Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng lịch sử năm 938, nước
ta thoát khỏi 1000 năm Bắc thuộc và từ đây Đại Việt bắt đầu bước vào một
thời kì mới, thời kì độc lập tự chủ.
Năm 1010 nhà Lý được thành lập, trong không khí tưng bừng phấn
khởi khi đất nước độc lập, tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trở thành
một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người dân Đại Việt. Với cảm hứng yêu
nước, tinh thần dân tộc, trong văn học đã dấy lên một phong trào sáng tác thơ
ca để ngợi ca các bậc anh hùng cũng như công cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm đáp ứng đời sống tinh thần của con người.
Tiếp nối thành tựu của đời trước, bước vào thời đại nhà Trần, tinh thần
khẳng định quốc gia dân tộc cũng là nguồn cảm hứng bất tận đối với các thi sĩ
giai đoạn này. Những sắc thái tình cảm thể hiện tinh thần yêu nước, tự hào về
những chiến công chống quân xâm lược, về truyền thống đấu tranh bất khuất,
về một nền văn hiến văn hóa lâu đời, về đất nước tươi đẹp phong phú, về con
người có bản lĩnh vững vàng, về cuộc sống yên vui,…đã trở thành đề tài
chính trong hầu hết các sáng tác của các tác giả thời Trần.
Khẳng định quốc gia dân tộc mình, thơ ca thời Trần đã chứa đựng cái
hào khí đặc biệt - Hào khí Đông A - Hào khí Đại Việt gắn với một thời đại
quật khởi chiến thắng ngoại xâm liên tục và cởi mở đón nhận tinh hoa văn
hóa bốn phương.
Xuất phát từ những lí do trên tác giả khóa luận chọn đề tài “Tinh thần
khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời Trần” nhằm làm sáng rõ cả
về nội dung và ý thức nghệ thuật của một thời đại thi ca đi vào lịch sử văn học
Nguyễn Thị Ly
nghĩa yêu nước, bởi vì khi khẳng định giá trị của con người trong việc bảo vệ
và xây dựng Tổ quốc thì các tác giả cũng đồng thời thể hiện niềm tin tưởng ở
phẩm chất và khả năng của dân tộc mình”. Ở đây tác giả chủ yếu bàn về
phẩm chất và khả năng của con người Đại Việt.
Đoàn Thị Thu Vân, (2007), Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam
sơ kì trung đại, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 26 - 27 cũng bàn về con người
trong thơ thời Trần nhưng không phải là con người khí phách mà là con người
Nguyễn Thị Ly
-2-
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
nhân văn với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh: “con người thường xuyên tự phản
tỉnh”. “Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con người - nhân loại mang ý nghĩa triết
học” và “ sự phản tỉnh ở cấp độ con người - cá thể mang ý nghĩa nhân sinh”
Lê Thu Yến (chủ biên), Đoàn Thị Thu Vân - Lê Văn Lực, (2003), Văn
học trung đại - Những công trình nghiên cứu, Nhà xuất bản giáo dục, trang
27, lại nói về quan niệm của con người trong thơ Thiền: “Thơ Thiền thời Lý Trần, nhất là thời Trần luôn có xu hướng muốn đạt đến một con người - vũ
trụ…Ấy là con người được giải thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của thế
giới trần thế ngay chính nơi trần thế”.
Nhìn chung các tác giả trên với bài viết của mình chủ yếu khai thác về
con người trong nội dung thơ ca thời Trần.
Bên cạnh đó, cũng có một số tác giả đi vào tìm hiểu những khía cạnh
với đề tài này có thể góp phần làm hoàn thiện hơn trong việc khẳng định giá
trị thơ ca thời Trần.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong thơ ca thời
Trần.
Có được cái nhìn toàn diện về sự nghiệp văn học và sự đóng góp của
các tác giả đời Trần vào hệ thống Văn học trung đại nói riêng và Văn học Việt
Nam nói chung.
Góp phần thiết thực vào công việc giảng dạy Ngữ văn sau này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nêu được những nét khái quát nhất về lịch sử xã hội, tư tưởng và văn
học thời Trần.
Khẳng định ngợi ca quốc gia Đại Việt trên tinh thần dân tộc ở cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tinh thần khẳng định quốc gia dân tộc trong
thơ ca thời Trần.
- Phạm vi nghiên cứu: Thơ ca thời Trần.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
7. Đóng góp của khóa luận
Nguyễn Thị Ly
-4-
Khoa Ngữ văn
Khoá luận tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG VÀ
VĂN HỌC THỜI TRẦN
1.1. Lịch sử xã hội
1.1.1. Lịch sử
Sau hơn một nghìn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, năm 938, với
chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng lịch sử đất nước ta
đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập tự chủ.
Năm 939, từ khi Ngô Quyền xưng vương dựng nước, đến tháng 12/
1225 khi nhà Trần được thành lập, nước ta đã trải qua sự hưng vong của các
triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế bị ép thoái vị
vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly. Từ đây vương
triều Trần kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình.
Trong triều Trần, công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt
được tiếp tục với tất cả sự cố gắng của mọi tầng lớp xã hội. Trong vòng 175
năm, bằng sự nỗ lực hết sức của mình nhà Trần đã làm được những chiến
công vang dội đi vào lịch sử dân tộc, đặc biệt với ba lần chiến thắng chống
quân Nguyên - Mông để bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất vào
năm 1258, vua Trần Thái Tông đã đích thân ra chiến trận rồi xuống chiếu ra
lệnh cho cả nước khẩn trương đánh giặc cứu nước. Sau mấy tháng trời gian
khổ ròng rã, kinh thành Thăng Long sạch bóng quân thù và trả lại sự yên bình
cho Đại Việt.
Nguyễn Thị Ly
-6-
là đường tiến quân của thủy quân và đoàn thuyền tải lương của giặc.
Lấy trận địa trên sông Bạch Đằng, thắng lợi cứ nối tiếp thắng lợi “quân
ta ngày càng hăng hái diệt địch, địch chết bị thương không kể xiết” [8, 243 ].
Tin đại thắng Bạch Đằng nhanh chóng truyền lan khắp cả nước càng
làm nức lòng quân dân Đại Việt. Đến ngày 19/4/1288 quân địch rải xác trên
Nguyễn Thị Ly
-7-
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
đường rút chạy, Thoát Hoan một lần nữa đành phải giải tán quân bại trận ở
châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung Quốc).
Như vậy, trong ba mươi năm liên tiếp, quân dân nhà Trần đã ba lần đại
thắng ngoại xâm. Thắng lợi vẻ vang và hào hùng ấy góp phần làm suy yếu
quân Nguyên Mông, khẳng định sức mạnh của đội quân yêu nước trước kẻ
thù xâm lược. Chính khí thế sục sôi hào hùng của quân đội nhà Trần được
mệnh danh là “Hào khí Đông A” đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần, tình
cảm và tâm lí con người thời đại. Nó góp thêm vào tinh thần khẳng định quốc
gia dân tộc của nhân dân Đại Việt.
1.1.2. Xã hội
1.1.2.1. Kinh tế
Một trong những điều kiện có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự
khẳng định đất nước Đại Việt giàu đẹp chính là ở lĩnh vực kinh tế.
phổ biến của thủ công nghiệp. Những nghề thiết yếu là gốm (Bát Tràng);
nghề rèn sắt (Tùng Lâm, Hoa Chàng); nghề đúc đồng (làng Bưởi); nghề mộc
và xây dựng; còn có nghề khai khoáng ở Miền núi phía Tây và Tây Bắc.
Sự phát triển của nền nông nghiệp và thủ công nghiệp nước nhà đã tạo
điều kiện cho thương nghiệp vươn mình đi theo. Điều này làm cho kinh đô
Thăng Long ngày càng mở mang sầm uất. Mạng lưới giao thông mở rộng,
nhiều đường thủy, bộ và trạm dịch nối liền kinh đô với các địa phương. Chợ
búa mọc lên khắp nơi, việc buôn bán với nước ngoài được tổ chức ở các
thương khẩu từ đó hình thành nên các trung tâm thương mại nổi tiếng như
Vĩnh Bình; Nghi Hòa Đình (Cao - Lạng); Vân Đồn (Quảng Ninh).
Nhìn chung nền kinh tế Đại Việt dưới triều Trần đạt đến trình độ phát
triển nhất định. Và trên cơ sở của nền sản xuất khá dồi dào ấy, văn hóa vật
chất và tinh thần của xã hội có điều kiện nảy nở phù hợp với hoàn cảnh của
đất nước lúc bấy giờ.
1.1.2.2. Chính trị
Cuộc thay đổi triều đại chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang họ
Trần trong hoàng cung và triều đình diễn ra như một tất yếu của lịch sử dân
tộc. Khi bắt đầu sứ mệnh lịch sử của mình, tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn
khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng đã nắm giữ chính quyền
nhanh gọn để mở ra một thời kỳ tiếp tục phát triển cao hơn của xã hội Đại
Việt.
Nguyễn Thị Ly
-9-
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Ly
- 10 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, với một nền chính trị như thế, Đại Việt dưới sự phát triển của
triều Trần đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử Việt Nam.
1.1.2.3. Văn hóa - giáo dục
Đất nước đã được độc lập, văn hóa dân tộc có điều kiện phát triển mạnh
mẽ về mọi mặt. Nhà Trần đã cố gắng khôi phục và xây dựng một nền văn hóa
cởi mở, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đó là nguồn văn hóa dân gian. Nó không chỉ thể hiện ở lĩnh vực tinh
thần qua những điệu hát chèo, những điệu nhảy và cả nghệ thuật múa rối, trò
chơi hay những câu chuyện thần thoại về nguồn gốc và công cuộc đấu tranh
của người Việt mà còn thể hiện qua văn hóa vật chất với những công trình
kiến trúc lớn như “Thành nhà Hồ”, “Lăng mộ nhà Trần ở Thái Đường”,
nghệ thuật điêu khắc tinh tế trên các cánh cửa gỗ ở các ngôi chùa hay sự phát
triển của các nghề thủ công mỹ nghệ,…
Tất cả đã tạo ra cho triều Trần có một nền văn hóa đa dạng mang dấu
ấn của thời đại, vừa truyền thống nhưng lại vừa hiện đại trước nền văn hóa
nước ngoài.
Nền giáo dục cũng có sự điều chỉnh lại. Vương triều Trần đã chính quy
hóa, tạo ra quy củ cho việc học hành và thi cử. Thành lập “Quốc học viện” để
1.2. Tư tưởng thời đại
Nếu như ở thời Lý, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của
người dân Đại Việt thì bước sang thời Trần sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho
giáo đã lấn át Phật giáo và nhanh chóng leo lên vị trí đứng đầu. Bên cạnh đó,
Đạo giáo cũng có một vị trí đáng kể trong hệ tư tưởng người Việt.
Như vậy, trong giai đoạn này Đại Việt có ba tôn giáo cùng song song
tồn tại và được gọi là thời kì “Tam giáo đồng nguyên”, tuy nhiên sự ảnh
hưởng của Nho giáo vẫn chiếm ưu thế hơn cả.
Tư tưởng Nho học bắt nguồn từ Trung Quốc, một hệ tư tưởng chính
thống của giai cấp phong kiến. Khi được truyền bá vào Việt Nam, là một
thành tố của văn hóa Việt, Nho giáo có một ảnh hưởng rất lớn đối với diện
mạo cũng như nội dung các thành tố văn hóa khác.
Với tư cách là một học thuyết chính trị, đạo đức, Nho giáo có ảnh
hưởng sâu nặng đến tâm tư, tình cảm, tư duy và lối sống của các nhà Nho
Việt. Cũng từ đó, bằng nhiều hình thức khác nhau họ đã phả vào tư tưởng của
người dân.
Nguyễn Thị Ly
- 12 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
1.3. Tình hình văn học
Bước vào thời kì độc lập tự chủ, văn học đời Lý đã bắt đầu có những
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
- Phú chữ Hán:
Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu)
Thiên Hưng trấn phú (Nguyễn Bá Thông)…
- Phú chữ Nôm:
Cư Trần lạc đạo phú (Trần Nhân Tông)
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (Trần Nhân Tông)
Hoa Yên tự phú (Huyền Quang)
Giáo tử phú (tương truyền của Mạc Đĩnh Chi)
Với sức sáng tạo dồi dào, các thi sĩ thời Trần đã tạo ra một khối lượng
tác phẩm đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau. Điều này đã khẳng định được sự
phát triển rực rỡ của thơ ca thời Trần.
1.3.3. Nội dung chính
Bước vào thời nhà Trần, khi tâm lí xã hội bắt đầu thay đổi thì cũng kéo
theo sự chuyển biến của thơ ca. Mặc dù vẫn còn những sáng tác của các nhà
sư song phần lớn thi sĩ là tầng lớp vua chúa, quan lại, và những nhà Nho. Lý
tưởng của con người không chỉ hướng tới Thiền môn mà bắt đầu hướng tới
những lí tưởng của Nho gia.
Thơ ca thời Trần mang một âm hưởng riêng, một phong cách riêng. Đó
là sự phóng khoáng, bay bổng và siêu thoát, sự hoành tráng và rộng mở. Đây
là biểu hiện của tâm hồn con người hào hứng phấn khởi trong sự khẳng định
dân tộc; khẳng định những chiến công to lớn trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước; thể hiện tinh thần quật cường; ca ngợi công đức của những
vị vua Trần, những con người kì vĩ, phi thường khát khao lập công danh để
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
TINH THẦN KHẲNG ĐỊNH QUỐC GIA DÂN TỘC
TRONG THƠ CA THỜI TRẦN
2.1. Khẳng định quốc gia dân tộc trên phương diện nội dung cảm hứng
2.1.1. Khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc
Trước đời Trần, vào năm 1076 khi quân Tống một lần nữa kéo sang
cướp nước ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt trên sông Như Nguyệt. Để cổ vũ,
khích lệ tinh thần quyết chiến thắng kẻ thù của các tướng sĩ, tương truyền bài
thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt ra đời:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch thơ:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định mệnh ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Bài thơ là lời tuyên ngôn khẳng định sự tồn tại của nước ta với tính
cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, cương giới nước Nam rõ ràng đã
được ghi trong sách trời. Mệnh trời là như thế. Ở đó còn là lòng tin sắt đá vào
sự thắng lợi, vào ngày mai của dân tộc và đất nước.
Đến thời Trần, ý thức về dân tộc của các vua quan, nhân dân Đại Việt
ngày càng lên cao để phát huy truyền thống của hàng nghìn năm lịch sử trước
kia. Đồng thời tạo lập thêm những truyền thống mới để ngày càng lớn mạnh
hơn. Điều này đã được minh chứng cụ thể bằng ba cuộc chiến thắng lừng lẫy,
Tề đăng thọ vực chung.
Dịch nghĩa:
Châu Tứ Minh tiếp giáp biên giới nước ta,
Cách biệt nhau chẳng đáng là bao.
Tiếng nói không khác nhau nhiều lắm,
Áo mũ thì không giống nhau.
Mặt trăng mọc khiến cho nhà giao long lạnh lẽo,
Mặt trời lặn khiến cho đầm cá sấu rỗng không.
Nguyễn Thị Ly
- 17 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Đâu có sự ngăn cách giữa Hoa và Di,
Đều cùng nhau bước lên cõi thọ.
(Việt giới)
Bài thơ như một lời khẳng định, rõ ràng không bao giờ có sự ngăn cách
giữa Hoa và Di. Và hai đất nước đều có độc lập chủ quyền tách biệt nhau.
Bên cạnh đó vua Trần Minh Tông cũng muốn nêu cao tinh thần đoàn kết cùng
giúp đỡ nhau giữa hai dân tộc khi cả hai đều có nhiều điểm tương đồng. Lời
thơ khéo léo, ý tứ nhưng lại đanh thép, cứng rắn để thể hiện tinh thần dân tộc
sâu sắc.
Một chân lí lịch sử không bao giờ thay đổi là dân tộc ta đã trưởng
rệt. Từ đó có thể thấy khái niệm “văn hiến” sẽ hẹp hơn khái niệm “văn hóa”.
Khẳng định quốc gia Đại Việt là một dân tộc có nền văn hiến văn hóa
ta có thể tìm thấy điều này biểu hiện ở những khía cạnh cụ thể sau:
2.1.2.1. Khẳng định con người Đại Việt tài năng đức độ
Trước hết thơ ca thời Trần đã đi sâu vào khẳng định ngợi ca tài kinh
bang tế thế của con người Đại Việt.
Thơ ca thời Trần đã tốn không ít giấy mực để ngợi ca công lao to lớn
của các vị vua, các bậc hiền tài là những trụ cột của triều đình. Họ tài năng
trên tất cả các lĩnh vực. Có ai đếm được từ đời Trần Thái Tông đến đời Trần
Minh Tông đã xuất hiện bao nhiêu những vị tướng tài bên các vị vua sáng và
có ai đếm được họ đã lập bao nhiêu công lao cho sự hưng thịnh của đất nước?
Chỉ có thể khẳng định được rằng, những con người ấy, với tài năng của mình
họ đã cùng nhau gây dựng nên một dân tộc hùng mạnh và trường tồn.
Trước hết, để có một quốc gia vững bền và hùng mạnh thì hơn bao giờ
hết bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải ổn định và thống
nhất. Đất nước muốn “quốc thái dân an” thì phải có những đường lối chính
trị đúng đắn và sáng suốt.
Dưới sự lãnh đạo của mình lúc đương thời, nhà Trần đã thể hiện sự
đúng đắn, tầm nhìn xa trông rộng trước thời cuộc, đặc biệt trong những lúc
đất nước nguy nan, chiến tranh kéo dài khi áp dụng đường lối chính sách
“khoan sức cho dân” và tìm ra vai trò của dân trong cuộc chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc:
Ngọc Hoa dạ chiếu tuyệt quyền kì,
Dục bái khiên lai cận xích trì.
Nhược sử ái nhân như mã,
Nguyễn Thị Ly
- 19 -
vực quân sự, tài điều binh khiển tướng của các vị vua, vị tướng để làm nên
những chiến thắng vang dội, lừng lẫy.
Trải qua sự hưng thịnh, tồn vong từ hàng nghìn năm trước, lịch sử đã
chứng minh rõ ràng về những con người hào kiệt của đất Việt. Theo dòng lịch
Nguyễn Thị Ly
- 20 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
sử ấy, ta đã gặp ở đó vị anh hùng Trưng Trắc, Trưng Nhị rồi đến Phùng
Hưng, Ngô Quyền, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt,…Đến triều Trần, các vị
vua anh hùng hào kiệt cũng dần dần xuất hiện như những ánh lửa sáng làm
rực cả bầu trời Đại Việt.
“Con người đất Việt quả là chứng minh sinh động, hùng hồn cho
nguyên lý nhân hòa của phép dùng binh nói chung trong chiến tranh chính
nghĩa bảo vệ Tổ quốc mình” [18, 51]. Một câu văn đầy thuyết phục khi khẳng
định con người Đại Việt.
Trước hết, thơ ca đời Trần ca ngợi các vị vua sáng, các vị tướng giỏi.
Đó là Trần Quang Khải - một Thái sư, một Thượng tướng cùng Trần Quốc
Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng văn, võ từng góp nhiều công lao hiển
hách vào công cuộc giữ nước thời Trần. Là con trai thứ ba của Trần Thái
Tông, em ruột Trần Thánh Tông, với tước hiệu Chiêu Minh Vương, Trần
Quang Khải đã thực sự đóng một vai trò chủ chốt trong triều đình nhà Trần.
Dịch nghĩa:
Từ có vũ trụ; đã có giang san,
Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở;
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an.
Rõ ràng, nếu không có “nhân tài” thì cuộc kháng chiến rất dễ rơi vào
tình thế nguy nan. Ranh giới giữa mất nước và giữ nước sẽ trở nên mong
manh nếu không có đường lối quân sự đúng đắn. Chính Nguyễn Sưởng đã
khẳng định tầm quan trọng của con người trong chiến tranh chính nghĩa:
Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp,
Bán tại quan hà, bán tại nhân.
Dịch nghĩa:
Mấy ai biết sự nghiệp muôn thuở đời Trùng Hưng,
Một nửa nhờ địa thế núi sông, một nửa do con người.
(Bạch Đằng giang).
Nhắc lại lịch sử hào hùng đã đi qua, tác giả ca ngợi hai cuộc chiến
thắng Nguyên Mông, ca ngợi vị vua Trần Nhân Tông anh minh đứng đầu
vương triều để từ đó khẳng định vai trò của con người. Thế đất sông Bạch
Đằng lịch sử hiểm trở này là quý, một địa thế thuận lợi, nhưng nếu không có
con người, đặc biệt con người mưu lược như Trần Quốc Tuấn, linh hồn của
cuộc kháng chiến thì chưa hẳn có trận Bạch Đằng thứ ba nổi tiếng đi vào sử
sách ấy.
Nguyễn Thị Ly
- 22 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Nguyễn Thị Ly
- 23 -
Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Dịch nghĩa:
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có lòng thương yêu rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân đất Việt.
(Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh Lý Chấn Văn Đẳng)
Câu thơ mềm mỏng, thân tình đấy nhưng vẫn giữ được sự hiên ngang
cứng cỏi, một phong thái đường hoàng của những con người luôn tự chủ được
mình, một tư thế bình đẳng của chủ đối với khách.
Như vậy, không ai có thể phủ nhận về tài năng của con người Đại Việt.
Đó là một biểu hiện của văn hiến giữ nước. Nền văn hiến ấy thời nào cũng
vậy, lúc bình cũng như lúc biến, lúc chế độ cai trị thịnh đạt hay suy vong đều
dựa vào cái gốc là dân, lấy nhân nghĩa làm đức; lấy hòa hiếu, hòa thoại để
ứng xử bang giao. Đối nội thì thuận lòng người, “khoan sức cho dân”; đối
ngoại thì mềm dẻo, linh hoạt “ứng vạn biến” để sống bên cạnh nước lớn mà
vẫn yên ổn, đó là sách lược của kẻ thắng. Và hơn ai hết, họ đã ý thức sâu sắc
được điều đó.
Nếu như tài kinh bang tế thế thể hiện con người anh hùng thì tài thi ca
nhạc họa làm cho các bậc anh hùng có cái nhìn đẹp hơn trước cuộc sống. Đó
là sự thể hiện con người thi nhân.
Theo quan điểm truyền thống, kinh bang tế thế là cái tài gắn với bậc
Trung Quốc, đọc bài thơ cổ để rồi họa lại bài thơ ấy với cảm xúc tinh tế của
tâm hồn thi nhân. Những lúc giao mùa của khí trời, thời tiết cũng làm ông rối
lòng. Và bên cạnh những vần thơ bay bổng, nhẹ nhàng, êm ái ấy cũng không
ít những vần thơ xuất hiện với những lời ca ngợi con người, dân tộc. Điều đó
khẳng định: “Thơ ông giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhị giữa tinh thần tự
hào về đất nước, về dân tộc của người chiến thắng với tình yêu cuộc sống yên
vui, thanh bình và phong độ ung dung, phóng khoáng của một người biết tự
tin lạc quan” [11, 399].
Đến với Trần Nhân Tông “bậc hoàng đế - thiền sư - thi nhân vui với
một nhành mai, bâng khuâng trong một sớm mùa xuân, một chiều trước cánh
đồng làng, một ngày thu nơi non cao chùa vắng, một sự hòa nhập nội tâm
trong cõi thiền sâu lắng” [10, 16]. Cũng như những tâm hồn thi nhân khác,
Trần Nhân Tông đặc biệt yêu mến mùa xuân, có thơ viết về mùa xuân, phong
cảnh mùa xuân, đêm xuân tháng hai, cảnh cuối xuân và ngày xuân,…
Có khi ông ngỡ ngàng trước hình ảnh đôi bướm trắng và bản thân cảnh
tượng đó làm nên một tứ thơ sinh động:
Nguyễn Thị Ly
- 25 -
Khoa Ngữ văn