tính hội thoại trong thơ tố hữu - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
TÍNH HỘI THOẠI TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN LỘC
THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1. Hội thoại là một trong những hình thức đặc trưng của ngôn ngữ.
Trong thơ ca Việt Nam, chỉ đến THƠ MỚI, tính hội thoại mới xuất hiện như
một đặc điểm nổi trội. Khi nghiên cứu thi pháp văn học trung đại, chúng tôi
nhận thấy thơ trung đại không phát triển năng lực giao tiếp trực tiếp của lời
thơ, không hướng tới trò chuyện với người đọc. Giao tiếp chỉ mang tính chất
gián tiếp. Khi muốn “trao đổi” với bạn đọc, tác giả trung đại phải mượn lời,
thác lời, kiểu vợ khuyên chồng, chị khuyên em.
Nhưng bắt đầu từ THƠ MỚI - “Cuộc cách mạng về thi ca” (Hoài Thanh),
thơ ca Việt Nam đã có một bước chuyển mình vĩ đại. Chính THƠ MỚI đã mở
đầu một cách rực rỡ cho thơ Việt Nam hiện đại và được ghi nhận như một

cũng hết sức khó khăn, phức tạp. Có thể coi đây là “mảnh đất mới chƣa đƣợc
khai khẩn, hứa hẹn cho những vụ mùa bội thu” nếu như “ngƣời lao động”
ngoài kĩ năng, vốn hiểu còn có một niềm đam mê khám phá.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn và tiến
hành nghiên cứu đề tài: Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu.
2. Lịch sử vấn đề
Tố Hữu tỏa sáng trên văn đàn từ những năm 30 của thế kỉ XX. Qua
tập thơ đầu tay Từ ấy, tiếp theo là các tập thơ Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa
và cuối cùng là các tập Một tiếng đờn, Ta với ta, Tố Hữu đã để lại một dấu
ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng tình yêu lí tưởng, bằng phẩm chất chính
trị, bằng tấm lòng tận tụy hy sinh vì dân, vì nước và bằng một tài năng nghệ
thuật lớn.
Nói đến nghệ thuật thơ Tố Hữu là nói đến nghệ thuật sử dụng ngôn
ngữ. Điều chúng tôi quan tâm ở đây là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mang
tính hội thoại được coi như là một phương tiện tạo nên giọng điệu riêng trong
thơ Tố Hữu: giọng trò chuyện, tâm tình, đồng thời, cũng là phương tiện để
tạo nên “tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” (Tố Hữu).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3
Ở Việt Nam có hàng loạt công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu.
Trong bài viết in trên Báo Mới [15], K&T gọi Tố Hữu là “Nhà thơ của
tƣơng lai” và khẳng định giá định nghệ thuật của thơ Tố Hữu. K&T cho rằng
sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu chính là lý tưởng của một chàng thanh niên trẻ
tuổi - chàng thanh niên của tương lai.
Nguyễn Văn Hạnh với bài nghiên cứu “Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu”
[12] đã đề cập đến 3 vấn đề lớn trong thơ Tơ Hữu. Đó là: cảm hứng xã hội,
thiên hƣớng tổng hợp; sức mạnh tình cảm, hơi thơ liền mạch; tình nghĩa, tâm

Bàn về chất hội thoại trong thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử đã viết “Thơ Tố Hữu
là thơ trữ tình điệu nói, ý vị của nó ẩn trong giọng lời. Đọc thơ ông phải biết
thẩm giọng. Chất hàm súc ở lời giọng thấm thía đậm đà”.
Cuốn chuyên luận là gợi ý bổ ích cho việc định hướng, triển khai để tài
của chúng tôi. Mặc dù ở công trình này, tác giả chưa đề cập chi tiết đến tính
hội thoại trong thơ Tố Hữu.
Ngoài các tài liệu mà chúng tôi giới thiệu ở trên, có thể kể đến một số
bài viết đăng trên các báo nhằm phân tích, đánh giá, cảm thụ về thơ ông như:
Nguyễn Đăng Mạnh: “Con đƣờng thơ Tố Hữu” (in trong “Con đường
đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn” Nxb Giáo dục, t4/1994).
Hà Minh Đức: “Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc” (in
trong Tố Hữu, Thơ. lời giới thiệu, in lần 2, Nxb Giáo dục, 1995).
Như vậy, tính hội thoại trong thơ bắt đầu xuất hiện trong thơ Việt Nam
hiện đại và được các nhà nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
học chú ý ở phương diện lý thuyết. Trong khoảng mười năm trở lại đây, đã có
công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh, biểu hiện về chất hội thoại
trong thơ Tố Hữu nhưng rất lẻ tẻ, thoáng qua, chưa có tính hệ thống. Nói cách
khác, chưa có một công trình khoa học nào, nghiên cứu một cách đầy đủ và
sâu sắc về tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu - nhằm khám phá những
đóng góp to lớn của nhà thơ trữ tình - chính trị này về phương diện sử dụng
ngôn ngữ. Đây là vấn đề thú vị mà chúng tôi sẽ cố gắng thể hiện được trong
luận văn “Tính hội thoại trong thơ Tố Hữu”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là phát hiện, phân tích những biểu

phương tiện biểu hiện tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, tạo cơ sở cho sự phân
tích, nhận xét, đánh giá.
5.2. Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, miêu tả những hình thức
biểu hiện của tính hội thoại cùng hiệu quả của chúng đối với việc xây dựng
hình tượng nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, hiệu quả giao tiếp thẩm mĩ qua việc
tạo mối liên hệ mật thiết giữa tác giả và độc giả.
5.3. Phương pháp đối chiếu - so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh tính hội thoại trong thơ
Tố Hữu với đặc tính này trong thơ cổ và thơ Mới, tìm ra những nét riêng đặc
sắc của tính hội thoại trong thơ Tố Hữu, từ đó làm rõ nét riêng của thi pháp
thơ Tố Hữu so với thi pháp thơ trung đại và Thơ Mới.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu tính hội thoại (điệu nói) trong thơ Tố Hữu có ý nghĩa
về mặt lí luận và thực tiễn.
Về lí luận: Lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ
và sâu sắc tính hội thoại trong thơ Tố Hữu theo hướng tiếp cận của ngành
ngôn ngữ học. Việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm sáng tỏ một đặc điểm
của ngôn ngữ thơ hiện đại - tính hội thoại thông qua một tác giả tiêu biểu có
uy tín về sử dụng tiếng Việt, đồng thời, mở ra hướng nghiên cứu những biểu
hiện của tính hội thoại trong các tác phẩm thơ hiện đại, qua đó, giúp người
đọc hiểu sâu sắc hơn đặc trưng phong cách tác giả.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng để
biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học về tiếng Vịêt, về thơ Tố Hữu
nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7

con ngƣời với con ngƣời, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự
khác biệt giữa họ”.
Bước sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành vấn đề thời sự trong khoa
học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nó được xem xét dưới nhiều góc
độ như: triết học thực dụng, triết học hiện sinh, học thuyết Freud, lí thuyết
thông tin và điều khiển học.
Đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi
định nghĩa về giao tiếp, tùy theo phạm vi, lĩnh vực nghiên cứu của mình.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của một bộ môn còn
khá mới mẻ là Ngữ dụng học.
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý
đã đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo
nhờ một hệ thống mã nào đó” [33; tr.101].
GS Diệp Quang Ban định nghĩa cụ thể hơn “Giao tiếp là một hiện
tƣợng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong
một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó. Giao tiếp là một trong
những đặc trƣng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể khác
không phải là xã hội…” [4, tr.17].
Mặc dù, còn có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng trong luận văn này,
chúng tôi theo quan niệm của GS Đỗ Hữu Châu - một quan niệm được xem là
phản ánh những phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong cuốn
giáo trình “Giản yếu về Ngữ dụng học”, Giáo sư đã viết: “Giao tiếp là quá
trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ƣớc muốn,
hành động…) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trƣờng hợp một ngƣời
giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định và một tình

được nội dung ấy đến người nhận, người phát phải tìm cách vật chất hóa. Để
vật chất hóa nội dung đó, người phát sử dụng ngôn ngữ. Trong hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ, quá trình chuyển nội dung D thuộc bình diện tinh thần
sang nội dung D thuộc lĩnh vực ngôn ngữ được gọi là quá trình mã hóa ngôn
ngữ. Đó cũng chính là quá trình sản sinh, tạo lập lời nói.
Ngoài vốn sống có được qua việc học hỏi ở nhà trường và đời sống của
bản thân, người phát cũng như người nhận cần có vốn ngôn ngữ nhất định.
Vốn ngôn ngữ là những hiểu biết về ngôn ngữ nói chung cũng như những kĩ
năng sử dụng vốn hiểu biết đó vào một tình huống giao tiếp cụ thể. Hiệu quả
của lời nói phụ thuộc rất lớn vào chất lượng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt
động giao tiếp của các nhân vật giao tiếp. Trong giao tiếp, vốn sống và vốn
hiểu biết được thể hiện thông qua ngôn ngữ. Vốn ngôn ngữ càng phong phú

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11
thì khả năng diễn đạt của người phát càng tinh tế và hiệu quả giao tiếp càng cao.
Hiệu quả ấy tỉ lệ thuận với vốn ngôn ngữ của cả người phát lẫn người nhận.
Khi một nội dung D được người phát truyền đi và người tiếp nhận lí
giải, khôi phục lại được nội dung đó thì khi ấy một chu kì giao tiếp đã hoàn
thành. Nếu người nhận lí giải đầy đủ và đổi vai thành người phát thì ta có hoạt
động trao đáp mới. Đó là toàn bộ quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể thực hiện theo những cách thức khác
nhau: dùng ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người (nói miệng) hoặc dùng
văn bản viết.
1.1.2.2. Tác phẩm văn học là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ
Nhà văn Gorki từng khẳng định Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn
học. Thơ là một thể loại của văn học. Không thể có thơ nếu không có ngôn

phẩm văn học cũng là một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ - giao tiếp có
tính nghệ thuật.
Trong thơ mình, Tố Hữu luôn hướng tới đối thoại với độc giả, với nhân
vật. Chính điều đó khiến thơ ông mang giọng điệu tâm tình, sâu lắng. Mỗi
một bài thơ là một câu chuyện buồn, vui, yêu, ghét, tự hào, căm giận… Người
viết như muốn nói với Bác, với mẹ cha, với anh chị em, với quê hương xứ
sở… Có khi để nhắn gửi tới những người mẹ sớm hôm vất vả, hết lòng vì bộ
đội, vì kháng chiến; có khi là lời kêu gọi thúc giục lên đường hay để diễn tả
nỗi đau khi Bác mất…
Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều
Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu
Ra đi Bác dặn: Còn non nƣớc
Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều.
(Bác ơi! - 1969)
Nhà thơ khiến người đọc thấy rằng: Bác mất đi nhưng sự nghiệp của
Người vẫn còn sống mãi. Cho nên, khi Bác mất, ta chỉ thấy vắng Bác, xa Bác,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13
như một lần Bác đi xa. Với cách diễn đạt như vậy, một mặt, nhà thơ nói được
nỗi đau vô hạn khi Bác mất, nhưng mặt khác, nỗi đau khiến người ta không bi
lụy mà vẫn có sự lạc quan, tin tưởng bởi Bác sẽ vẫn cùng chúng ta tiếp tục
dựng xây sự nghiệp này.
Bác đã lên đƣờng, nhẹ bƣớc tiên
Mác-Lê nin thế giới Ngƣời Hiền
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!
(Bác ơi - 1969)

Thứ nhất là đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn
ra cuộc hội thoại. Thoại trường có thể là nơi công cộng hoặc riêng tư.
Thứ hai là số lượng người tham gia. Có thể là từ hai đến số lượng lớn hơn.
Thứ ba là cương vị và tư cách những người tham gia hội thoại.
Thứ tƣ là các cuộc thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích.
Thứ năm là các cuộc thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có
hình thức.
GS Nguyễn Đức Dân, trong cuốn “Ngữ dụng học” [7; tr.80], đã trình
bày những đặc điểm khái quát của một cuộc thoại gồm: những đặc điểm nội
tại và những đặc điểm bên ngoài.
Những đặc điểm nội tại gồm: 1. Sự tương tác qua lại (nguyên tắc luân
phiên lƣợt lời). 2. Sự liên kết (nguyên tắc liên kết hội thoại). 3. Tính mục
đích. 4. Nguyên lí hội thoại (nguyên lí cộng tác và nguyên lí tế nhị).
Những đặc điểm bên ngoài gồm: 1. Về số lượng người tham dự. 2. Về
quan hệ giữa những người tham dự. 3. Về chu cảnh của những cuộc thoại
(thời gian và không gian). Trong đó, tác giả cũng đưa ra những lưu ý về
không gian hội thoại: sự có mặt của người đối thoại có tầm quan trọng đáng
kể trong hội thoại. Theo quan điểm ngữ dụng, sự có mặt hiện thực hoặc tưởng
tượng của người đối thoại là yếu tố cần thiết cho sự dùng ngôn ngữ được bình
thường trong quá trình hội thoại. Có những câu hỏi, câu chào, câu gọi, câu
cầu khiến; có những đại từ như: này, kia, như vậy… mà sự quy chiếu của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15
chúng liên quan tới người nói, người nghe, ngữ cảnh, sự định hướng không
gian… nghĩa là chúng chỉ được xác định khi đứng trong hoàn cảnh có mặt
người đối thoại. Chúng ta sẽ thấy rõ những đặc điểm này trong thơ Tố Hữu.
1.2.2. Các hành vi ngôn ngữ trong hội thoại

động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn
ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết)
Sp
1
nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc đọc) Sp
2
trong ngữ cảnh.
Theo Austin, có 3 loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn: hành vi
tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời. Trong đó, hành vi tạo lời được
hiểu là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết
hợp từ thành câu để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi
mƣợn lời là những hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ nói cho đúng hơn
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người
nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Hành vi tại lời (HVTL) là những
hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những
hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ
tương ứng với chúng ở người nhận. Có hàng loạt các hành vi ngôn ngữ khác
nhau, nhưng theo Austin phân loại có 5 phạm trù, đó là: phán xét, hành sử,
cam kết, trình bày, ứng xử.
Theo các nhà nghiên cứu, bảng phân loại của Austin còn có những điều
chưa thoả đáng. Ngay chính Austin cũng nhận thấy còn có chỗ chồng chéo, có
chỗ còn mơ hồ không xác định được một cách rõ ràng. Trong bài "Sự phân
loại các hành vi tại lời" năm 1977, Searle cũng phê bình cách phân loại của
Austin. Searle cho rằng vì Austin không định ra các tiêu chí phân loại do đó
kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau. Searle đã dùng 4 trong số 12 tiêu
chí để phân loại 5 hành vi ngôn ngữ như sau:
 Tái hiện: sau này Searle gọi là lớp khẳng định. Các HVTL của lớp
này là: khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích Những hành vi
này chứa giá trị "đúng" hay "sai". Đích tại lời cũng như "sự ăn khớp" của
chúng là phản ánh đúng thế giới.

- Giết, bắt sống, không mống nào đƣợc thoát!
(Bắn! - 1948)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18
- Giặc trƣớc mặt phải xông mà giết
Thù sau lƣng phải triệt chẳng tha
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955)
- Đừng quên giấy quên kim
Cho các em các chị
(Bài ca lái xe đêm - 1965)
 Lớp cam kết: Các hành vi ngôn ngữ thuộc lớp cam kết cũng xuất
hiện trong thơ Tố Hữu. Đích tại lời của hành vi ngôn ngữ này là gán trách
nhiệm vào người nói thực hiện một hành động nào đó.
Có thể tìm thấy các phát ngôn dưới những hình thức như sau:
- Dù ai chia núi ngăn sông
Cũng không thể cắt đƣợc lòng Việt Nam.
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta - 1955)
- Máu dù chảy hai miền thấm đỏ
Nghìn đầu rơi xuống cỏ không lui.
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
- Ta sẽ khai những mỏ dầu, mỏ sắt
Đóng những con tàu đi khắp đại dƣơng.
(Bài ca xuân 71)
 Lớp biểu cảm: Đích tại lời là biểu thị trạng thái tâm lý phù hợp với
hành vi tại lời như: xin lỗi, chúc mừng, cảm ơn, mong muốn
Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong thơ Tố Hữu, các hành vi tại lời của
lớp biểu cảm rất phong phú, đó cũng là phần quan trọng làm nên chất giọng

Cả bốn biển hoan hô Hà Nội
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ.
(Việt Nam máu và hoa - 1973)
Lý thuyết các hành vi ngôn ngữ của J.Austin chỉ xem xét các hành vi
một cách riêng rẽ, độc lập với những hành vi khác. Trong hội thoại, mỗi phát
ngôn đều có quan hệ trực tiếp đến những phát ngôn đi trước nó hoặc định

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 20
hướng cho những phát ngôn tiếp theo. Như vậy, các HVNN không hề đứng
biệt lập, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia.
Và hình thành nên khái niệm "cặp thoại". Trong một cặp thoại, lượt lời thứ
nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Chúng được tổ chức theo
một quy cách chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại. Quan hệ
này phản ánh sự tác động của hiệu lực tại lời của HVNN ở lượt lời thứ nhất
lên lượt lời thứ hai. Chúng ta thấy có các cặp HVNN: hỏi - đáp, chào - đáp, đề
nghị - đáp ứng, đề nghị - bác bỏ, mệnh lệnh - tuân theo
1.2.3. Khái niệm tính hội thoại
1.2.3.1. Định nghĩa
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi không chỉ nói tới những
đoạn thoại chân chính (đối thoại) mà còn nói về những đoạn thoại mà trong
đó chỉ có lời nói của người phát nhưng hướng rõ ràng tới người nhận được
xác định rõ ràng như một đối tượng trò chuyện tâm tình. Thông qua phân tích,
dựa vào những đặc điểm của hội thoại, chúng tôi vẫn xác định được đoạn thơ,
bài thơ đó mang tính hội thoại.
Như vậy, tính hội thoại đƣợc hiểu là tính chất của lời nói mang tính trao
đổi, trò chuyện, tâm tình, trong đó, chủ thể giao tiếp hƣớng tới đối thể giao tiếp
đƣợc xác định rõ ràng. Theo cách hiểu này thì lời nói có tính hội thoại không

đến người nghe và nó nhằm tạo nên mối quan hệ giữa những người tham gia
hội thoại.
Lời nói mang tính hội thoại có những đặc điểm chính sau:
- Hàm chứa những lời đối thoại.
- Xác lập chủ thể, đối thể giao tiếp một cách rõ ràng và biểu hiện sinh
động mối quan hệ giao tiếp giữa chủ thể và đối thể giao tiếp.
- Sử dụng các từ ngữ, các kiểu câu đặc trưng cho ngôn ngữ hội thoại
(câu hỏi, câu cầu khiến, câu chào, câu gọi).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 22
1.3. Thơ và thơ trữ tình
1.3.1. Thơ và đặc trưng của thơ
Từ buổi bình minh của xã hội loài người, thơ đã có một vị trí hết sức
quan trọng. Khi chưa có chữ viết, con người đã sáng tác và thưởng thức thơ
qua con đường truyền miệng. Những sáng tác sớm nhất của lịch sử văn học
nhân loại mà ngày nay chúng ta biết đến, hầu như là thơ.
Khi so sánh thơ với các ngành nghệ thuật khác, nhà triết học Đức,
G.Hêghen trong cuốn Mỹ học nhận xét: Thơ ca xét về nội dung là một nghệ
thuật phong phú nhất, ít bị hạn chế nhất. Còn nhà phê bình văn học Nga
V.G.Biêlinxki cho rằng: Thơ là loại hình nghệ thuật cao nhất. Thơ ca bao
gồm cả mọi yếu tố của các ngành nghệ thuật khác. Đại diện cho các nhà mỹ
học phương Đông - Khổng Tử cũng quan niệm: Thi khả dĩ hƣng, khả dĩ quần,
khả dĩ oán có nghĩa là: thơ có công dụng khởi phát tƣ tƣởng, đoàn kết mọi
ngƣời, phê phán cái xấu.
Ở Việt Nam, thơ cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
văn hóa và đời sống xã hội. Hầu hết các tác phẩm văn học dân gian và một số
tác phẩm văn học viết lớn nhất của dân tộc là thơ. Có thể kể đến: Ca dao, Sử

chất của thơ. Đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy những quan điểm này hoàn
toàn phù hợp với thơ Tố Hữu mà chúng tôi xác định là đối tượng nghiên cứu
trong luận văn này.
1.3.2. Thơ trữ tình và một số đặc điểm của thơ trữ tình xét theo quan điểm
giao tiếp
1.3.2.1. Thơ trữ tình
Có thể phân loại thơ theo nhiều tiêu chí khác nhau, tùy theo yêu cầu
nghiên cứu. Dựa vào phương thức phản ánh, người ta có thể chia thành thơ tự
sự và thơ trữ tình. Dựa vào thể luật, có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do.
Xét theo cách gieo vần, có thể chia thành: thơ có vần và thơ không vần. Cũng
có khi thơ được phân chia theo thời đại: thơ Đƣờng, thơ Lí Trần, thơ trung
đại, thơ hiện đại… hay phân loại theo nội dung: thơ tình yêu, thơ chính trị,
thơ triết lí, thơ thế sự… Ở đây, chúng tôi đề cập đến thơ trữ tình được phân
chia theo phương thức phản ánh.

Trích đoạn Câu chào, gọi Câu nghi vấn (câu hỏ i) Sự giác ngộ lý tưởng và tình yêu chân thành, sâu sắc đố Quan điểm quần chúng, tư tưởng nhân dân là cơ sở của tính Giá trị của tính hội thoại đối với việc thể hiện phong cách thơ Tố Hữu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status