Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Lời cảm ơn!
Sau một thời gian nghiên cứu, với sự nỗ lực hết mình của bản
thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Từ chỉ màu sắc trong thơ
Tố Hữu. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè;
sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là
ThS. Trần Anh Hào và TS. Hoàng Trọng Canh - ngời trực tiếp hớng
dẫn tôi.
Đây là những bớc đi đầu tiên của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu
khoa học, do đó, chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi hy vọng nhận
đợc sự góp ý tích cực từ phía các thầy cô và các bạn.
Vinh, ngày 26 tháng 5 năm
2006
Sinh viên
Nguyễn Thị Yến
Mục lục
Mở đầu
0.1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
1
1
1
Khóa luận tốt nghiệp
2
3
3
4
4
4
5
5
6
7
7
10
10
15
16
16
31
46
47
51
61
63
2
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Mỗi tập thơ gắn với mỗi thời kì khác nhau, đồng thời nó mang những nội
dung riêng, những t tởng riêng để nhằm mục đích nói lên đợc những vấn đề của
xã hội, của đất nớc đang bị chiến tranh.
Ngoài những vấn đề ấy ra Tố Hữu còn nói đến vẻ đẹp của con ngời, vẻ đẹp
của thiên nhiên đất nớc, sắc mầu của Tổ quốc. Bởi mầu sắc đợc coi nh: Một
nguồn khoái cảm thẩm mỹ đặt ngang hàng với âm nhạc, văn học và nghệ thuật
nói chung (15, Nguyễn Khánh Hà tr.3) từ trớc đến nay đã không ít nhà văn nhà
thơ nói về vẻ đẹp của đất nớc gắn với mầu sắc của thiên nhiên nh: Nguyễn Du,
Nguyễn Khuyến Vì thế chúng tôi nghiên cứu đề tài này không ngoài mục đích
tìm hiểu ý nghĩa giá trị mà nhà thơ gửi gắm vào những từ chỉ mầu sắc qua các
tập thơ của Ông.
0.2. Lịch sử vấn đề
ở Việt Nam màu sắc từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đợc
của truyền thống văn hoá của một đất nớc có bề dày văn hiến lâu đời và đời sống
tinh thần phong phú. Từ nghệ thuật làm gốm sứ đến các dòng tranh dân gian, từ
trang phục dân tộc rực rỡ độc đáo đến những vàng son cung điện, đền đài, đâu
đâu cũng hiện diện vai trò của màu sắc, với những ý nghĩa biểu tợng văn hoá gắn
liền với truyền thống lịch sử. Hơn thế nữa môi trờng thiên nhiên của một nớc
nhiệt đới lại vô cùng phong phú sắc màu. Với thiên nhiên nh thế, xã hội nh thế sẽ
không có gì đáng ngạc nhiên nếu nói rằng ngời Việt có một kho từ ngữ để biểu
thị màu sắc. Đáng tiếc cho đến bây giờ chúng ta khai thác nó, tìm hiểu nó cha đợc bao nhiêu. Những công trình đề cập đến màu sắc trong văn hoá chủ yếu thuộc
về các nhà dân tộc học, những ngời nghiên cứu nghệ thuật, văn hoá dân gian.
Trong ngôn ngữ thơ ca thì ngôn ngữ chỉ màu sắc cũng rất phong phú và đa
dạng. Nhng để nghiên cứu nó một cách sâu sắc, để làm nổi bật lên giá trị của
màu sắc trong thơ ca thì cha nhiều. Trong "những thế giới nghệ thuật thơ" của
Trần Đình Sử và những vấn đề lí thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ của các
từ chỉ màu trong thơ Tố Hữu.
Màu sắc trong thơ Tố Hữu rất đa dạng với nhiều sắc độ khác nhau, có
những bài thơ nh một bức họa sinh động gắn liền với thiên nhiên đất nớc, nó làm
nên vẻ đẹp của con ngời, của đất nớc thêm sinh động và luôn lấp lánh những sắc
màu qua từ ngữ thơ của ông.
0.3. Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
a. Nhiệm vụ
Đề tài này đi sâu vào các nhiệm vụ sau:
- Thống kê các từ ngữ chỉ màu sắc xuất hiện trong các tập thơ của Tố Hữu.
- Phân loại các từ chỉ màu sắc đã thống kê đợc.
- Chỉ ra ý nghĩa và giá trị thẫm mỹ của các từ chỉ màu sắc đó.
- Chỉ ra đợc đóng góp của Tố Hữu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại trong
đó có việc sử dụng các từ chỉ màu sắc.
b. Đối tợng
Đề tài này lấy đối tợng khảo sát là lớp từ chỉ màu sắc xuất hiện trong thơ
Tố Hữu in trong cuốn Tố Hữu thơ (nhà xuất bản giáo dục) gồm các tập thơ
sau:
- Từ ấy (1937-1946).
- Việt Bắc (1946-1954).
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
5
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
- Gió lộng (1955-1961).
chép hàng chục câu ca dao và kho sách cứ dày lên mãi. ấy thế rồi quen đi Tố
Hữu dần dần nhớ đến thuộc những câu hát cũ, cho tới lớn lên, những tiếng, chữ,
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
6
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
âm điệu ấy cứ ngân nga mãi trong lòng. Và cha của Tố Hữu cũng rất thích làm
thơ, những ngời phải nghe thơ Ông trớc hết là bà mẹ Tố Hữu và Tố Hữu. Thơ
ông chẳng hay lắm nhng đợc cái âm điệu cái thể thơ Đờng nghe rất thích nên Tố
Hữu cũng sớm quen với cái luật trắc trắc bằng bằng từ tuổi nhỏ. MẹTố Hữu
mất sớm lúc Tố Hữu mới 12 tuổi. Tố Hữu là con út, con cng nên thờng đợc mẹ
ấp ủ ru bằng tiếng hát ngọt ngào của ngời đàn bà xứ Huế. Cha là ngời nghiêm
khắc nhng thơng con và rất tích cực dạy làm thơ, nhiều khi khách đến nhà lại bắt
Tố Hữu biểu diễn tài nghệ làm mấy câu tứ tuyệt chào khách. Nhờ vậy mà khi
lớn lên, bắt đầu thích làm thơ và có đợc chút ít vốn về hình thức thơ ca dân
gian và cổ điển.
Khi vào trờng trung học Tố Hữu văn học Pháp thế kỉ XVIII. ở tuổi 16 có
lúc Ông đã làm thơ lãng mạn đăng lên Hà Nội Báo và trào lu thơ ca này đã để lại
dấu ấn trong thơ. Thế nhng chỉ khi bắt gặp phong trào mặt trận dân chủ thì nó
nh một luồng gió mới thổi lộng vào tâm hồn nhà thơ. Năm 1937 Tố Hữu thôi học
và dấn thân vào con đờng hoạt động cách mạng. Từ khi tiếp nhận đợc ánh sáng
của Đảng thì lí tởng cách mạng chi phối cuộc đời của Ông. Thơ ca là niềm say
mê đối với Tố Hữu là một thứ tình yêu nhng Tố Hữu đã hi sinh tất cả để làm tròn
nhiệm vụ của một ngời chiến sĩ cộng sản. Sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu trải dài
theo thời gian, các tập thơ Từ ấy (1937- 1946) cho đến Việt Bắc, Ra trận,
họ cảm nhận đợc ngọn lửa lí tởng ngời sáng cùng một trái tim yêu thơng con ngời rộng lớn và sâu thẳm, vốn là phẩm chất của những tài năng lớn đã toả ra từ
nhà thơ đó. Điều này đã làm cho Tố Hữu và thơ của Ông ngời lên một ánh sáng
riêng biệt giữa một số đông các nhà thơ khác. Và với Tố Hữu lần đầu tiên trong
lịch sử nớc nhà chúng ta có một kiểu nhà thơ hoàn toàn mới, nhà thơ của giai cấp
vô sản, nhà thơ- chiến sĩ, biết đem đời mình và thơ mình ra chiến đấu cho ngọn
cờ lí tởng cao cả vì độc lập, tự do của tổ quốc. Thơ Ông là thơ kêu gọi, thơ chiến
đấu, thơ hành động, là thơ mang cánh lửa, đốt cháy trái tim con ngời và ngọn
lửa thần của đại nghĩa (Xuân Diệu) và đã có biết bao nhiêu ngời cảm động vì
thơ Ông và từ thơ Ông mà đến với cách mạng. ở Tố Hữu có sự hoà quyện chặt
chẽ giữa cái lí tởng cao đẹp mà Ông theo đuổi, với tâm hồn trong trẻo tràn đầy
nhiệt huyết cách mạng và tình yêu Tổ Quốc nồng cháy cùng một nỗi cảm thông,
xót thơng những con ngời lao khổ bị áp bức bóc lột đã làm nên gốc rễ và nguồn
mạch sáng tạo của Ông trong suốt cuộc hành trình dài sau này.
Sỡ dĩ thơ Tố Hữu có chất men lửa nồng nàn, có sức thanh lọc tâm hồn và
kêu gọi con ngời vơn lên chính là vì trong trái tim Ông luôn bừng cháy ngọn lửa
lí tởng của chủ nghĩa cộng sản và thơ ông do vậy mang đậm ý thức cách mạng
vô sản và tính chiến đấu đã có tác dụng thức tỉnh, giục giã con ngời vùng lên đấu
tranh.
Thơ đối với Tố Hữu không phải là mục đích mà là phơng tiện là một thứ
vũ khí sắc bén giúp Ông làm cách mạng. Thơ hết là Tiếng nói đồng ý, đồng
tình, tiếng nói đồng chí giữa cuộc đời. Chính vì lẽ đó mà thơ Ông có tiếng
nói sâu xa giữa dòng đời và có sức lắng đọng trong lòng độc giả. Sức cảm hoá
đồng hoá, mối giao lu tuyệt diệu ấy đã góp phần đa thơ Tố Hữu có vai trò hết sức
quan trọng trong nền văn học cách mạng và chính điều này đã giúp cho thơ Ông
trờng tồn mãi mãi với thời gian.
1.2 Vốn từ chỉ màu sắc
1.2.1 Khái niệm màu sắc
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
8
thế giới của màu sắc. Tất cả vật đều có màu và rất ít khi màu của chúng trùng
hợp nhau, tại sao mỗi vật lại có màu khác nhau nh thế?
Nh đã nói ánh sáng là một loại có sóng có nguồn sáng phát ra, bảy ánh
sáng khác màu có bảy bớc sóng khác nhau. Khi những sóng ánh sáng ấy truyền
đi và chiếu vào mắt ta sẽ tạo ra cho hệ thống thần kinh của chúng ta những cảm
giác khác nhau, do đó ta phân biệt đợc màu sắc khác nhau của sự vật.
Khi ánh sáng mặt trời chiếu lên các vật, những vật đó sẽ hấp thụ một phần,
còn phần kia bị những vật đó phản chiếu. Kết cấu vật chất khác nhau của mỗi vật
thể quy định sự khác biệt trong khả năng hấp thụ và phản chiếu các sóng ánh
sáng .Chẳng hạn nếu ánh sáng chiếu lên một loại vải, mà loại vải này chỉ phản
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
9
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
chiếu một thứ ánh sáng màu đỏ, và hấp thụ các loại ánh sáng màu khác thì ta sẽ
nhìn thấy miếng vải đó có màu đỏ. Một loại vải khác nếu chỉ phản chiếu ánh
sáng màu vàng và hấp thụ ánh sáng màu khác thì nó sẽ có màu vàng.
Vì sao một số vật nh tờ giấy hay bức tờng quét vôi khi ánh sáng mặt trời
chiếu lên thì có màu trắng? Đó là vì vật thể có khả năng phản chiếu đợc tất cả
các loại ánh sáng nó có bớc sóng khác nhau, sau đó các loại ánh sáng ấy phản
chiếu vào mắt ta khiến ta trông thấy hỗn hợp nhiều màu khác nhau, do đó ta thấy
tờ giấy và bức tờng đều có màu trắng . Ngợc lại khi ánh sáng mặt trời chiếu lên
nhọ nồi hoặc hồ bóng những vật thể đó sẽ hấp thụ tất cả các loại ánh sáng khác
màu, không phản chiếu loại ánh sáng nào, nên ta không nhìn thấy thứ ánh sáng
nào cả và cảm thấy chúng có màu đen.
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
- Màu sắc ẩn hiện: Màu sắc gây cảm giác khi xa khi gần khi mờ, khi tỏ,
do sử dụng có cung bậc các mảng màu sáng tối xen nhau .
Bản thân từ màu cũng gợi lên sắc thái biểu thị sắc, Từ điển Tiếng
Việt của Hoàng Phê định nghĩa:
Màu: 1. Thuộc tính vật thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biết
đợc bằng mắt cùng với hình dáng giúp phân biệt vật này với vật khác.
Ví dụ : + Màu đỏ của hoa phợng
+ Màu xanh của nớc biển
2. Chất dùng để tô thành các màu khi vẽ
Ví dụ : Pha màu, hợp màu
3.Màu không kể đen và trắng (nói khái quát )
Ví dụ: ảnh màu, phông màu, phim màu.
4. Toàn bộ nói chung những biểu hiện bên ngoài tạo nên cảm giác
có một tính chất nào đó .
Ví dụ : Bầu không khí đợm màu tang tóc
b) Đi vào ngôn ngữ, màu sắc mang nghĩa bản thể (nét nghĩa miêu tả) và
nét nghĩa dụng học, nói cách khác nó thuộc cấu trúc biểu niệm.
Cấu trúc biểu niệm bao gồm nét nghĩa bản thể và nét nghĩa dụng học, các
nét nghĩa này không đồng nhất. Hai thành phần nội dung của ngôn bản là: Nội
dung miêu tả và nội dung liên cá nhân. Trong cấu trúc ý nghĩa của từ cũng có sự
phân biệt các nét nghĩa miêu tả và nét nghĩa liên cá nhân, tức là nét nghĩa dụng
học. Trong cấu trúc biểu niệm của từ có không ít nét nghĩa phản ánh các thuộc
tính của sự vật, hoạt động tính chất trong thực tế những thuộc tính này là do
co ngời gán cho sự vật, hoạt động, tính chất qua sự cảm nhận, qua tri giác, nhận
thức của mình. Không có con ngời không có nét nghĩa đó. Các từ ngữ chỉ màu
sắc cũng mang đầy đủ những đặc điểm đó.
Ví dụ: Khi ta nói cấu trúc biểu niệm của từ hồng
Hồng là từ chỉ màu sắc, nó có nét nghĩa phạm trù:
đã đợc gọi tên trong ngôn ngữ.
Nh vậy, tên gọi của các màu sắc mang tính võ đoán và nó đợc quy định
theo nhận thức khách quan mà con ngời gán ghép áp đặt. Vì thế nó bị chi phối
bởi ý thức và quan niệm chủ quan của con ngời.
Ví dụ: Thờng lá của cây mang màu xanh nhng tại sao sắc màu đó lại gọi
tên là xanh thì không ai giải thích đợc. Tính võ đoán nằm ở đó.
Nhóm từ chỉ màu sắc không đơn thuần chỉ có xanh, đỏ, da cam, lục, lam,
chàm, tím, mà ngay trong bảy sắc màu cơ bản đó cũng tồn tại những sắc độ khác
nhau.
Ví dụ: Cũng chỉ màu xanh nhng xanh khác với xanh lè, xanh rì, xanh ngắt,
xanh non và mỗi cấp độ màu xanh đó thờng đợc gắn với những liên tởng,
những sự gán ghép cố hữu cho những sự vật hiện tợng nhất định, trong ngôn ngữ
học gọi đó là ý nghĩa liên hội (ý nghĩa liên hội là tất cả các ý nghĩa cố định ch a
đi vào cấu trúc, cha nằm trong quan hệ riêng cho từng từ hay từng đơn vị ngôn
ngữ).
Ví dụ 1: Từ đỏ có ý nghĩa liên hội đỏ của lá cờ.
Nếu đem so sánh nét nhĩa liên hội đỏ của lá cờ với nét nghĩa của động
vật sơ sinh (trong từ đỏ hỏn) với nét nghĩa của mắt trong từ đỏ nọc cho
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
12
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
thấy hai nét nghĩa của hai từ sau có tác dụng tạo nên sự trái ngợc giữa chúng với
nhau và với từ đồng cấp khác: đỏ hây, đỏ ửng, đỏ bầm, đỏ loét chúng
đã là một thành tố của cấu trúc biểu niệm của hai từ này. ý nghĩa liên hội của lá
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Ví dụ: Từ xanh có khả năng phát sinh các từ mới mang ý nghĩa hẹp nh:
xanh lè, xanh xao, xanh rớt chính các lớp từ phát sinh làm nên nét độc đáo về ý
nghĩa trong vốn từ chỉ màu tiếng Việt.
- Lớp từ cụ thể: (hay còn gọi là lớp từ đặc trng). ở đây chúng đợc mợn
trực tiếp từ tên gọi của đối tợng, sự vật và thuộc tính sự vật trong thế giới khách
quan, chẳng hạn:
+ Nhóm từ chỉ các loại màu vải vóc, len sợi nh: vàng tơ, vàng cà rốt, xanh
công nhân, tím nhung
+ Nhóm từ gọi tên màu của các kim loại, khoáng sản: tím than, xanh thép,
trắng bạc, màu đồng gỉ
+ Nhóm từ chỉ màu sắc tự nhiên: trắng tuyết, xanh da trời, xanh nớc biển...
+ Nhóm từ và tên gọi từ màu một số loại thức ăn, thức uống : màu bánh
mật, màu kem, trắng sữa, vàng mật ong
+ Nhóm từ chỉ tên gọi từ màu các loại thực vật: đỏ bồ quân, màu cỏ ấu,
màu cốm, màu chanh
Ngoài ra lớp từ màu sắc trừu tợng và lớp từ chỉ màu sắc cụ thể còn có
những loại từ khác hình thành bằng từ ghép chỉ màu sắc. Nó đợc phát sinh từ
chín màu cơ bản:
Ví dụ: + Từ đen có thể phát sinh hàng loạt từ khác trong hệ thống từ
đen: đen nhức, đen nháy, đen huyền, đen láy, đen giòn, đen kịt
+ Từ đỏ: đỏ au, đỏ bừng, đỏ cạch, đỏ ối, đỏ
+ Từ tím: tím bầm, tím ngắt, tím biếc
+ Từ xám: xám ngắt, xám xì, xám xịt
+ Từ xanh: xanh mét, xanh ngắt, xanh rì, xanh non
cuộc sống nh thế nào? và vai trò của màu sắc trong ngôn ngữ đợc thể hiện ra
sao? Và để từ đó ta có thể khẳng định rằng màu sắc nó là yếu tố vô cùng quan
trọngnó có thể giúp con ngời phân biệt đợc sự vật này hay sự vật khác trong cuộc
sống. Và trong thơ văn thì màu sắc không chỉ để phân biệt các sự vật với nhau
mà còn giúp cho các thi nhân bộc lộ tình cảm, nỗi niềm của mình để giao hoà
với thế giới xung quanh. Và từ đó tạo nên những bức tranh thiên nhiên quyến rũ
lòng ngời.
Chơng 2. Thống kê, phân loại từ chỉ màu sắc
trong thơ Tố Hữu
2.1.
Kết quả thống kê và nhận xét chung
Để có một cái nhìn tổng quát về số lợng và ý nghĩa của từ chỉ màu sắc
trong thơ Tố Hữu,chúng tôi tiến hành khảo sát trong sáu tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc,
Ra trận, Gió lộng, Máu và hoa, Một tiếng đờn.
Qua khảo sát chúng tôi đã thống kê ra tất cả các màu sắc xuất hiện trong
thơ và thu đợc kết quả là tác giả đã sử dụng đến 19 màu sắc khác nhau hoặc
gần nhau.
Bảng 1. Thống kê tổng hợp chung
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
15
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Đỏ
Vàng
Trắng
Hồng
Đen
Bạc
Nâu
Son
Tím
Biếc
Xám
Lam
Ngà
Hờng
Đào
Huyền
Chàm
Lục
19
216
150
93
81
61
25
24
12
10
8
100
Qua bảng số liệu trên, ta nhận thấy rằng từ chỉ màu sắc đợc Tố Hữu sử dụng
với tần số xuất hiện khác nhau. Những màu đợc Tố Hữu sử dụng nhiều nh: xanh,
đỏ, vàng, trắng, hồng và những màu đợc sử dụng ít nh: đen, nâu, bạc, son, tím,
lam, huyền, đào, biếc với số lợng khác nhau.
Cụ thể là với các màu xuất hiện nhiều là: xanh 216 lần (chiếm 30,6%), đỏ
150 lần (chiếm 21,2%), vàng 93 lần (chiếm 13,2%), trắng 81 lần (chiếm 11,5%)
và hồng 61 lần (chiếm 8,64%). Còn những màu xuất hiện ít nh: đen 25 lần (3,54
%), bạc 24 lần (3,4%), nâu 12 lần (1,7 %) và thậm chí có những màu chỉ xuất
hiện có một lần nh: huyền, chàm, lục, hờng 2 lần (0,28%), ngà 3 lần (0,43%).
Khi quan sát từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu cũng nh trong thơ Việt
Nam từ khi có Đảng lãnh đạo thì ta bắt gặp nhiều màu sắc tơi hơn màu tối.
Tuy nhiên muốn xác định đợc tính chất của màu sắc trong một tác phẩm
thơ, ta phải xét các từ màu sắc đó trong mối liên hệ với từ khác của câu thơ (thì
ta mới thấy đợc ý nghĩa của màu đó). Nh Giắc-xơn viết: "nói rằng lời nói gồm
những từ cha đủ, nó gồm những từ liên quan đến nhau một cách đặc biệt: nếu
không có một quan hệ qua lại đặc biệt đối với các thành viên của nó thì một câu
nói bằng lời lẽ không tạo nên một mệnh đề gì hết" (chơng 2. Hai mặt của ngôn
ngữ và hai kiểu bệnh mất tiếng). Mối quan hệ đó trớc tiên là sự tổ hợp của tính từ
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
16
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
màu sắc với danh từ, động từ, và các tính từ khác và quan trọng hơn là với toàn
tuổi trẻ.
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
17
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Màu xanh trong thơ của Tố Hữu nó xuất hiện gắn liền với cỏ, cây, hoa, lá,
với bầu trời, thiên nhiên thể hiện sự tơi sáng của thiên nhiên của vũ trụ bao la
rộng lớn:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng nớc non
(Sáng tháng năm, 1951)
Hoặc
Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lng
(Việt Bắc, 1954)
Vì muôn đời hoa lá tơi xanh
Ta quyết thắng giành mùa xuân đẹp nhất
(Bài ca xuân 68)
Màu xanh còn thể hiện không khí tơi vui đàm ấm hạnh phúc, đợc hởng
độc lập tự do, cuộc sống ấm no của lòng ngời:
Trời bỗng xanh hơn nắng chói loà
(Theo chân Bác, 1970)
Màu xanh còn biểu tợng cho chiến thắng, của quê hơng và màu xanh của
tình yêu:
- Với màu xanh chiến thắng
Tố Hữu còn viết nhiều, nói nhiều đến tấm lòng xanh
Nghe con chim hót trong lồng tim xanh
(Tiếng sáo Li Quê , 1938)
Hay
Lòng ta nh nớc Hơng Giang ấy
Xanh biếc lòng sông những bóng thông
(Quê mẹ, 1955)
Và màu xanh còn gợi lên cho ta một sự thơng cảm dạt dào về cái chết đẹp
đẽ, một sự hi sinh thanh khiết cao cả khi nói về cái chết của Phạm Hồng Thái
tác giả viết: "chết nh dòng nớc xanh" (1956).
Nh vậy ta thấy rằng trong thơ Tố Hữu, màu xanh đợc thể hiện một cách
tràn ngập, đợc gắn với nhiều đối tợng khác nhau thể hiện sự tơi vui, tơi mát. Màu
xanh không chỉ của cỏ, cây, của bầu trời, mà còn là màu xanh của tình yêu, xanh
của ruổi trẻ, xanh của hi vọng xanh của tơng lai Hay nói cách khác, màu xanh
trong thơ Tố Hữu không chỉ là màu xanh của vũ trụ bao la mà chính là màu xanh
trong tâm hồn gắn với giá trị thiêng liêng. Chính điều này thể hiện một sức sống,
sự lạc quan vào tơng lai, vào cuộc sống.
b) Màu đỏ
Nếu nh màu xanh gắn với cỏ cây, hoa, lá, với tình, với tuổi trẻ thì màu
đỏ gắn với hình ảnh ngọn lửa, đến mặt trời, đến máu và đặc biệt là làm ngời ta
nghĩ đến màu của cách mạng.
Trớc kia màu đỏ cũng đợc dùng trong thơ nhng phần lớn chỉ với t cách
là một màu tự nhiên nh những màu khác:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vờn sắc đỏ rũa màu xanh
(Xuân Diệu)
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
19
Hãy sớm nở trang hoàng dải đất
Đỏ thắm màu hi sinh và những chiến công đẹp nhất
(Xuân 69)
Màu đỏ trong thơ của Tố Hữu, còn thể hiện hình tợng Bác Hồ vĩ đại đã
dẫn dắt dân tộc Việt Nam làm cách mạng gian khổ nhng vinh quang:
Ngời ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đờng đi từng phút từng giờ
(Sáng tháng năm, 1951)
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
20
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Màu đỏ còn tợng trng cho tình cảm đỏ, ớc mơ đỏ, tơng lai đỏ, nụ cời đỏ:
Mà nói vậy: trái tim ta đó
Rất chân thật chia ba phần tơi đỏ
(Bài ca mùa xuân 1961)
Máu đã rơi nhiều đỏ ớc mơ
(Xuân sớm, 1961)
Hớng đến một tơng lai rực đỏ:
Bốn phơng trời đỏ rực tơng lai
(Dậy lên thanh niên)
Hay
Đã vui rồi môi đỏ nụ cời hoa
(Mùa thu mới, 1958)
Và đặc biệt là hình ảnh cờ đỏ xuất hiện rất nhiều, trở thành biểu tợng đẹp
c) Màu vàng
Khi nói đến màu vàng ngời ta thờng liên tởng đến thứ kim loại quý hiếm
cùng tên gọi. Vì thế mà "vàng" biểu hiện sự quý hiếm, với các kết hợp: tuổi
vàng, cơ hội vàng, quả tim vàng, lời vàng, tấm lòng vàng, thiên sử vàng, bạn vàng
Mặt khác màu vàng còn gắn với sự héo úa của cây trái nên cũng gợi lên
cảm giác ốm yếu, bệnh tật, tơng phản với màu đỏ khoẻ mạnh. Vì thế mới có sự
phân biệt nhạc vàng (nhạc thời Mỹ nguỵ) với nhạc đỏ (nhạc cách mạng).
Đó là sự biểu trng màu vàng xa nay ngời ta thờng hiểu. Vậy thì màu vàng
xuất hiện trong thơ của Tố Hữu thì nh thế nào?
Màu vàng đi vào trong thơ Tố Hữu với nhiều ý nghĩa khác nhau, và có
những kết hợp khác nhau. Tuy thơ Tố Hữu, màu vàng cũng gắn với lá, với trăng,
với thuốc pháo, của mái tóc, của mùa, của mắt, của úa, của khô và đặc biệt là
gắn với hình ảnh sao vàng trở thành hình ảnh chủ đạo trong thơ Tố Hữu.
Màu vàng trong thơ Tố Hữu xuất hiện với nhiều sắc thái và ý nghĩa khác
nhau nh: vàng khô, vàng úa khác với vàng tơi, vàng chói, có sự đối lập giữa xấu
và đẹp:
áo quần lam rách duới dáng bơ phờ
Múc gió vàng trong những nón vàng khô
(Tra tù, 1939)
Hay
ý chết đã phơi vàng héo úa
Mùa thu lá sắp rụng trên đờng
(Dửng dng, 1938)
Khác với:
Ta đi tới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nhuỵ vàng tơi
(Vui bất tuyệt, 1946)
Màu vàng trong thơ Tố Hữu thể hiện sự cao quý, thiêng liêng gắn với tên
vàng, thiên sử vàng:
Hồ Chí Minh
Dới cơ đỏ sao vàng
(Giết giặc, 1945)
Hình ảnh sao vàng thôi thúc ý chí quyết tâm chiến thắng của nhân dân ta,
biểu tợng chiến đấu:
Quyết chiến quyết thắng cơ đỏ sao vàng vĩ đại
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Hay
Tớng quân bay lố nhố cơ hàng
Trông: chúng ta cơ đỏ sao vàng
Rực trời đất Điện Biên toàn thắng
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Và sao vàng còn nh sự kiêu hãnh, hiên ngang;
Em sẽ đi trên đơng đầy thênh thang
Nh những ngày xa rực rỡ sao vàng
(Ngời con gái Việt Nam, 1958)
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
23
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Nhìn chung màu vàng xuất hiện trong thơ của Tố Hữu không phải là màu
vàng của sự u buồn , của màu vàng tàn tạ, héo úa mà màu vàng ở đây rực rỡ,
khoẻ khoắn góp phần cho thơ đợm sắc màu.
d) Màu trắng
Màu trắng thờng gợi lên vẻ sạch sẽ, rõ ràng và chứng tỏ sự thuần khiết
Nguyễn Thị Yến - Lớp: 43B1 - Văn
24
Khóa luận tốt nghiệp
Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu
Quê hơng ta nghe phất phới trong lòng
Đôi cánh cò trắng vẫn mênh mông
(Trên đờng thiên lý, 1964)
Sự lạc quan, tởng vào cuộc sống, vào tơng lai:
Ngời con gái, lợn quan đồng hớn hở
Quê em đó! Hàm răng em trắng nở
(Giữa ngày xuân, 1963)
Và màu trắng còn thể hiện sự thanh khiết của thiên nhiên, sức sống tơi
mát của vũ trụ bao la:
Mờng Thanh, Hồng cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng vờn cam lại vàng
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, 1954)
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ ngời đan nón chuốt từng sợi giang
(Việt Bắc, 1954)
Em ơi! Ba Lan mùa tuyết tan
Đờng bạch dơng sơng trắng nắng tràn
(Em ơi Ba Lan, 1959)
e) Màu hồng
Qua khảo sát chúng tôi thấy màu hồng xuất hiện 61 lần (8,64%). Màu