ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ THỊ LỆ TUYẾT TỪ NGỮ XƢNG GỌI TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN HẢO
Thái Nguyên – 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 4
3. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 8
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN 9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬ N VÀ NHƢ̃ NG VẤ N ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 10
1.1. GIỚI THUYẾT VỀ PHẠM TRÙ XƢNG GỌI 10
1.1.1. Khái niệm xƣng gọi 10
1.1.2. Các phƣơng tiện dùng để xƣng gọi 13
1.1.3. Đặc điểm của từ ngữ xƣng gọi 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Từ ngữ xƣng gọi của ngôn ngữ tạo thành một hệ thống riêng và có
vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp xã hội. Đó là hệ thống mở, gồm
nhiều nhóm nhỏ, có chức năng chỉ ngƣời theo từng vai quan hệ giao tiếp.
Tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ xƣng gọi lớn và tùy thuộc vào đối tƣợng
giao tiếp cũng nhƣ hoàn cảnh giao tiếp mà ngƣời Việt sử dụng những từ ngữ
xƣng gọi khác nhau nhằm thực hiện những mục đích giao tiếp riêng. Các từ
ngữ này đóng góp lớn vào vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc và tạo nên đặc
trƣng tâm lý - văn hóa Việt.
1.2. Hệ thống các từ ngữ xƣng gọi không chỉ đƣợc sử dụng trong giao
hơn. Bởi những lẽ đó, chúng tôi lựa chọn đề tài “Từ ngữ xưng gọi trong thơ
Tố Hữu” để làm công trình nghiên cứu khoa học tốt nghiệp với mong muốn
khám phá sâu hơn một góc còn chƣa đƣợc khảo sát kĩ của một tâm hồn thơ
“đi về phía cuộc đời” – Tố Hữu.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Xƣng gọi nói chung từ lâu đã đƣợc các nhà Việt ngữ học quan tâm
nghiên cứu và trở thành vấn đề bàn luận khá thú vị. Trong số các công trình
nghiên cứu cần phải kể đến các công trình của Phạm Ngọc Thƣởng với “Về
đại từ nhân xưng ngôi thứ 3”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10 (1994);
“Cách xưng hô trong tiếng Nùng”, Luận án tiến sĩ, Trƣờng ĐHSP Hà Nội
(1998); “Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Tày – Nùng”, Tạp
chí Dân tộc học, số 1 (1995); Bùi Minh Yến với “Từ xưng hô trong gia đình
đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt”, Luận án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ
học, Hà Nội (2001); “Xưng hô giữa vợ và chồng trong gia đình người Việt”,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 (1990); Phạm Văn Tình với “Nhân xem Bảy sắc cầu
vồng bàn thêm về cách xưng hô trong nhà trường”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời
sống, số 9 (1997); Lê Thanh Kim với “Từ xưng hô và cách xưng hô trong các
phương ngữ tiếng Việ từ góc nhìn của lý thuyết xã hội ngôn ngữ học”, Luận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
án tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội (2000); Nhƣ Ý với “Vai xã hội và ứng
xử ngôn ngữ trong giao tiếp”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 (1990); Phạm Văn Hảo
với “Từ xưng gọi trong phương ngữ Bắc”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số
1+2 (2011)… Điểm qua các công trình nghiên cứu của những tác giả trên,
chúng tôi thấy rằng, các tác giả đã chủ yếu tập trung nghiên cứu từ xƣng gọi
dƣới góc nhìn ngữ pháp học nhất là vấn đề từ loại. Có thể nói, ở những công
trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến từ xƣng gọi. Các tác giả
tập trung theo ba hƣớng:
- Bàn về xƣng gọi ở góc độ lí luận chung về ngữ pháp học
- Bàn về xƣng gọi đƣợc sử dụng trong các phạm vi: gia đình và ngoài
cảm khác nhau giữa hai thành viên chồng, vợ trong phạm vi gia đình ngƣời
Việt. Trƣơng Thị Diễm đã miêu tả, phân tích, khảo sát một cách công phu và
khá đầy đủ, toàn diện sự hoạt động của các từ xƣng gọi có nguồn gốc từ thân
tộc trong giao tiếp của ngƣời Việt.
Theo hƣớng thứ ba, một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu đối chiếu từ
xƣng gọi tiếng Việt với các ngôn ngữ cùng và khác loại hình với hàng loạt các
luận văn, luận án nghiên cứu đối chiếu các từ xƣng gọi tiếng nƣớc ngoài/
tiếng dân tộc thiểu số với từ xƣng hô tiếng Việt. Đó là các công trình của
Nguyễn Văn Chiến, Hoàng Anh Thi, Dƣơng Thị Nụ, Nguyễn Minh Hoạt…
Tuy nhiên, hƣớng nghiên cứu từ xƣng gọi trong các tác phẩm văn học –
một hƣớng tiếp cận mang tính trƣờng hợp về từ xƣng gọi chƣa đƣợc quan
tâm, nghiên cứu nhiều. Gần đây, một số các công trình đã tập trung vào
nghiên cứu từ xƣng gọi trong văn học. Song, theo chúng tôi đƣợc biết, đến
nay vẫn chƣa có tác giả nào nghiên cứu từ xƣng gọi trong các tác phẩm của
Tố Hữu.
Tố Hữu là nhà thơ lớn của nền văn học dân tộc. Khi thế kỉ XX chuyển
giao lại những giá trị đích thực về thơ ca cho thế kỉ XXI, thì trong danh sách
không hẳn là nhiều này chắc chắn sẽ có Tố Hữu. Nghiên cứu về thơ ông, dù ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
bình diện nào cũng tìm thấy không ít những điều mới mẻ. Bởi thơ ông không
chỉ đặc sắc ở nội dung tƣ tƣởng mà còn có giá trị lớn trên các phƣơng diện về
phong cách và ngôn ngữ thơ. Có lẽ bởi vậy mà trong suốt thời gian qua đã có
không ít những công trình biên khảo chuyên sâu về thơ Tố Hữu. Trong các
công trình ấy, đặc sắc hơn cả có lẽ phải kể đến các công trình của các tác giả:
Lê Đình Kị với “Thơ Tố Hữu” (1979); Nguyễn Văn Hạnh với “Thơ Tố Hữu,
tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” (1985); Trần Đình Sử với
“Thi pháp thơ Tố Hữu” (1987), “Tính dân tộc hiện đại của ngôn từ thơ Tố
Hữu”, Báo Văn nghệ, số 36 (1985); Nguyễn Trung Thu, “Nhạc điệu thơ Tố
Hữu”, Tạp chí Văn học, số 6 (1968); Phạm Văn Hảo, “Hiệu quả của việc sự
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Trên cơ sở tuyển tập thơ Tố Hữu,
khảo sát các từ ngữ xƣng gọi, sau đó đƣa vào bảng thống kê theo sự phân
nhóm các lớp từ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Trên cơ sở tìm hiểu hệ thống từ ngữ
xƣng gọi trong thơ Tố Hữu, so sánh với một số nhà thơ cùng thời để thấy
đƣợc nét đặc sắc độc đáo, riêng của nhà thơ.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp và các thủ pháp bổ
trợ khác nhƣ phƣơng pháp khái quát tổng hợp, mô hình hóa…
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Ý nghĩa lý luận:
Khảo sát, miêu tả lớp từ ngữ xƣng gọi, luận văn đƣa ra một góc nhìn có
tính hệ thống trong nghiên cứu thơ Tố Hữu. Đó là việc nghiên cứu các từ ngữ
xƣng gọi trên phƣơng diện hệ thống hóa. Hƣớng nghiên cứu này, sẽ góp phần
quan trọng trong việc tiếp cận thơ Tố Hữu trên bình diện ngôn ngữ học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu từ ngữ xƣng gọi trên phƣơng diện đi sâu tìm hiểu các lớp
từ sẽ thấy đƣợc cách ứng xử của Tố Hữu vào thơ. Bên cạnh đó, đề tài cũng có
thể đóng góp nhất định trong việc giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà
trƣờng nhất là ở bậc phổ thông.
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan
Chƣơng 2. Đặc điểm từ ngữ xƣng gọi trong thơ Tố Hữu
Chƣơng 3. Đặc điểm sử dụng từ ngữ xƣng gọi trong thơ Tố Hữu
vai giao tiếp trong cuộc thoại. Khái niệm phạm trù xƣng gọi từ lâu đã đƣợc
các nhà Việt ngữ học quan tâm và lí giải theo nhiều cách khác nhau.
Có nhiều quan niệm cho rằng, xƣng gọi và xƣng hô là hai khái niệm
khác nhau. Theo đó, xƣng hô chỉ mối quan hệ tƣơng hỗ giữa ngƣời nói và
ngƣời nghe trong giao tiếp trực diện, nghĩa là chỉ bao gồm tự xƣng và đối
xƣng. Còn xƣng gọi ngoài tự xƣng và đối xƣng còn có đối tƣợng thứ ba (tha
xƣng). Trong sự tiếp cận của luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm xƣng gọi
nhƣng đố i tƣợ ng khảo sát là cá c tƣ̀ ngƣ̃ xƣng gọi ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ
hai mà ít chú ý hoặc không xé t cá c tƣ̀ ngƣ̃ xƣng gọ i ở ngôi thứ ba.
Về khái niệm xƣng gọi, có thể hiểu:
(1) Xƣng gọi là tên gọi biểu thị quan hệ qua lại giữa ngƣời nói và ngƣời
nghe trong giao tiếp trực diện. Xƣng gọi là những từ xƣng hô mà con ngƣời
dùng nó để biểu thị mối quan hệ tƣơng hỗ nào đó hoặc biểu thị sự khác biệt về
vai vế, địa vị, chức vụ, nghề nghiệp… nhƣ: đồng chí, anh em…
(2) “Phạm trù xƣng gọi hay phạm trù ngôi bao gồm những phƣơng tiện
chiếu vật, nhờ đó ngƣời nói tự quy chiếu, nghĩa là tự đƣa mình vào diễn ngôn
(tự xƣng) và đƣa ngƣời giao tiếp với mình (đối xƣng) vào diễn ngôn” [6;73].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(3) Xƣng gọi có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng bao gồm tên gọi
của ngƣời và sự vật. Nghĩa hẹp chuyên dùng để chỉ ngƣời, nghĩa là chỉ các từ
xƣng gọi dùng trong giao tiếp xã hội của con ngƣời.
Xƣng gọi là thuật ngữ dùng để “tự gọi tên mình” (xƣng) và “gọi tên
ngƣời khác” (gọi). Trong một cuộc thoại, xƣng gọi là hai mặt tồn tại đồng
thời. Có thể nói, “xƣng” và “gọi” xuất hiện ở hầu hết các cuộc thoại bao gồm
xƣng gọi ít nhất hai đối tƣợng trực tiếp tham gia cuộc thoại và các đối tƣợng
tham gia gián tiếp (không hiện diện hoặc đối tƣợng thứ ba). “Ngay cả khi
trong trƣờng hợp vắng mặt (zero), cũng có thể coi là một sự có mặt không
hiện hữu mang tải một ý nghĩa nhất định” [22;204]. Thực tế, từ ngữ xƣng gọi
“không chỉ là công cụ để ngƣời nói thực hiện cái việc không thể không làm là
ngƣời nói và ngƣời nghe. Dựa vào việc dùng từ xƣng gọi mà ngƣời nghe biết
đƣợc ngƣời nói đặt mình trong quan hệ và vị thế xã hội nhƣ thế nào.
- Xƣng gọi phải thể hiện quan hệ quyền uy. Đó cũng là cách thể hiện sự
tôn trọng đối với vai có địa vị cao hơn mình hoặc thể hiện vai trò, ảnh hƣởng
đối với vai thấp hơn mình trong giao tiếp.
- Xƣng gọi phải thể hiện cho đƣợc quan hệ thân cận. Cách xƣng gọi này
sử dụng chủ yếu trong giao tiếp gia đình hay những giao tiếp ngoài xã hội đã
đƣợc “thƣơng lƣợng” hoặc dùng những xƣng gọi mang xu hƣớng “gia đình
hóa”.
- Xƣng gọi phải phù hợp với ngữ vực. Mỗi một từ ngữ dùng ở đây nếu
có một ngữ điệu thể hiện cho phù hợp sẽ làm tăng hiệu lực giao tiếp.
- Xƣng gọi phải thích hợp với thoại trƣờng. Trong giao tiếp, sử dụng
các từ ngữ xƣng gọi khác nhau sẽ mang đến những hiệu quả khác nhau. Bởi,
cùng một từ ngữ xƣng gọi nhƣng tùy từng hoàn cảnh mà mang nghĩa khác
nhau. Do đó, sử dụng các từ ngữ xƣng gọi phải linh hoạt, biến đổi phù hợp để
thích nghi đƣợc với những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xƣng gọi phải thể hiện tình cảm của ngƣời nói đối với ngƣời nghe.
Trong giao tiếp, những ngƣời tham gia cuộc thoại luôn có thiên hƣớng lựa
chọn chiến lƣợc giao tiếp nhằm đạt hiệu quả. Việc lựa chọn các từ ngữ xƣng
gọi thƣờng tƣơng ứng với thái độ của ngƣời nói đối với ngƣời đối thoại. Nó
có thể là lịch sự hoặc không lịch sự; có thể thân hoặc sơ…
Trong một cuộc giao tiếp, xƣng gọi không cố định bất biến mà biến đổi
linh hoạt tùy vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Do xƣng gọi là một hành vi
ngôn ngữ nên tùy theo sự thay đổi của các nhân tố trên mà các đối tƣợng tham
gia giao tiếp sẽ lựa chọn những từ ngữ xƣng gọi thích hợp để đạt đƣợc mục
đích giao tiếp.
Tóm lại, xƣng gọi là một hành vi ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao
tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đƣa mình và ngƣời đối thoại vào trong lời
là những từ ngữ đƣợc dùng ở nhiều ngôi (ví dụ: mình, người ta…). Vì vậy,
tùy từng hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn các phƣơng tiện xƣng gọi phù hợp,
đảm bảo việc đảm nhiệm các ngôi khác nhau.
Nhƣ một số ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Việt còn có đại từ xƣng
gọi ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp và không bao gộp. Đại từ xƣng gọi ngôi
thứ nhất số nhiều bao gộp là đại từ chỉ một nhóm ngƣời (cả ngƣời nói và
ngƣời nghe) cùng hƣớng tới một hành vi (ví dụ: chúng ta…). Đại từ xƣng gọi
ngôi thứ nhất số nhiều không bao gộp là đại từ chỉ một nhóm ngƣời cùng
hƣớng tới một hành vi nhƣng không bao gồm ngƣời nghe (ví dụ: chúng tao,
chúng tôi…). Đại từ xƣng gọi chúng mình đƣợc dùng ở ngôi thứ nhất số nhiều
bao gộp và không bao gộp.
Nhƣ vậy, đại từ nhân xƣng là những từ dùng để thay thế cho ngƣời, có
chức năng quy chiếu và định vị vai giao tiếp. Trong mỗi ngôn ngữ có sự khác
nhau về sắc thái biểu cảm và mức độ đa dạng của các đại từ nhân xƣng. Do
vậy, phạm vi sử dụng của nó cũng khác nhau. Tuy nhiên, trong tiếng Việt việc
sử dụng đại từ nhân xƣng trong xƣng gọi không thật phổ biến vì chúng mang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhiều tính thân mật hoặc suồng sã, thiếu sắc thái kính trọng. Thực tế, trong
xƣng gọi đại từ nhân xƣng lại thƣờng xuyên đƣợc thay thế bằng các danh từ
chỉ quan hệ thân tộc khi giao tiếp trực diện.
1.1.2.2. Danh từ thân tộc
Trong tiếng Việt hầu hết các danh từ chỉ quan hệ thân tộc đều đƣợc
dùng để xƣng gọi. Đối với ngƣời Việt Nam, việc dùng các từ ngữ này để xƣng
gọi không gây bất kì một trở ngại nào. Trong xƣng gọi, danh từ thân tộc đƣợc
hiểu với nhiều nghĩa. Với nghĩa rộng, từ xƣng gọi thân tộc đƣợc dùng để chỉ
hệ thống ngôn ngữ văn hóa đƣợc hình thành từ các kiểu xƣng gọi thân tộc
trong xã hội loài ngƣời. Với nghĩa hẹp, lớp từ này chỉ hệ thống ngôn ngữ văn
hóa đƣợc hình thành từ cách xƣng gọi thân tộc trong xã hội hiện đại. Theo Đỗ
Hữu Châu, các danh từ thân tộc có thể đƣợc chia thành ba nhóm:
qua các thời đại do ảnh hƣởng của tình hình chính trị, hình thái ý thức, thể
chế…ở mỗi thời kì.
Trong Tiếng Việt, khi giao tiếp, lớp từ chỉ nghề nghiệp (nhƣ: giáo viên,
bộ đội, công nhân, học sinh…) thƣờng không đứng một mình. Ngƣời ta ít sử
dụng các phát ngôn kiểu nhƣ: học sinh ơi, công nhân kia… mà phải có các
danh từ thân tộc đi kèm, nhƣ: em học sinh ơi, bác công nhân ạ…Việc kết hợp
này không chỉ tạo sự thân mật, mà còn mang ý nghĩa miêu tả, chỉ thị đối
tƣợng.
Khác với từ ngữ chỉ nghề nghiệp, những từ ngữ chỉ chức vụ có thể
đƣợc dùng để xƣng gọi mà không phải thêm yếu tố hay điều kiện nào. Chúng
ta có thể nói: Giám đốc đi đâu đấy, Tổ trưởng khỏe không ạ, Thầy giáo cho
em hỏi một câu… Tuy nhiên, những từ ngữ chỉ chức vụ thấp thƣờng ít khi
đƣợc dùng để xƣng gọi, nhất là ở ngữ cảnh giao tiếp không quy thức, khi
ngƣời đối thoại có chức vụ thấp hơn mình. Đây là chiến lƣợc hội thoại nhằm
tránh xúc phạm tới thể diện của ngƣời đối thoại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong giao tiếp, các từ ngữ xƣng gọi chỉ quan hệ thân tộc và các đại từ
xƣng gọi thƣờng kết hợp với nhau theo từng cặp tƣơng ứng nhƣ cha – con,
ông – bà, tao – mày, anh - chị… Còn những từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp đƣợc
lâm thời dùng để xƣng gọi lại không đƣợc kết hợp theo những cặp tƣơng ứng.
Chẳng hạn, với các từ: chủ tịch - , giáo sư -, giám đốc - …chúng ta khó có thể
tìm đƣợc một từ ngữ nào có tính tƣơng ứng để tạo thành cặp với các từ này.
Trong hội thoại, khi sử dụng các từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp để xƣng gọi
thì những chỗ trống đƣợc các nhân vật hội thoại tự lựa chọn sao cho từ ngữ đó
phù hợp với quan hệ giữa những ngƣời tham gia cuộc thoại.
1.1.2.4. Họ và tên riêng
Trong giao tiếp hội thoại, họ và tên riêng cũng là phƣơng tiện đƣợc sử
dụng để xƣng gọi. Cấu trúc đầy đủ của họ tên ngƣời Việt gồm ba yếu tố: họ +
tên đệm (lót) + tên riêng. Tuy nhiên, do vai trò của tên lót không có tính bắt
Một số từ ngữ thuộc kiểu loại xƣng hô khác đƣợc chủ thể giao tiếp sử
dụng khá rộng rãi, đó là:
-Từ ngữ chỉ định (hoặc có yếu tố chỉ định): đây, ấy, đằng ấy, đằng
này,…
- Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội ngoài gia đình: bạn, đồng chí, đồng bào,…
- Từ ngữ chỉ nhóm xã hội: ủy ban, hội nghị, nhà nước…
- Từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất (hoặc có yếu tố chỉ trạng thái, tính
chất): anh lính trẻ, người yêu, chàng trai quý …
- Từ vay mƣợn: Min, moa, toa …
1.1.3. Đặc điểm của từ ngữ xƣng gọi
Trong giao tiếp hội thoại, nhƣ đã nói, các từ ngữ xƣng gọi có vai trò
quan trọng trong việc thiết lập quan hệ giữa ngƣời nói với ngƣời nghe. Ở
tiếng Việt lớp từ này có những đặc điểm cụ thể sau:
- Có số lƣợng rất lớn và hầu nhƣ không hạn chế, rất “mở”, gồm nhiều
nhóm khác nhau. Ngoài các từ có chức năng xƣng hô thực thụ nhƣ các đại từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhân xƣng (tôi, ta, mình, nó…), trong tiếng Việt còn có một số lƣợng lớn các
từ ngữ xƣng gọi khác nhƣ các danh từ thân tộc (ông, bà, con, bác…); từ chỉ
chức vụ, nghề nghiệp (anh vệ quốc quân, anh lính,…); họ và tên riêng (Bác
Hồ, Nguyễn Văn Trỗi, Chế…) và các từ ngữ xƣng gọi lâm thời khác (gió mây,
sao, đồng chí….).
- Từ ngữ xƣng gọi trong tiếng Việt không có tính thuần nhất về cách sử
dụng. Đặc điểm này đƣợc thể hiện rõ nét ở chỗ, cùng một từ xƣng gọi nhƣng
có thể tham gia vào các vai giao tiếp khác nhau. Chẳng hạn, từ ta có khi là số
ít, có khi lại là số nhiều; từ “mình” có khi đƣợc dùng ở ngôi thứ nhất có lúc
lại đƣợc dùng ở ngôi thứ hai. Đây là hiện tƣợng kiêm ngôi của các từ ngữ
xƣng gọi.
- Trong tiếng Việt có sự lấn át của các từ ngữ xƣng gọi vốn xuất xứ từ
các danh từ chỉ quan hệ thân tộc, họ hàng. Các danh từ thân tộc nhƣ: anh, em,
tâm và khi sử dụng thƣờng gắn với một tình thái nhất định, ít mang sắc thái
trung hòa.
- Ở các ngôn ngữ châu Âu, ít có hiện tƣợng các danh từ thân tộc đƣợc
chuyển sang làm từ xƣng gọi. Tiếng Việt lại khác, hiện tƣợng chuyển từ danh
từ thân tộc sang làm từ xƣng gọi lại diễn ra thƣờng xuyên và phổ biến. Bởi
vậy, trong tiếng Việt có hiện tƣợng các danh từ thân tộc đƣợc dùng để xƣng
gọi có xu hƣớng “gia đình hóa” các quan hệ xã hội. Chẳng hạn, thay vì dùng
các đại từ nhân xƣng và các từ chỉ chức vụ, trong cơ quan công sở thƣờng sử
dụng các danh từ thân tộc nhƣ: chú, bác, anh, em, cháu… Điều này, thuận lợi
khi thể hiện tình cảm nhƣng cũng gây nhiều bất tiện.
1.2. LÝ THUYẾT GIAO TIẾP
1.2.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là hoạt quan trọng của con ngƣời trong xã hội. Để giao tiếp,
trao đổi thông tin, con ngƣời có thể sử dụng nhiều phƣơng tiện khác nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong đó có ba loại phƣơng tiện chủ yếu: bằng âm thanh, bằng ánh sáng, bằng
cử chỉ. Trong các phƣơng tiện kể trên thì ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của
con ngƣời là phƣơng tiện giao tiếp xã hội quan trọng và hiệu quả nhất, giúp
con ngƣời có thể bày tỏ và trao đổi với nhau về nhận thức, tƣ tƣởng, tình cảm.
Cùng với lao động, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định quá trình
phát triển của lịch sử loài ngƣời.
Giao tiếp là một hiện tƣợng đặc trƣng của con ngƣời và của xã hội
loài ngƣời. Đó là nhu cầu và cũng là điều kiện tất yếu của cuộc sống con
ngƣời. Bởi vậy, nghiên cứu vấn đề giao tiếp đã trở thành đề tài thu hút sự chú
ý của nhiều nhà Việt ngữ học. Các tác giả khi nghiên cứu về giao tiếp đã đƣa
ra những cách định nghĩa khác nhau.
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Nhƣ
Ý đã đƣa ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo
nhờ một hệ thống mã nào đó” [39;101].
Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, có
thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc thoại. Do đó, đây chính là linh hồn của
cuộc thoại. Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ
liên cá nhân – xã hội. Cụ thể là:
a. Vai giao tiếp
Để tiến hành giao tiếp, mỗi thành viên tham gia giao tiếp phải thiết lập
đƣợc quan hệ giao tiếp, tức là phải xác định và thực hiện vai giao tiếp của
mình. Vai giao tiếp là cƣơng vị xã hội của cá nhân nào đó giữ trong một hệ
thống các quan hệ xã hội. Nó đƣợc hình thành trong quá trình xã hội hóa cá
nhân.
Khi giao tiếp, các thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao
tiếp của mình, tức là đóng một vai trong hệ thống giao tiếp. Ví dụ: khi đi học
là sinh viên; khi đi xem phim là khán giả; khi ở nhà là con đối với bố mẹ, là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
anh đối với các em, là cháu đối với ông bà… Sự phong phú trong các vai giao
tiếp từ đó cũng tạo nên sự phong phú trong cách xƣng gọi của mỗi cá nhân.
Trong một cuộc giao tiếp các nhân vật tham gia thƣờng có sự phân vai
khá rõ ràng: vai phát tức vai nói (viết) và vai vai nhận tức vai nghe (đọc). Khi
giao tiếp trực tiếp, các vai này thƣờng có sự luân chuyển, các nhân vật tham
gia thƣờng đổi vai cho nhau. Nghĩa là, ngƣời phát cũng đồng thời là ngƣời
nhận và ngƣợc lại, ngƣời nhận cũng đồng thời là ngƣời phát ngôn. Việc đổi
vai không chỉ thúc đẩy quá trình giao tiếp phát triển mà đôi khi còn kết thúc
quá trình giao tiếp. “Trong quá trình giao tiếp, người nhận có thể đóng vai trò
tích cực hay tiêu cực. Người nhận tích cực khi anh ta luôn thay đổi vai trò
người nhận – người phát, khi giao tiếp diễn ra ở hai chiều. Người nhận tiêu
cực khi anh ta luôn giữ vai trò người nhận trong suốt quá trình giao tiếp,
nghĩa là khi giao tiếp chỉ diễn ra một chiều”[6;43].
Trong giao tiếp luôn có sự hiện diện của các từ xƣng gọi. Vì vậy, trên
cơ sở nhận thức đƣợc đầy đủ về đối tƣợng tham gia giao tiếp (về tuổi tác,