Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam.
Một trong những yếu tố làm nên sức sống lâu bền trong thơ Tố Hữu chính là tính
dân tộc. GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố
Hữu đối với công chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và
nhuẫn nhuyễn.” Ông đã kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân
gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ
thuật thể hiện. Với việc tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu chúng ta sẽ thấy
được nỗi lòng của con người Việt Nam, thấy được bản sắc, hơi thở, tinh thần của
dân tộc Việt Nam.
Để hiểu rõ hơn về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu
bài thơ tiêu biểu của ông: Việt Bắc. Bài thơ là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca
mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nước, là truyền thống ân
nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc.
***
Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu thế nào là tính dân tộc trong văn học?
Dân tộc là gì? Đó là một cộng đồng người ở trong một khu vực địa lý có
chung một ngôn ngữ, một tập quán, phong tục, tâm lý…Việt Nam có 54 dân tộc
anh em. Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng nhưng đều mang đặc điểm chung
của Tổ quốc Việt Nam không lẫn với nước nào trên thế giới.
Tính dân tộc trong văn học là thuộc tính, là bản chất xã hội của văn học. Khái
niệm thuộc phạm trù tư tưởng, thẩm mỹ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học và
dân tộc, thể hiện qua những đặc điểm độc đáo tương đối bền vững chung cho các
sáng tác của một dân tộc, được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử, phân
biệt với văn học dân tộc khác.
Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung đến hình thức của sáng tác văn
học. Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu trước hết được xem xét toàn diện từ sự mô tả
cuộc sống và đấu tranh độc đáo của dân tộc ta, sự phác họa con người Việt Nam
với truyền thống đạo đức, đặc điểm tâm lý và tái hiện phong cảnh đất nước. Bằng
HVTH: Ngô Minh Nhàn 1 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người
Tố Hữu gọi Bác Hồ là Bác, là Người và đặc biệt gọi là ông Cụ. Tiếng gọi nghe
tha thiết, chất chứa bao ân tình mà gần gũi xiết bao. Rừng núi trông theo cái điều kì
ảo diễn ra như một chuyện thần tiên mà không làm ai ngỡ ngàng, vì ông tiên đó là
con người áo nâu túi vải mà ai cũng biết, cũng ngưỡng mộ. “chiếc áo nâu” là hình
ảnh gần gũi đối với những người dân Việt Nam. Không những thế Bác còn là niềm
tin, là ánh sáng nâng bước và sưởi ấm lòng mỗi người trong những hoàn cảnh đen
tối nhất:
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Đây là hình ảnh trở thành điểm quy tụ mọi suy nghĩ và tình cảm. Kết cấu này
bắt đầu từ Bài Ca tháng Mười, qua Việt bắc sẽ còn được tiếp tục trong Xưa nay,
Mười năm và Ba mươi năm đời ta có Đảng. Nó chứng tỏ những tình cảm thiết tha
của nhà thơ đối với Bác, đồng thời ở một mức độ nhất định cũng nói lên quan
niệm của nhà thơ về vai trò của Người đối với cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta.
1.2. Hình ảnh áo chàm
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Áo chàm là hình ảnh hoán dụ chỉ những người dân Việt Bắc nghĩa tình
nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Việt Bắc đã ca ngợi một tình cảm rất đẹp của người
Việt Nam. Mười lăm năm trước họ là những người hoàn toàn xa lạ với nhau. Cuộc
chiến tranh đã đẩy họ về gặp nhau tại chiến khu Việt Bắc này. Mười lăm năm một
HVTH: Ngô Minh Nhàn 3 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
quãng thời gian không phải là ngắn, biết bao kỉ niệm biết bao những cay đắng ngọt
bùi đã trải qua giờ đây đến giây phút chia tay, ai cũng bịn rịn, ai cũng nghẹn ngào.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Mười lăm năm ấy bao nhiêu sự kiện lịch sử trọng đại của đã diễn ra, xuất
phát từ cái nôi cách mạng.
Việt Bắc hiện lên với những con người thật đẹp biết bao. Tác giả đã dùng hai
hình ảnh đối lập để nói về tấm lòng của họ:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
“Hắt hiu lau xám” những ngôi nhà còn nghèo, còn nhiều vất vả nhưng tấm
lòng của họ thì son sắt thủy chung vạn lần. Đó là hình ảnh của “người mẹ nắng
cháy lưng” vẫn đang ngày đêm góp công sức của mình cho cuộc kháng chiến. Đó
là hình ảnh của những con người Việt Bắc trong cuộc sống đời thường hài hòa với
hình ảnh thiên nhiên:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Đoạn thơ hiện lên “dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa” trong “công
việc thầm lặng” của người Việt Bắc và dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình
ảnh cô gái Việt Bắc hiện lên thật thanh mảnh, dịu dàng. Cô sơn nữ một mình trong
núi rừng không gợi ấn tượng buồn hiu hắt mà lại mang vẻ đẹp khoẻ khoắn vì cô
hiện lên trong tư thế lao động vất vả, giản dị nhưng cũng rất thơ mộng.
HVTH: Ngô Minh Nhàn 5 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
1.3. Hình ảnh chiến sĩ cách mạng
Những người chiến sĩ cách mạng đến với núi rừng Việt Bắc trong giờ phút
Những nhịp điệu đêm đêm, những điệp thanh rầm rập cùng với hình thức so
sánh đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang cuộc kháng chiến thần thánh. Khí
thế chiến đấu thần kì của quân và dân ta làm rung chuyển đất trời, không một thế
lực nào có thể ngăn cản được. Cả một dân tộc ào ào ra trận. Và còn có sự góp sức
không nhỏ của hàng chục vạn anh chị dân công:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Họ là những người đã khuân, đã vác, đã thồ hàng trăm cây số từ mấy mươi
tỉnh khác nhau ở miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền Trung đi hàng trăm ngày
đường, qua hàng trăm đêm trắng dưới mưa bão của đất trời và bom đạn đem được
lương thực đến tận tay các chiến sĩ. Chiến dịch Điện Biên Phủ là cả một kì công về
giao thông tiếp vận mà kẻ thù không sao có thể tưởng tượng nổi. Nó hiểu làm sao
nổi, ước lường làm sao hết cái giá mồ hôi của một bát gạo, một viên đạn mà nhân
dân ta đã cung ứng cho chiến trường Tây Bắc.
Như vậy có thể nhận thấy, bài thơ Việt Bắc đã khắc họa hình ảnh con người
Việt Nam, những con người mang những nét đặc trưng tiêu biểu cho dân tộc Việt
Nam: thủy chung, ân tình, luôn luôn lạc quan yêu đời vượt qua mọi gian khổ và
cũng rất anh hùng, dũng mãnh trong chiến đấu.
2. Phong cảnh thiên nhiên đất nước mang bản sắc Việt Nam
Thiên nhiên không chỉ có vẻ đẹp tự tại, không chỉ hé mở cho những tâm hồn
riêng lẻ mà gắn liền với quê hương đất nước với đời sống lao động và chiến đấu,
với sinh hoạt với những vui buồn của mỗi người Việt Nam. Bức tranh tứ bình trong
bài thơ Việt Bắc được xem là một trong những bức họa đẹp nhất của núi rừng con
người Việt Bắc:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
HVTH: Ngô Minh Nhàn 7 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Miền đất nào cũng muốn góp phần mình vào cuộc kháng chiến, xây dựng đất
nước giàu đẹp hơn, hùng mạnh hơn:
Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng …
Muối Thái Bình ngược Hà Giang
Cày bừa Ðông Xuất, mía đường tỉnh Thanh…
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Ðịnh, lụa hàng Hà Ðông…
Nhưng thiên nhiên Việt Bắc không chỉ đẹp, nó cũng khắc nghiệt:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Tạo hóa ban tặng cho dải đất hình chữ S của Việt Nam nhiều thuận lợi chúng
ta có núi cao, sông dài, có biển, có rừng …nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thiên
tai. Những ngày nước lũ tràn về, Việt Bắc ngập tràn trong mây mù.
II. TÍNH DÂN TỘC TRÊN PHƯƠNG DIỆN PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU
Phần I chúng ta đã đi vào tìm hiểu tính dân tộc của thơ Tố Hữu trong bài thơ
Việt Bắc trên phương diện nội dung. Nếu xét về hình thức nghệ thuật thì tính dân
tộc trong nghệ thuật của thơ Tố Hữu được thể hiện ở những nét chính sau đây:
ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, thể thơ đậm đà tính dân tộc. Lối cấu tứ, kết cấu giàu
sắc thái ca dao,thể thơ dân tộc được vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo.
1. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Tính dân tộc trong ngôn ngữ được
thể hiện một cách đặc sắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Đó là ông đã vận
dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo cặp đại từ nhân xưng “mình, ta” của ca
dao xưa. Ở bài thơ Việt Bắc các cặp đại từ “mình, ta” được sử dụng một cách hết
sức sinh động và linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa.
HVTH: Ngô Minh Nhàn 9 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Cách xưng hô “mình, ta” trong lời đối đáp vốn là cách xưng hô của những
đôi bạn tình trong ca dao tình yêu:
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi , mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
Mượn cách xưng hô “mình – ta” của ca dao xưa Tố Hữu đã đem lại cho bài
thơ Việt Bắc một vẻ đẹp riêng khiến cho bài thơ vừa dồi dào sắc thái trữ tình đời
thường với những lời dặn dò, nhắn nhủ hứa hẹn, thề nguyền rất riêng tư, lại vừa
đậm đà sắc thái dân tộc, đồng thời diễn đạt được một tình yêu rộng lớn sâu sắc,
mang tính khái quát, mang yếu tố trữ tình sử thi. Đó là tiếng nói của tình yêu nước.
Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã vận dụng một cách nhuần nhị và tài tình cách
nói tu từ phong phú, tế nhị mà giàu sức biểu đạt của ca dao dân ca xưa.
Ngoài việc vận dụng đại từ nhân xưng trong ca dao ông còn trở về với cội
nguồn dân gian của dân tộc bằng cách mượn ý những câu ca dao, tục ngữ hay sáng
tạo những câu thơ theo hơi hướng ca dao. Câu thơ: Mình về mình có nhớ không /
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? lấy ý từ câu tục ngữ quen thuộc: “Uống
nước nhớ nguồn”. Thơ ca dân gian hay viết về nỗi nhớ nhung, Việt Bắc của Tố Hữu
cũng vậy:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Nhớ từng bản khói cùng sương…
Nhớ từng rừng nứa bờ tre…
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng…
Nhớ những cảnh quân đi điệp điệp trùng trùng, nhớ một buổi họp Trung
ương, lớp học i tờ, một vầng trăng thu…Đó là tất cả những kỉ niệm đáng nhớ trong
kháng chiến nên nó có gì đó gần gũi với nỗi nhớ da diết đến cháy lòng trong ca
dao:
Nhớ ai nhớ mãi thế này
HVTH: Ngô Minh Nhàn 11 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Nhớ đêm quên ngủ nhớ ngày quên ăn
Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Những củ sắn lùi, bắp ngô, bát cơm, chăn sui…những điều bình thường giản
dị thậm chí “xoàng xĩnh” của cuộc sống tưởng rằng không bao giờ được đem vào
thơ nhưng vẫn được Tố Hữu lựa chọn.
Như vậy, có thể nhận thấy, ngôn ngữ trong bài thơ Việt Bắc nói riêng và
trong thơ Tố Hữu nói chung là ngôn ngữ của dân tộc được bắt nguồn từ cội nguồn
văn học dân gian Việt Nam và từ cuộc sống đời thường. Thế nên, nó dễ làm rung
động trái tim con người bởi đó là ngôn ngữ của dân tộc, tiếng Việt của người Việt
Nam.
2. Thể thơ
Việt Bắc được viết theo thể thơ lục bát với lối kết cấu như lời đối đáp của
một đôi trai gái lúc xa nhau. Lục bát là thể thơ dân tộc, nó ăn sâu bắt rễ trong nhân
dân mang cốt cách thuần túy Việt Nam. Đơn vị cơ bản của nó là một khổ thơ (gồm
hai câu, một câu lục và một câu bát) chiếm hai dòng thơ với số tiếng (chữ) cố định
mười bốn chữ có thể có từ hai đến hàng nghìn câu thơ.
Tố Hữu đã vận dụng điêu luyện sáng tạo thể thơ lục bát, mang âm điệu dịu
dàng duyên dáng của ca dao dân ca. Tiếng hát tiếng ngâm lời ru đã cất cánh cho thơ
Tố Hữu bay đến mọi miền của đất nước. Tố Hữu là nhà thơ cách mạng phát triển
thơ trữ tình điệu nói trong lĩnh vực thơ chính trị công dân đưa tiếng nói thơ ca cách
mạng vào trong thơ, nâng tiếng nói tâm tình đời tư thành tiếng nói tâm tình chính
HVTH: Ngô Minh Nhàn 13 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
luận. Trong bài thơ tác giả sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: mình, ta để bộc
lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm:
- Lòng ta ơn Ðảng đời đời…
Mình đi, ta hỏi thăm chừng…
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt,
thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở
những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử
dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc
động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về
cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ.
Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mù
Miếng cơm / mối thù
Trám / măng
Hắt / son
Nhớ / mình
Tân / đa
HVTH: Ngô Minh Nhàn 15 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
Những hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến
luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó
mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra
bởi sự thâm thúy, hàm súc:
Mình đi mình có nhớ mình
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Có lẽ trước đó trong thơ Việt Nam, những hình ảnh hết sức quen thuộc với
cuộc sống hằng ngày, tưởng như chẳng có gì đáng nói, lại đi vào thơ nhiều như
vậy. Tất cả đã ùa vào thơ Tố Hữu một cách tự nhiên thoải mái để tạo nên một
không khí dân tộc đậm đà. Và điều đáng nói hơn là dưới ngòi bút miêu tả tài tình
của nhà thơ, chúng đã trở thành những hình tượng thơ sinh động, giàu xúc cảm đem
đến cho người đọc những xúc cảm sâu xa.
Thơ Tố Hữu là thơ viết cho đại chúng, và điều làm nên “bút pháp quần
chúng” trong thơ ông không chỉ vì những hình ảnh ấy quen thuộc, dễ hiểu, giản dị
mà còn vì nó rất giàu sức biểu cảm cho nên dễ lắng sâu và lưu lại trong lòng bao
thế hệ bạn đọc.
***
Targo từng nói: “Trách nhiệm của nhà thơ là thể hiện rõ bản sắc của dân tộc
mình trước thế giới.”. Tố Hữu đã làm được điều đó hơn nữa đã làm một cách rất
xuất sắc. Trên những trang thơ của ông mà tiêu biểu là bài thơ Việt Bắc là hình ảnh
của thiên nhiên, con người Việt Nam. Những con người nghĩa tình, thủy chung son
sắt dù trải bao khó khăn gian khổ vẫn luôn lạc quan, hướng về tương lai. Những
con người Việt Nam hồn hậu, hiền lành nhưng rát anh dũng trong chiến đấu. Đó là
hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp với núi, với sông với những tên đất, tên miền
mang hồn thiêng của dân tộc nhưng cũng khắc nghiệt, chứa đầy bao hiểm nguy.
Đọc Việt Bắc, ta có cảm giác như được nghe những lời ru từ thủa nhỏ của bà của
HVTH: Ngô Minh Nhàn 17 GVHD: TS Phan Ngọc Thu
Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua bài thơ Việt Bắc
mẹ bởi nhịp thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại. Bởi ngôn ngữ bắt rễ từ văn học dân
gian. Bởi những hình ảnh thơ gần gũi, thân thương nhưng cũng rất đỗi nên thơ. Tố
Hữu thực sự đã mang hồn thiêng núi sông, tâm hồn dân tộc lên những lời thơ Việt
Bắc. Bài thơ xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO