát triển của từ tiếng Việt, và hiện tượng mất nghĩa của từ
tiếng Việt ở trường hợp ghép và láy.
Trong “Giáo Trình tiếng Việt”, nhà xuất bản Giáo Dục, 1987, Bùi Tất Tươm
đã nghiên cứu về hiện tượng nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng
Việt. Trong phần nghiên cứu về hiện tượng nhiều nghĩa thì tác giả trình bày về khái
niệm, nguyên nhân hiện tượng nhiều nghĩa và phân loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa.
Còn trong phần nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa thì Bùi Tất Tươm trình bày về
khái niệm, phương thức và cơ chế chuyển nghĩa, phân biệt chuyển nghĩa từ vựng và
chuyển nghĩa tu từ.
Nhìn chung có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt cũng như
Truyện Kiều nhưng nhưng trực tiếp đề cập đến vấn đề từ chỉ hiện tượng thiên nhiên –
hoa và xuân trong Truyện Kiều thì chưa có tác giả nào thực hiện. Với đề tài này người
7
viết hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc khảo sát những thành công về mặt
nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
3. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
Thực hiện đề tài “Từ chỉ hiện tượng thiên nhiên – hoa và xuân – trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du” người viết có dịp đi sâu khám phá và lý giải những nét độc đáo
mới lạ, những đóng góp mới về phương diện dùng từ của Nguyễn Du.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài còn góp phần khẳng định tầm quan trọng
của việc sử dụng các từ chỉ hiện tượng thiên nhiên – hoa và xuân trong việc tạo nên
9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ TIẾNG VIỆT
1.1.Vấn đề quan niệm về từ tiếng Việt
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về từ. Tựu chung có hai
khuynh hướng sau:
1.1.1. Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng)
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là M.B.Emeneau, Cao Xuân Hạo, Nguyễn
Thiện Giáp.
- Emeneau định nghĩa: “Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có
thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh
điệu”.[5; tr.17]
- Cao Xuân Hạo: “Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác
nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị
(syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết
(monosyllabe), hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ
và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Chân Âu về cơ cấu xoay
quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu
của từ Tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm
tiết”.[5; tr.18]
- Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý
nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”.[5;
tr.168]
1.1.2.Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng với âm tiết
- Nguyễn Văn Tu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất
Là những từ được cấu tạo bởi một tiếng độc lập. Thí dụ: nhà, xe, tập, viết,
xanh, đỏ, vàng, tím…
- Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ có từ lâu đời. Một số từ có
nguồn gốc thuần Việt, một số từ có nguồn gốc vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài
như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga…
11
- Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt
của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan
hệ gia đình, xã hội, các số đếm…
- Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy (theo thống kê
của A.Derode từ đơn chiếm 20% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản
nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời
sống và là cơ sở để tạo từ mới cho tiếng Việt.
1.2.2. Từ ghép
Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ
ý nghĩa.
Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra thành hai
loại chính:
1.2.2.1. Từ ghép đẳng lập
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
- Xét về mặt ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:
* Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn
hữu, bụng dạ, máu huyết…
* Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, cốt nhục…
1.2.3. Từ láy
Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn còn để ngỏ . Về phương thức cấu tạo
của từ láy, tồn tại hai ý kiến:
- Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa.
- Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ
âm của các thành tố.
13
Cả hai đều có mức độ đúng đắn của nó. Ý kiến thứ nhất đã lý giải được những
gì từ láy có tiếng gốc. Tuy nhiên bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện nay không
xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, bủn rủn, lã chã,…), và những từ có dạng
láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa
chiền, dông dài, tang tóc,…).
Có thể nói lặp lại tiếng gốc là một kiểu cấu tạo từ rất đặc thù của các ngôn ngữ
đơn lập nói chung và của tiếng Việt nói riêng. Do vậy ý kiến thứ nhất đã đề cập đến
những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên chưa đủ. Do sự vận động và phát
triển của ngôn ngữ trong quá trình lịch sử, nhiều từ ghép có dạng láy đã thay đổi nghĩa
và hòa lẫn với những từ láy chân chính. Ngày nay đứng ở góc độ đồng đại người ta
nhận thức nhiều trường hợp là từ láy. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang
nhiều đặc điểm của từ láy (về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm).
Để có thể dung nạp được cả hai bộ phận (từ láy chân chính và từ ghép có dạng
láy mất nghĩa) vào từ láy, ngày nay đứng trên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là
những từ gồm nhiều tiếng, các tiếng được ghép lại dựa trên quan hệ ngữ âm có tác
dụng tạo nghĩa.
1.2.4. Từ ngẫu kết (hay biệt lập)
Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Đấy là trường hợp
khiến (hãy, đừng, chớ, đi, nào…), các hành vi hỏi (ai, gì, nào, đâu, sao, thế nào, bao
nhiêu, hả, hử, ư, à, nhỉ, nhé…) và nhiều loại hành vi khác.
1.3.4. Chức năng cú học
Đây là chức năng liên kết các từ trong câu tạo nên thông điệp. Ta có các quan
hệ từ chuyên thực hiện chức năng này như : và, nhưng, song, hoặc, tại, bởi, do, vì, nên,
để, bằng, với, mà, của, cho…
1.4. Nghĩa của từ
1.4.1. Vấn đề quan niệm về nghĩa của từ
Có nhiều ý kiến khác nhau về nghĩa của từ. Tựu chung có các nhóm ý kiến sau
- Nghĩa của từ là bản thể. Gồm có các ý kiến sau:
+ Nghĩa của từ là đối tượng.
+ Nghĩa của từ là những hiện tượng tâm lí (như biểu tượng, khái niệm, sự
phản ánh)
15
+ Nghĩa của từ là chức năng.
+ Nghĩa của từ là sự phản ứng đối với hiện thực.
- Nghĩa của từ là quan hệ: theo khuynh hướng này có các ý kiến đáng chú ý
sau:
+ Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu và đối tượng.
+ Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu, khái niệm và đối tượng.
Có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ
biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố. Trong số
đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ.
Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng, trong thực tế khách quan, tư duy và
người sử dụng. Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu
trúc) của ngôn ngữ.
khác lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn
ngữ.
Các nét nghĩa bắt nguồn từ các thuộc tính của sự vật trong thực tế, tuy nhiên
ngôn ngữ của mỗi dân tộc chỉ chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập nghĩa
của từ trong hệ thống.
Phân loại các nét nghĩa:
- Nét nghĩa phạm trù (phạm trù vị): là nét nghĩa lớn nhất, không thuộc một
loại nét nghĩa nào lớn hơn.
- Nét nghĩa loại (loại vị): sự phân hóa tiếp theo của phạm trù vị là loại vị.
Đây là nét nghĩa cũng có ở nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị. Hay nói cách khác,
loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị.
- Biệt vị: tương tự sự phân hóa ở loại vị, biệt vị là sự biệt hóa của loại vị. Có
hai loại biệt vị:
+ Biệt vị tận cùng: kết quả của sự phân hóa một loại vị nào đó ở mức thấp
nhất.
+ Biệt vị đặc hữu: Những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện ở một từ, không
phải là sự phân hóa của loại vị.
17
Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái
quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những
quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ. Chính vì nghĩa
biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là
cấu trúc biểu niệm.
- Phân biệt nghĩa biểu niệm và khái niệm:
+ Khái niệm là sản phẩm của tư duy, do đó chung cho mọi dân tộc còn
nghĩa của từ là riêng cho từng ngôn ngữ. Chính vì vậy, có những nghĩa biểu niệm chỉ
có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia.
to nhỏ, mạnh yếu,...; nhân tố cảm xúc như: dễ chịu, khó chịu, sợ hãi,...; nhân tố thái độ
như: trọng, khinh, yêu, ghét,...; mà từ gợi ra cho người nói và người nghe.
1.4.3. Sự chuyển nghĩa của từ
Hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả từ sự chuyển nghĩa của từ.
1.4.3.1. Phương thức chuyển nghĩa của từ
a. Phương thức ẩn dụ
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b, c, d khi
giữa a, b, c, d có điểm giống nhau. Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển
nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng.
- Có hai hình thức chuyển nghĩa:
+ Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể).
+ Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu
tượng).
- Một số cơ chế chuyển nghĩa của phương thức ẩn dụ thường thấy:
+ Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng.
+ Dựa vào sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật, hiện tượng.
+ Dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động.
+ Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật, hiện tượng.
19
+ Dựa vào sự giống nhau về tính chất, trạng thái hoặc kết quả giữa các đối
tượng.
Nhận xét: Sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế trên không phải bao giờ cũng
tách bạch, dứt khoát. Trong rất nhiều trường hợp không chỉ một mà có nhiều nét nghĩa
cùng tác động.
phải biết lựa chọn quan hệ nào là cơ bản để chuyển đổi tên gọi một cách hợp lý.
1.4.3.2. Phương thức chuyển nghĩa của từ trong hệ thống
Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng chính là phương thức chuyển nghĩa của từ trong hệ
thống. Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa là sản phẩm của toàn dân được cố định
hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từ điển như một nghĩa sẵn có, được tái
dụng một cách tự do trong lời nói.
Ví dụ: Từ mũi có nghĩa gốc là: 1) Bộ phận cơ thể người hoặc động vật có hình
nhọn, nhô ra thường ở phần đầu, dùng để thở và để ngửi…
Dần dần, người Việt Nam nhận ra một số đối tượng khác có bộ phận nhọn, nhô ra
(như mũi người hoặc động vật) nên dùng từ mũi để gọi tên các bộ phận ấy. Kết quả là
từ mũi có nhiều nghĩa khác. Các nghĩa này được cộng đồng người Việt chấp nhận, sử
dụng rộng rãi, lập đi lập lại trong giao tiếp và được ghi lại trong từ điển. Đó là các
nghĩa sau:
2) Bộ phận đầu nhọn, nhô ra của một số công cụ làm việc: Mũi dùi, mũi
dao, mũi gươm, mũi kéo, mũi khoan, mũi tên…
3) Bộ phận đầu nhọn, nhô ra của tàu thuyền: Mũi tàu, mũi thuyền.
4) Phần đất có hình dáng nhọn, nhô ra sông, ra biển: Mũi đất, mũi Cà Mau.
5) Bộ phận quân đội hoặc lực lượng tiến công ở một hướng, một khu vực
nhất định: Mũi quân bên trái, mũi tiến công…
21
Từ mũi đã chuyển nghĩa bằng phương thức ẩn dụ tu từ dựa trên qui luật liên
tưởng tương đồng nên dù các nghĩa của từ mũi tuy có những nét nghĩa khác nhau, ứng
với các đối tượng khác nhau thuộc các phạm vi rất khác nhau nhưng vẫn có nét nghĩa
chung: Bộ phận nhọn, nhô ra.
1.4.3.3. Phương thức chuyển nghĩa của từ trong hoạt động
tạo ra những nghĩa mới cho từ “mặt trời”. Đây là những nghĩa tu từ chỉ làm tăng thêm
cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc và nó sẽ biến mất khi bị tách khỏi văn cảnh.
1.5. Sự hiện thực hóa các bình diện của từ trong hoạt động
Khi chuyển từ trạng thái tĩnh, mang tính tiềm năng trong hệ thống ngôn ngữ
sang trạng thái động trong giao tiếp, các yếu tố ngôn ngữ nói chung, và từ nói riêng,
cũng đồng thời chuyển từ một dạng trừu tượng, khái quát sang một dạng cụ thể, sinh
động. Bởi vì sự hình thành và tồn tại của từ và các yếu tố ngôn ngữ khác trong hệ
thống ngôn ngữ nhìn một cách tổng thể là để phục vụ cho toàn thể xã hội, cho mọi
hoạt động tư duy và giao tiếp nói chung. Nhưng trong thực tiễn của đời sống xã hội và
cá nhân, hoạt động giao tiếp lại luôn diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định.
Vì thế, để phục vụ cho các hoạt động giao tiếp đó, các từ cần chuyển từ trạng thái
chung, khái quát, trừu tượng sang trạng thái riêng, cụ thể. Nói cách khác, khi tham gia
vào hoạt động giao tiếp cụ thể, các từ hiện thực hóa các thuộc tính, các đặc điểm trừu
tượng, mang tính tiềm năng của mình. Sự hiện thực hóa đó diễn ra ngay trên các bình
diện của từ.
1.5.1. Sự hiện thực hóa chức năng của từ
Ngoài những hiện tượng kiêm nhiệm chức năng của từ trong hệ thống ngôn
ngữ, trong hoạt động giao tiếp còn diễn ra sự chuyển đổi chức năng của từ.
Ví dụ 1: Để chỉ những người làm nghề dạy học, trong tiếng Việt có một số từ
như: giáo viên, nhà giáo, giảng viên, cán bộ giảng dạy, thầy giáo, cô giáo, giáo sư,…
Tất nhiên, các từ này có nét nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều có chức năng biểu vật:
chỉ người làm nghề dạy học (chức năng miêu tả). Trong số các từ đó có ba từ (thầy
giáo, cô giáo, giáo sư) có thể chuyển hóa sang chức năng xưng hô, tuy chức năng này
không thay thế chức năng biểu vật. Người nói có thể tự xưng mình bằng từ thầy, cô;
người giao tiếp lại cũng có thể gọi người đối thoại là thầy, cô. Đôi khi từ nhà giáo,
23
tượng. Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ được đặt trong mối tương
24
quan với một đối tượng cụ thể, xác định, nghĩa là được quy chiếu vào một đối tượng
(sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái,…) xác định trong hiện thực khách quan. Sự
hiện thực hóa ý nghĩa như thế của từ được gọi là sự chiếu vật. Nhờ thế nghĩa của từ
không còn chung chung, trừu tượng mà trở nên cụ thể, xác định. Chính vì vậy, trong
hoạt động giao tiếp nghĩa biểu vật của từ chuyển thành nghĩa chiếu vật.
Ví dụ: Giả sử từ bàn trong tiếng Việt chỉ có một nghĩa: “Đồ dùng thường làm
bằng gỗ, có mặt phẳng và chân đứng, để bày đồ đạc, thức ăn, để làm việc…”. Với
nghĩa này từ bàn vẫn là tên gọi của tất cả các vật có đặc tính như trên chứ không phải
tên gọi của một cá thể nào. Hơn nữa, nghĩa trên đây của từ bàn đã có phần nào trừu
tượng hóa khỏi nhiều thuộc tính cụ thể của nó: Có những cái bàn làm bằng các chất
liệu khác nhau (gỗ, nhựa, đá, kim loại…), với các kích thước khác nhau (to, nhỏ,
vừa…), với số lượng và hình dáng chân khác nhau (ba chân, bốn chân…) với màu sắc
khác nhau (xanh, đỏ, vàng, tím…) và cả với chức năng khác nhau (bàn ăn, bàn học,
bàn làm việc…). Nhưng khi trong một lớp học cô giáo nói với học sinh:“ Hãy để viên
phấn lên bàn cho cô”. Nghĩa của từ bàn được cô giáo dùng trong phát ngôn chính là
nghĩa chiếu vật vì trong tình huống này nó xác định cho học sinh biết được cái bàn cô
giáo đề cập đến là một cái bàn cụ thể với tất cả những thuộc tính cụ thể chứ không còn
trừu tượng như nghĩa của từ bàn được ghi trong từ điển.
1.5.3. Sự hiện thực hóa thuộc tính ngữ pháp của từ
Cũng như ở bình diện ý nghĩa và chức năng , trong hoạt động giao tiếp, các
thuộc tính ngữ pháp của từ không chỉ hiện thực hóa mà còn có thể biến đổi và chuyển
hóa. Sự biến đổi và chuyển hóa là thường xuyên diễn ra và hệ quả là từ có thêm những
thuộc tính ngữ pháp khác. Có những sự biến đổi và chuyển hóa đã diễn ra trong suốt
lịch sử hoạt động lâu dài của tiếng Việt, làm hình thành ở từ những thuộc tính ngữ
pháp mới. Những thuộc tính này đã dần dần ổn định trong lịch sử hoạt động lâu dài