Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THƠM
KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN
TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN
TRONG THƠ TỐ HỮU
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quang Năng THÁI NGUYÊN - 2013 THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i LỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thơm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 6
7. Đóng góp của luận văn 7
8. Cấu trúc của luận văn 7
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 8
1.1.1. Từ và đoản ngữ 8
1.1.2. Danh từ và danh ngữ 9
1.1.3. Nghĩa và trường nghĩa 10
1.1.4. Ngôn ngữ và văn hóa 12
3.1.3. Không gian chiến tranh 69
3.1.4. Không gian lao tù 71
3.2. Không gian ƣớc lệ 73
3.2.1. Không gian liên tưởng – tưởng tượng 73
3.2.2. Không gian tâm linh 75
3.2.3. Không gian văn hóa – tín ngưỡng 77
3.3. Không gian thiên nhiên – vũ trụ 79
3.4. Hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 83
Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 30
Bảng 2.2. Bảng thống kê khả năng kết hợp của danh từ chỉ không gian
với các từ loại khác 51 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Không gian là một trong những đối tượng phản ánh của tác phẩm văn học,
là một phạm trù thẩm mĩ. Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không tồn tại
ngữ mang dấu ấn cá nhân của từng thi sĩ. Nghiên cứu từ ngữ cũng chính là đi
tìm những yếu tố làm nên phong cách của một nhà thơ, từ đó tìm ra con đường
khám phá thế giới nghệ thuật riêng của tác giả.
1.3. Tuy đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu, khám phá thơ Tố Hữu
từ nhiều góc độ nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào chọn từ ngữ chỉ
không gian trong thơ Tố Hữu làm đối tương nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế
ấy, với mong muốn tìm được hướng nghiên cứu văn học dưới cái nhìn ngôn
ngữ học, chúng tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát từ ngữ
chỉ không gian trong thơ Tố Hữu” nhằm tìm hiểu sự vận động và biến đổi của
từ ngữ chỉ không gian trong hoạt động hành chức. Từ đó, luận văn sẽ làm
sáng tỏ phần nào đặc trưng từ ngữ - một phần làm nên phong cách nghệ thuật
thơ Tố Hữu.
1.4. Tố Hữu là một tác gia lớn, có vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam
hiện đại. Thơ ông được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông, cao đẳng,
đại học. Bởi vậy, việc nghiên cứu và khảo sát các từ ngữ chỉ không gian trong
thơ Tố Hữu là một việc làm có ý nghĩa, góp phần thiết thực vào việc giảng dạy
và học tập thơ Tố Hữu trong nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lƣợc tình hình nghiên cứu các sáng tác thơ Tố Hữu
Tố Hữu là một cây đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại. Khối
lượng tác phẩm của ông rất đồ sộ: hàng chục tập thơ với gần một nghìn bài.
Đây quả là một con số không nhỏ. Vì vậy, trong suốt thời gian qua ngay từ khi
bước chân vào thi đàn, Tố Hữu đã gây được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình văn học trong cả nước như: K và T, Trần Minh Tước, Trần Huy
Liệu, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Vũ Đức Phúc,
Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử và các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi,
từ ngữ chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn” của Tống Thị Diễm Hương
(ĐH Hải Phòng - 2012).
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ không
gian, trường nghĩa không gian trong tác phẩm văn chương rất phong phú. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu
chuyên sâu và hệ thống về từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian
trong thơ Tố Hữu. Từ cơ sở đó, luận văn này hi vọng sẽ là một đóng góp mới
cho hướng nghiên cứu trên.
2.3. Nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Tố Hữu
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ đã có các công
trình của các tác giả như: “Về cách dùng từ chỉ mầu sắc trong thơ Tố Hữu” của
Lê Anh Hiền (Tạp chí Ngôn ngữ số 4-1976), “Tính dân tộc hiện đại của ngôn
từ thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (Báo Văn nghệ số 36-1985), “Nhạc điệu thơ
Tố Hữu” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí Văn học số 6-1968), “Từ láy trong
ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió Lộng của Tố Hữu” của Nguyễn Thị Hương
Trang (Luận văn tốt nghiệp trường ĐHSP TN-2003), “Ẩn dụ tu từ trong thơ Tố
Hữu” của Nguyễn Huệ Yên (Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, trường ĐHSP
TN, năm 2004) và nhiều công trình khác. Trong bài viết “Nhạc điệu trong thơ
Tố Hữu”, Nguyễn Trung Thu đã có nhận định, đánh giá khá sâu sắc và khái
quát về ngôn ngữ thơ trongphong cách nghệ thuật của Tố Hữu: “Tố Hữu là
người rất am hiểu ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ quần chúng, rất am hiểu thơ ca
dân gian và thơ cổ điển. Qua sáng tác của Tố Hữu chúng ta có thể tìm thấy
nhiều mặt Tố Hữu đã tiếp thu thành quả của ca dao, dân ca, thơ văn cổ điển và
hiện đại”.
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương có rất nhiều hướng đi,
nhất là những năm gần đây, nhiều vấn đề của văn học được soi rọi dưới cái
nhìn của ngôn ngữ học hiện đại. Đi sâu vào lí giải sức hấp dẫn của ngôn ngữ
thơ Tố Hữu, hầu hết các bài viết, các bài phê bình, các công trình nghiên cứu
chỉ đề cập đến ngôn ngữ thơ Tố Hữu như là dẫn chứng để minh họa cho những
ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu. Từ đó luận văn khái quát chung về đặc
trưng ngôn ngữ thơ Tố Hữu - một phần làm nên diện mạo thơ ông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Từ những vấn đề về nội dung và phương pháp của đề tài, luận văn hướng
vào đóng góp thực tiễn trong việc phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn
chương trong trường phổ thông.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ của luận văn có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát
các từ ngữ chỉ không gian trong 3 tập thơ của Tố Hữu, đó là: “Từ ấy”, “Việt
Bắc” và “Gió lộng”. Các tư liệu khảo sát và trình bày trong luận văn được thu
thập từ 113 bài thơ đã được chính Tố Hữu chọn lựa, sửa chữa và sắp xếp trong
cuốn “Thơ Tố Hữu”, Nxb. Văn hóa và Thông tin, Hà Nội, 2002.
6. Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối kết hợp các phương pháp
và thủ pháp nghiên cứu sau:
6.1. Thi pháp học thể loại: vận dụng thi pháp thể loại (thơ trữ tình)
6.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Bước đầu tiên của quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành khảo sát các
tác phẩm thơ của Tố Hữu trong tuyển tập “Thơ Tố Hữu” thu thập, thống kê và
phân loại các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu. Đây là phương pháp
giúp luận văn có cơ sở khoa học, chính xác và thuyết phục.
6.3. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Bằng phương pháp này, chúng tôi có thể phân tích nội dung các bài thơ
của Tố Hữu trong tuyển tập “Thơ Tố Hữu” để rút ra các từ ngữ chỉ không gian
với tư cách là thi liệu, trên cơ sở đó tiến hành thống kê các từ ngữ, từ đó khái
quát, tổng hợp thành các đặc điểm cụ thể của từ ngữ chỉ không gian trong thơ
Tố Hữu cũng như hiệu quả của nó trong việc biểu hiện không gian nghệ thuật
trong thơ ông.
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
1.1.1. Từ và đoản ngữ
a. Từ được xem là đơn vị cơ bản của tiếng Việt, là một đơn vị mà đã,
đang và có thể sẽ vẫn là đối tượng lâu dài, trọng tâm của ngôn ngữ học. Cho
đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định nghĩa từ,
có thể đã có tới trên 300 định nghĩa về từ. Với mỗi mục đích nghiên cứu khác
nhau, người nghiên cứu có thể nhấn mạnh tới một phương diện nhất định của từ.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về từ nhưng theo chúng tôi có hai định
nghĩa đáng quan tâm nhất. Đó là quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn cho “Từ là
đơn vị nhỏ nhất mà có thể vận dụng độc lập được” [5, 360]. Quan niệm này
giúp ta phân biệt từ với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn nó. Quan niệm của
Đỗ Hữu Châu cho “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất
biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo
nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt
và nhỏ nhất để tạo câu” [10, 14] cũng đáng quan tâm. Bởi quan niệm này cho
chúng ta ý thức đầy đủ về các phương diện của từ.
Đơn vị cấu tạo nên từ của tiếng Việt là “tiếng” (còn gọi là các “từ tố,
thành tố, yếu tố…”). Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một
tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó. Có ba phương thức cấu tạo từ:
- Dùng một tiếng làm một từ để có các từ đơn: nhà, cửa, hát, học, bay,
đi, đứng…
- Ghép các tiếng có quan hệ về nghĩa với nhau để có các từ ghép: học
tập, dân tộc, sương muối, đường sá, chim chóc, mặt mũi, gan dạ, chim chích
bông…
- Ghép các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm (còn gọi là “láy”) để có các
từ láy: chuồn chuồn, mong manh, lung linh, liên miên, bấp bênh, lấp lánh…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Danh từ được chia thành hai lớp nhỏ là danh từ chung và danh từ riêng. Danh
từ chung bao gồm:
- Danh từ chỉ đơn vị: con, cái, tấm, cân, mét, nắm, vốc,
- Danh từ chỉ sự vật: công nhân, học sinh, mèo, na, bàn,
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tư tưởng, đạo đức, thói quen,
- Danh từ chỉ chất liệu: nước, rượu, cát,
Danh từ là kết quả của quá trình dịnh danh của người nói. Quá trình định
danh này thể hiện rất rõ nét đặc trưng văn hóa của các dân tộc khác nhau. Mỗi
sự vật hiện tượng khi được một cộng đồng gọi tên sẽ ít nhiều phản ánh trong
tên gọi của mình những quan niệm, cách nhìn, thói quen,… của dân tộc chủ thể
của ngôn ngữ.
b. Khái niệm về danh ngữ
Đoản ngữ có danh từ làm trung tâm được gọi là danh ngữ (hay ngữ danh
từ). Danh ngữ bao gồm hai phần chính: bộ phận trung tâm (danh từ) và các
thành tố phụ.
Danh ngữ có thể tồn tại ở các mô hình cấu tạo sau (Ghi chú: D là danh
từ; T là từ chỉ tính chất, trạng thái…):
D1 - D2 - D3; D1 - D2; D1 - D2 - T; D - T…
1.1.3. Nghĩa và trƣờng nghĩa
a. Khái niệm nghĩa
Từ bao gồm hai phương diện: vỏ âm thanh và nội dung cần biểu hiện,
nghĩa. Trong hai mặt của đơn vị ngôn ngữ này (biểu hiện và được biểu hiện,
hình thức và nội dung), nghĩa thuộc mặt thứ hai.
Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều cách hiểu về nghĩa của từ.
“Nghĩa” là một khái niệm rất trừu tượng. Đó là khái niệm gắn với tất cả các
đợn vị ngôn ngữ bởi sự tồn tại của ngôn ngữ là nghĩa; không có nghĩa, sự tồn
tại của hình thức âm thanh là không có mục đích.
Nhiều nhà nghiên cứu có cùng quan điểm về “nghĩa” như sau: Hiện thực
các thành phần còn lại của trường. Thí dụ: dùng từ hoa để tập hợp các tên hoa
khác nhau, dùng từ cây để tập hợp các tên cây khác nhau, từ đồ đạc để tập hợp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
các từ bàn ghế, tử, giường,…. Từ mang có thể tập hợp quanh nó các từ như:
đem, cõng, khiêng, vác, kiệu, đeo, đèo, địu, lai, thồ,… Nói chung, theo cách
này, khi tập hợp các từ vào một trường, người nghiên cứu không chỉ dựa vào sự
hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những ngươi
biên soạn từ điển” [26, 112].
Các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều trường nghĩa thuộc vốn từ
vựng của một ngôn ngữ, trong đó có các trường nghĩa như: thiên nhiên vũ trụ,
sinh hoạt, lao tù, chiến tranh, văn hóa tinh thần…
Nhiệm vụ của việc phân tích tìm hiểu các trường nghĩa là xác định tính
hệ thống của những quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố ở trong trường.
Trong các trường nghĩa quen thuộc, hệ thống các từ ngữ chỉ không gian
là một trường nghĩa lớn, bao gồm toàn bộ các từ ngữ được dùng để chỉ các
không gian nhỏ. Trường nghĩa từ ngữ chỉ không gian bao gồm các loại từ đơn,
từ ghép và cụm từ. Chúng là hệ thống các từ ngữ đồng nhất với nhau về mặt
ngữ nghĩa: đều dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, địa danh
Tác giả Đỗ Hữu Châu căn cứ vào quan điểm của F.de Saussure trong
Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, đã xác định hai loại trường nghĩa: trường
nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính), trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực
tuyến). Trong đó, trường nghĩa dọc có hai loại trường nghĩa: trường nghĩa biểu
vật và trường nghĩa biểu niệm. Dựa theo quan điểm trên, thì từ ngữ chỉ không
gian thuộc loại trường nghĩa biểu vật.
Trong trường nghĩa chỉ không gian lại có thể có các trường nhỏ hơn như:
trường nghĩa chỉ không gian sinh hoạt, trường nghĩa chỉ thiên nhiên vũ trụ,
trường nghĩa chỉ văn hóa tâm linh…
1.1.4. Ngôn ngữ và văn hóa
thời Khai Sáng, gọi di sản học thức tính luỹ từ Thời Cổ mà các dân tộc phương
Tây tin chắc là đã dựng lên nền văn minh của họ trên đó, là “văn hóa”. Cách
sử dụng kia, chuyên về nhân học hơn, thì gọi văn hóa là “toàn bộ những tri
thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật lệ, phong
tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư cách thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viên của xã hội nắm bắt được”, theo định nghĩa được coi là chuẩn do Edward
B. Tylor đưa ra năm 1871. Cho đến nay đã có khoảng trên 400 định nghĩa về
văn hóa.
Cựu Tổng Giám đốc UNESSCO Federico Mayor đưa ra định nghĩa:
"Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ
thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình".
Năm 2002, UNESSCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,
vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức
chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (Tuyên bố chung của
Unessco về tính đa dạng của văn hóa”).
Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “văn hóa" như sau:
1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
2. Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh
thần (nói tổng quát).
3. Tri thức, kiến thức khoa học (nói tổng quát).
4. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.
gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Nó
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa,
được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con
người. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội được biểu hiện trong các
kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong
giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
c. Biểu tƣợng văn hoá
Nguyên nghĩa của “biểu” là bày ra, trình bày: “tượng” là hình ảnh, hình
dạng. Biểu tượng là một hình ảnh cụ thể nào đó được phô bày ra nhằm thể hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
một nội dung trừu tượng; “biểu tượng” là “cái được dùng để tượng trưng cho
điều gì đó”.
Theo Từ điển tiếng Việt, từ biểu tượng có hai nghĩa:
1- Là hình ảnh tượng trưng, chẳng hạn, chim bồ câu là biểu tượng của
hòa bình.
2- Hình thức của nhận thức, cao hơn cả cảm giác, cho ta hình ảnh của
sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào góc giác quan
ta đã chấm dứt [48, 64].
Biểu tượng vốn có bản chất khó xác định và biến ảo một cách sống động
trong mọi nền văn hóa. Lịch sử của biểu tượng xác nhận rằng mọi vật đều có
thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên hay trừu tượng. C.Lévy-Straus
cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu
tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ
kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo”.
Sách Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đưa ra quan niệm: “Khởi
nguyên, biểu tượng (symbole) là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim
loại. Hai người, mỗi người giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và
người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp
nhân loại giống như tất cả những sản phẩm văn hoá khác. Mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và văn hoá là mối quan hệ bao nhau.
Thứ hai: Ngôn ngữ là hiện tượng văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá, cho
nên tất cả những gì là đặc tính, thuộc tính của văn hoá cũng đều tương tự như là
đặc tính, thuộc tính của ngôn ngữ và được ẩn chứa trong ngôn ngữ.
Thứ ba: Ngôn ngữ là một hiện tượng văn hoá đặc thù.
Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tác giả Đ.A.Silichep đã khẳng định:
“Cùng với chiều kích dân tộc, ngôn ngữ đóng vai trò không kém phần quan
trọng trong sự phát triển của văn hóa. Nó cũng gắn bó hữu cơ với văn hóa do
tạo thành gần như là cơ sở, nền tảng của văn hóa. Văn hóa dân tộc không tồn
tại ngoài ngôn ngữ. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà thông thường hơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cả chính ngôn ngữ đã đóng vai trò là tiêu chí khi loại hình hóa các nền văn
hóa, để phân biệt các nền văn hóa với nhau”.
Ngôn ngữ là một phần quan trọng trong văn hóa. Các phạm vi của ngôn
ngữ và văn hóa gắn bó với nhau. Ngôn ngữ là phương tiện ghi nhận các hiện
tượng văn hóa khác, là chỗ bảo lưu lâu dài các sự kiện văn hoá, là công cụ thể
hiện các đặc trưng văn hoá cộng đồng. Là một thành tố của văn hóa tinh thần,
ngôn ngữ góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hóa các dân tộc.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu trong xã hội, đồng thời có vai
trò lưu giữ các di sản văn hóa. Sự phát triển của ngôn ngữ luôn chịu sự chi phối
của các quy tắc giao tiếp văn hoá cộng đồng. Vì vậy, qua ngôn ngữ, người ta
nhìn thấy các đặc trưng văn hóa của một dân tộc. Văn hóa là sợi dây nối liền
con người với con người, qua việc thực hiện chức năng giao tiếp.
Chẳng hạn, qua văn học - những tác phẩm của nghệ thuật ngôn từ có thể
văn hóa các thời đại được lưu giữ, kế thừa và phát huy.
Trong quá trình phát triển lịch sử của một dân tộc, ngôn ngữ dân tộc và
văn hóa dân tộc luôn luôn nương tựa lẫn nhau: “Quan niệm của mỗi dân tộc về