Nhân sinh quan phật giáo trong truyện kiều của nguyễn du – giá trị và hạn chế - Pdf 22

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỒ NGỌC ANH
NH¢N SINH QUAN PHËT GI¸O TRONG "tRUYÖN KIÒu"
CñA NGUYÔN DU - GI¸ TRÞ Vµ H¹N CHÕ
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN HÙNG HẬUHÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận án “Nhân sinh quan Phật
giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du - Giá trị và hạn
chế” là kết quả làm việc, nghiên cứu của riêng tôi. Luận án
đã được tiến hành một cách nghiêm túc. Kết quả của các nhà
nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân thực, cẩn
trọng, có trích nguồn cụ thể trong luận án.
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2014
Tác giả luận án
Hồ Ngọc Anh
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1. Tình hình nghiên cứu 7
1.2. Một số vấn đề đặt ra qua các công trình nghiên cứu 25
Chương 2: NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 28
2.1. Cơ sở hình thành nhân sinh quan Phật giáo 28
2.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo 39

bá phù hợp với tâm lý, truyền thống của người Việt thì không thể không nhắc
đến nội dung giáo lý của nhà Phật. Với tinh thần từ, bi, hỉ, xả của mình, Phật
giáo đã tạo nên sự khác biệt với những hệ tư tưởng cùng thời được người Hán
truyền bá vào Việt Nam. Nếu như Nho giáo phải mất một thời gian khá dài
khi mà xã hội Việt Nam đã tương đối phát triển mới được trọng dụng thì Phật
giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng hoà mình vào nền
văn hoá của người bản địa bằng những câu chuyện thần thoại mang tính nhân
văn cao cả (ông Bụt tốt bụng, thương, giúp người lương thiện khi gặp hoàn
cảnh khó khăn…).
Chúng ta biết rằng Phật giáo không đơn thuần là một tôn giáo với hệ
thống thần linh và nghi lễ thờ cúng của mình, mà nó còn là một học thuyết
triết học tương đối thâm sâu. Trong những tư tưởng triết học đó, ngoài sự lý
giải về quan niệm sống của con người thì Phật giáo đã dành rất nhiều nội
dung cho những vấn đề liên quan đến con người, đến cuộc đời của con người
(nhân sinh quan).
Có thể khẳng định rằng, những tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng sâu đậm
trong xã hội và con người Việt Nam đa phần và chủ yếu là những quan niệm
xoay quanh vấn đề về con người và cuộc đời con người (nhân sinh quan).
1
Những quan niệm này cùng với thời gian đã không ngừng thấm sâu vào hành
vi, lời nói, sinh hoạt hàng ngày của người Việt (những quan niệm về thiện ác,
về nhân quả và nghiệp báo, khuyên con người làm lành lánh dữ…). Không
những vậy, nó còn ảnh hưởng tới cả những chuẩn mực xã hội được cộng đồng
thừa nhận, ảnh hưởng đến pháp luật của nhà nước, ảnh hưởng tới văn học
nghệ thuật, tới không gian kiến trúc… của người Việt Nam. Nói cách khác,
Phật giáo đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền văn hoá mang đậm
bản sắc của người Việt Nam.
Trong sự ảnh hưởng của Phật giáo tới văn học nghệ thuật Việt Nam,
chúng ta không thể không nhắc tới một tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du, đó là
“Truyện Kiều”. Đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có thể thấy rõ sự khủng

lối sống và nhân cách. Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì
mọi người, mọi người vì mỗi người"; kết hợp hài hòa tính tích cực
cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với
bản thân, gia đình và xã hội. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt
đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân
văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu;
chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến
xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người [21].
Chính vì vậy, việc phân tích và vận dụng tư tưởng tích cực về đạo đức,
tôn giáo trong các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, tác phẩm “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du nói riêng để khuyến khích con người làm việc thiện,
tránh xa việc ác, tự chịu trách nhiệm với những hành vi cá nhân của bản
thân… từ đó góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, lành mạnh hơn, hướng
con người đến giá trị chân - thiện - mỹ là việc làm hết sức cần thiết.
3
Với tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn như vậy, nghiên cứu sinh
đã chọn đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du - Giá trị và hạn chế” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Phân tích nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
và những giá trị, hạn chế của nó
2.2. Nhiệm vụ
- Trình bày cơ sở hình thành cũng như nội dung của nhân sinh quan Phật
giáo thể hiện trong quan niệm về nghiệp báo, nhân quả.
- Trình bày và chỉ ra nhân sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nghệp
báo và nhân quả trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
- Chỉ ra những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du; ý nghĩa của việc nghiên cứu này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Chương 4, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp
hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp văn bản học để đưa ra những đánh giá về giá trị và hạn chế của quan
niệm nhân quả, nghiệp báo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã khái quát và hệ thống hóa những nội dung cơ bản của nhân
sinh quan Phật giáo gắn với “Truyện Kiều”, cụ thể là những quan niệm về
nghiệp báo, nhân quả và sự tiếp biến của chúng ở Phật giáo Việt Nam.
- Luận án đã chỉ ra được những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; ý nghĩa của việc nghiên cứu này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần phát huy những giá trị nhân văn của Phật giáo Việt Nam
nói chung, tư tưởng Phật giáo trong văn học, trong “Truyện Kiều” nói riêng.
5
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng
dạy những môn học có liên quan đến tư tưởng Triết học (Phật giáo) Việt Nam;
tôn giáo (Phật giáo) ở Việt Nam và văn học Việt Nam.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nhân sinh quan Phật giáo nói chung, quan niệm về nhân quả, nghiệp báo
của Phật giáo trong “Truyện Kiều” nói riêng là những vấn đề đã và đang được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ và góc độ khác nhau. Có
thể tổng quan thành tựu nghiên cứu có liên quan đến luận án theo những
nhóm sau:
- Những công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo qua quan

Theo tác giả, những sự chênh lệch về tinh thần, đạo đức, trí tuệ và bẩm
tính, một phần lớn đều tùy thuộc nơi hành động và khuynh hướng của chúng
ta, trong quá khứ và trong hiện tại, tức là nghiệp vậy [78, tr.305].
Tuy nhiên, dù chủ trương rằng nguyên nhân chính tạo nên những sự
chênh lệch trong đời sống là sự khác biệt giữa cái Nghiệp của chúng sinh,
nhưng Phật giáo không quả quyết rằng tất cả đều do nơi Nghiệp. Nói một
cách khác, Nghiệp không phải là một nguyên do duy nhất tạo nên những sự
khác biệt, chênh lệch giữa chúng sinh. Luật nghiệp báo tuy quan trọng nhưng
chỉ là một trong thập nhị nhân duyên trong đời sống [78, tr.305-306].
Ông cũng thừa nhận rằng thuyết nghiệp báo khác với thuyết định mệnh,
thiên mệnh. Ông viết: “chúng ta là vị kiến trúc sư xây đắp số phận của ta.
Chính chúng ta tạo ra ta hay tự tiêu diệt lấy ta, tạo thiên đàng cho ta và cũng
chính ta tạo địa ngục cho ta.
Những gì mà ta nghĩ, nói, và làm là của ta. Chính tư tưởng, lời nói và
hành động là Nghiệp. Và chính nghiệp đưa ta lên hay xuống từ kiếp này sang
kiếp kia mãi mãi trong vòng luân hồi [78, tr.352].
8
- Thích Thiện Siêu, Chữ nghiệp trong đạo Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
2002 [69].
Theo tác giả, quan niệm về “định mệnh” và “định nghiệp” thường được
nêu ra cùng với nhau và có liên quan đến thuyết nhân quả của nhà Phật.
“Định mệnh” là một mệnh lệnh thiêng liêng, một sức mạnh vô hình từ đâu
không rõ, nó đặt định cho người này thế này, còn người kia thế kia, phải sao
chịu vậy, tự mình không thể thay đổi được. Còn “định nghiệp” nhìn bề ngoài
cũng tương tự như định mệnh, tức là đã tạo nhân gì phải gặt quả nấy, gieo gió
gặt bão. Nhân tốt quả tốt, nhân xấu quả xấu. Không thể có nhân mà không có
quả, hay có quả mà không bắt nguồn từ nhân sinh ra. Tuy nhiên, luật nhân quả
nơi con người không phải do bên ngoài sắp đặt mà chính do tự con người chủ
động. Con người tự tạo ra nhân, ấy là tạo nghiệp nhân, rồi chính con người
thu lấy quả, ấy là thọ nghiệp quả. Mặc dù vậy, nghiệp không phải là nguyên

quả là một trong những nền tảng của đạo Phật. Nếu chưa hiểu biết thâm sâu
về lý nhân quả tức là chưa hiểu đạo Phật và chưa thực hành đúng đạo Phật.
Cuốn sách được chia làm hai phần. Phần đầu tác giả đi vào lý giải cách
hiểu và môi trường của nhân quả. Phần hai là một số trường hợp điển hình về
nhân quả gồm: nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian, nhân quả Bồ tát.
Theo tác giả, nếu chúng ta nhận thức được lý thuyết nhân quả thì sẽ giúp
chúng ta làm chủ được cuộc đời của bản thân mình, sẽ đưa cuộc đời chúng ta
theo ý muốn của chúng ta chứ không phải là một vị thần linh, thượng đế nào
đó quyết định [60, tr.366]. Điều này có giá trị không chỉ trong đạo Phật mà
còn cho cả ngoài đời thường.
- D. J. Kalupahana (Đồng Loại, Trần Nguyên Trung dịch) Nhân quả -
triết lý trung tâm Phật giáo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2007 [39].
10
Nội dung chủ yếu của tác phẩm là phân tích bản chất của thuyết nhân
quả Phật giáo được trình bày trong nền văn học cổ điển Pali và kinh điển A -
Hàm cũng như những trường phái triết học Phật giáo như Trung quán luận và
Duy thức tông.
Tác giả đã vận dụng phương pháp phân tích, so sánh những điểm tương
đồng và dị biệt giữa các học thuyết Phật giáo và các triết học Ấn Độ cổ đại
trong kinh Vê-đa và Upanisad, cũng như các học thuyết định mệnh của trường
phái phi Vê-đa mà điển hình là phái Kỳ na giáo (Jainism). Thông qua đó, làm
nổi bật điểm đặc sắc của nhân quả Phật giáo về phương diện trách nhiệm và
giá trị đạo đức trong bối cảnh đời sống xã hội hiện tại và tương lai.
Vì vậy, tác giả đã chia công trình của mình thành 9 chương gồm:
Chương 1: Những thuyết nhân quả trước Phật giáo (theo truyền thống của
kinh Vê-đa - phái chính thống); Chương 2: Những thuyết nhân quả trước Phật
giáo (theo truyền thống không Vê-đa - phái phi chính thống); Chương 3: Làm
sáng tỏ một số thuật ngữ liên quan đến thuyết nhân quả; Chương 4: Quan
niệm về pháp; Chương 5: Nguyên lý và hiệu lực nhân quả; Chương 6: Giải
thích hiện hữu bằng nhân quả; Chương 7: Các phát triển về sau; Chương 8:

chí Nghiên cứu tôn giáo, 2009, số 4 (70), tr 71 - 74. Văn Xương Đế Quân
(Quảng Tráng lược dịch), Nhân quả báo ứng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2011.
Thích Đạt Ma Phổ Giác, Nhân quả & số phận con người, Nxb Hồng Đức,
2013, Hà Nội. Thích Thiện Hoa, Xây dựng đời sống trên nền nhân quả, nghiệp
và luân hồi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007. Thích Giác Nghiên (s.t) Nhân quả
luân hồi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009. Nguyễn Hùng Hậu (Minh Không)
(2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
12
Thông qua những công trình này, tác giả luận án đã bước đầu nhận diện
được khái niệm, nội dung, phân loại và tính chất của các quan niệm về nhân
quả, nghiệp báo, luân hồi của Phật giáo. Đó chính là cơ sở để tác giả luận án
khai thác và triển khai vào luận án triết học của mình trong chương 2: Nhân
sinh quan Phật giáo qua quan niệm về nhân quả, nghiệp báo.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du và nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
“Truyện Kiều” là một kiệt tác văn học được Nguyễn Du viết vào khoảng
những năm đầu của thế kỷ XIX. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu về Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” của ông. Có thể kể đến
những công trình tiêu biểu sau:
- Hoài Thanh, Quyền sống của con người trong truyện Kiều của Nguyễn
Du, Hội văn hoá Việt Nam, 1949 [73].
Theo Hoài Thanh, lý do để ông phải viết cuốn sách này bởi vì trong một
xã hội mới, chúng ta cần phải kiểm điểm lại những giá trị cũ xem cái nào cần
giữ lại, cái nào cần vứt bỏ và cái nào thì để xem xét tiếp… Và một trong
những giá trị cũ cần phải kiểm điểm lại đó là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Với hơn một trăm năm kể từ khi ra đời cho đến nay, “Truyện Kiều” vẫn tiếp
tục được khẳng định và biết đến trong lòng người dân Việt Nam không chỉ là
học Kiều, thuộc Kiều, ngâm Kiều mà cả bói Kiều. Nhưng “Truyện Kiều”
được hoan nghênh nhiều mà cũng bị bài xích nhiều. Số phận “Truyện Kiều”
cũng long đong như số phận nàng Kiều. Kể từ khi nó ra đời, nó chưa bao giờ

mệnh đã định thế. Cho nên Nguyễn Du cố tiêu diệt cái mộng Từ Hải ở trong
14
mình để sống cuộc sống tầm thường của những người Nguyễn Du cho là
lương thiện. Nguyễn Du cố cắt xén con người mình cho vừa kích tấc của lối
sống tầm thường nhưng cắt xén mãi mà vẫn không vừa. Lối sống mà Nguyễn
Du cố khép mình vào, trong tâm trí Nguyễn Du, dười ngòi bút Nguyễn Du,
vẫn hiện ra với một khuôn khổ nhỏ nhen với những màu buồn tẻ [73, tr.51].
- Trương Tửu, Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (Phê bình văn học),
Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1956 [105].
Cuốn sách được chia làm ba phần gồm: Phần thứ nhất đề cập đến lịch sử
nghiên cứu vấn đề “Truyện Kiều” (chương 1); Phần thứ hai đề cập đến tính
chất chống phong kiến của “Truyện Kiều” (chương 2) và phần thứ ba đề cập
đến thời đại Nguyễn Du và nội dung tư tưởng “Truyện Kiều” (chương 3,
chương 4). Thông qua những nội dung được trình bày, tác giả Trương Tửu
muốn nhấn mạnh rằng toàn bộ đời sống ý thức của Nguyễn Du hình thành
song song với toàn bộ quá trình thành bại của phong trào Tây Sơn. Nguyễn
Du là một nghệ sĩ vĩ đại, vì vậy, không có lý gì mà Nguyễn Du lại không phản
ánh được trong tác phẩm một vài cục diện cốt yếu của phong trào Tây Sơn,
mặc dầu thi sĩ đã quay lưng lại với nó [105, tr.8].
Tác giả Trương Tửu cho rằng “Truyện Kiều” là một tác phẩm văn học cổ
điển tiêu biểu của văn hóa Việt Nam vì bốn lý do:
Thứ nhất, vì “Truyện Kiều” là một tác phẩm dân tộc. Thông qua “Truyện
Kiều”, Nguyễn Du đã nói lên được tinh thần nhân đạo chủ nghĩa bất diệt của nhân
dân Việt Nam. Ông đã đứng về phía các tầng lớp xã hội bị áp bức đang vươn đến
sự giải phóng; đề cao những tinh thần quý giá nhất của con người như tự do, công
bằng, nhân đạo. Ông cũng lên án kịch liệt một chế độ bóc lột đè nén con người và
tiêu diệt tài tình, nhân đạo, công bằng và tự do. Nói cách khác, Nguyễn Du đã đập
vỡ cái mặt nạ mỹ miều, siêu hình che giấu một chân tướng hung ác, tội lỗi của bọn
“phụ mẫu chi dân”, của lũ con buôn, bịp bợm, của trời, Phật, của số mệnh, của ông
15

hiện trước đó [105, tr.213].
- Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 2003 [58].
Đây là công trình tiêu biểu của GS. Phan Ngọc nghiên cứu về “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du. Với những giá trị khoa học mà nó đem lại, công trình
của ông đã được tặng giải thưởng nhà nước về văn hóa Việt Nam năm 2000.
Trong công trình này, Phan Ngọc đã cố gắng làm rõ và chỉ ra phong cách
riêng có hoàn toàn của Nguyễn Du khi viết “Truyện Kiều”. Ông viết: “Trong
việc nghiên cứu Nguyễn Du chúng ta đã đạt được nhiều thành tích. Đặc biệt
trong các công trình nghiên cứu “Truyện Kiều”, có một số thuộc loại xuất sắc
đã nghiên cứu công phu về các mặt tư tưởng, ngôn ngữ, nghệ thuật của tác
giả, và đã đóng góp phần tích cực vào lý luận phê bình của chúng ta. Song riêng
mặt phong cách của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, tuy đã có những bài viết
đáng chú ý đề cập đến một vài đặc điểm của phong cách nhà thơ, nhưng nhìn
chung chưa có một công trình ngôn ngữ học về toàn bộ phong cách Nguyễn Du
trong “Truyện Kiều” [58, tr.5]. Và vì vậy, theo ông, muốn nghiên cứu phong cách
Nguyễn Du phải làm nhiều việc. Thứ nhất, phải xây dựng lại các khái niệm của
môn phong cách học. Thứ hai, phải tìm ra được những đặc điểm tiêu biểu của
thiên tài Nguyễn Du về mặt nội dung không lặp lại ở người khác. Thứ ba, tiếp
cận tác phẩm một cách hình thức và chứng minh chính hình thức tác giả lựa
chọn là thích hợp nhất để diễn đạt nội dung này [58, tr.7].
Trên cơ sở đó, tác giả Phan Ngọc đã chia công trình của mình thành chín
nội dung chính gồm: Chung quanh vấn đề tư tưởng của “Truyện Kiều”; Phương
pháp tự sự của Nguyễn Du; “Truyện Kiều”, tiểu thuyết phân tích tâm lý; Một
vài vấn đề nhận thức luận chung quanh “Truyện Kiều”; Cách bố cục “Truyện
17
Kiều” theo yêu cầu của kịch; Câu thơ “Truyện Kiều”; Ngôn ngữ “Truyện Kiều”;
Ngữ pháp “Truyện Kiều”; Phong cách học và phân tích văn học.
Để có thể thực hiện được những nội dung đó, Phan Ngọc đã không xem
xét “Truyện Kiều” một cách cô lập (như tự nhận xét của tác giả) mà cố gắng

Vì vậy, tác giả đã “xác lập các mô hình thế giới được tạo ra trong tác phẩm để
từ đó làm nổi bật thân phận và diện mạo của nhân vật Thúy Kiều. Từ đó điểm
lại những thăng trầm chìm nổi của nhân vật trong bể trầm luân suốt mười lăm
năm. Rồi từ đó đưa ra nhận xét về một tấm lòng nhân hậu mang vẻ trẻ đẹp vị
tha, thuần Việt xuyên suốt chiều dài tác phẩm” [6, tr.4].
Với sự khu biệt ấy, tác giả cho rằng “Truyện Kiều” là một sự tổng hợp
của bốn mạch truyện gồm: Mạch thứ nhất là câu chuyện tình yêu đầy éo le,
trắc trở (tình là dây oan) giữa Thúy Kiều và Kim Trọng; Mạch thứ hai là cuộc
chiến giữa tài sắc và xã hội, giữa thế giới các mỹ nhân và thế giới các tiện nhân.
Kiều nổi lên trước hết là sắc đành đòi một tài đành họa hai mà hại thay mang
lấy sắc tài làm chi. Mạch kể này cũng cho thấy cuộc đụng độ giữa những thành
kiến xã hội và những con người tài hoa trong xã hội đó. Mạch thứ ba là xung đột
giữa tài và mệnh (tài mệnh tương đố). Mạch thứ tư liên quan đến thân mệnh
tương đố đi liền với chữ thân (Đã mang lấy nghiệp vào thân; làm cho cho hại
cho tàn cho cân). Các mạch truyện này được đan lồng vào nhau, tạo ra tính chất
tầng tầng lớp lớp, tạo ra tính chất phức hợp cho tác phẩm này [6, tr.258].
Tuy nhiên, như tác giả đã tự nhận xét, tiếp cận “Truyện Kiều” từ góc
nhìn văn hóa là một vấn đề lớn, hàm chứa nhiều khó khăn, không dễ giải
quyết trọn vẹn ngay một lúc, một thời. Công trình của chúng tôi cũng chỉ
dừng ở mức độ khởi đầu với những thu hoạch qua sự cảm nhận bước đầu về
tác phẩm nổi tiếng này. Bảo vệ văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập là
19
một việc làm không đơn giản. Muốn vậy trước hết, phải không ngừng nâng
cao dân trí, mở mang trí tuệ và hiểu biết cho con người về di sản văn hóa của
cha ông và của nhân loại. Từ đó dẫn đến việc tăng cường dân khí, tạo ra bản
lĩnh và niềm tin dân tộc. Tìm hiểu nghệ thuật “Truyện Kiều” từ góc nhìn văn
hóa cũng không ngoài những nhiệm vụ trên [6, tr.4-5].
Ngoài ra còn một số các công trình khác (sách tham khảo, bài đăng
trên các tạp chí khoa học…) cũng đề cập đến “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du như: Trịnh Bá Đĩnh (2002), Nguyễn Du - Về tác giả và tác phẩm, Nxb

đau để cõi lòng được trong lặng, thong dong [111, tr.6]. Tác giả cũng cho rằng
Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” để nói lên sự chuyển biến tâm linh theo tư
tưởng Phật giáo chứ không phải như nhiều người nghĩ rằng ông viết “Truyện
Kiều” để giãi bày sự thăng trầm trong chính cuộc sống của ông.
Với kinh nghiệm sống, tình thương, sự thấu đạt Phật lý, Nguyễn Du đã
chuyển Kim Vân Kiều truyện - Một tập truyện tình bình thường của Thanh
Tâm Tài Nhân - thành một Đoạn Trường Tân Thanh mang đậm tính dân tộc
Việt Nam. Ngoài tính dân tộc ra, theo tác giả, “Truyện Kiều” còn có diệu
nghĩa thâm sâu của Phật pháp.
Tác giả cho rằng, Thúy Kiều được Nguyễn Du xây dựng với hình ảnh
một con người tài sắc tuyệt vời (hiện thân những tinh hoa của con người) - đó
chính là cách mà Nguyễn Du muốn ám chỉ đến cái tâm chân thật (chân tâm)
[111, tr.32]. Theo tác giả, cái tâm chân thật từ xưa đến nay vốn thanh tịnh,
sáng suốt như nhiên, ngay nơi cảnh động ồn náo mà vẫn thanh tịnh, chứ
không phải đợi cảnh tịnh thì nó mới tịnh. Cảnh thì có động, có tịnh, còn cái
tâm tánh ấy xưa nay chưa từng động thì cũng chẳng nói là tịnh, vì động và
tịnh là hai tướng đối đãi thay nhau. Chân tâm xưa nay chưa lúc nào rời chúng
21
ta, do vì lầm nhận thức tình hư vọng mà quên lửng, nay chỉ cần nhận lại là hết
khổ [111, tr.39-40].
Theo đó, tác giả muốn nhấn mạnh rằng những người học Phật cần có
lòng tin để rồi từ đó nhận ra cái tâm chân thật có sẵn trong mỗi người (như
Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng Thúy Kiều trong “Truyện Kiều”) và họ sẽ
có đủ sự tự tin không mê lầm vọng chấp thân và tâm thức mà phải gây tạo ra
vô vàn trói buộc khổ đau.
“Truyện Kiều” không chỉ nói về cái tâm chân thật, mà còn đề cập đến
những nguyên nhân của sự đau khổ của con người. Những nguyên nhân này
không chỉ hiện hữu ở hiện thực mà còn tồn tại ở nhiều thế hệ khác nhau. Tác
giả đã lấy ví dụ ở ba nhân vật làm tượng trưng cho tâm ba thời (quá khứ, hiện
tại và vị lai) hư vọng nơi con người chúng ta và cũng vạch ra cội nguồn phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status