Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa - Pdf 31

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


NGUYỄN THỊ HẠNH

TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO
VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


NGUYỄN THỊ HẠNH

TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO
VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

Chuyên ngành : Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành
: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

thời gian vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thị Hạnh

ii


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ...........................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 7
1.1. Khái niệm thời gian .................................................................................... 7
1.1.1. Các quan niệm về thời gian ..................................................................... 7
1.1.2. Thời gian trong nghệ thuật ...................................................................... 9
1.2. Sơ lƣợc về từ và ngữ ................................................................................ 12
1.2.1. Về khái niệm từ, ngữ ............................................................................. 12
1.2.2. Từ ngữ chỉ thời gian .............................................................................. 15
1.3. Ca dao và ca dao về tình yêu đôi lứa ....................................................... 17
1.3.1. Khái niệm ca dao ................................................................................... 17
1.3.2. Ca dao về tình yêu đôi lứa..................................................................... 18
1.4. Tiểu kết ..................................................................................................... 20
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN
TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA .................................................. 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 90

iv


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Bảng thống kê các danh từ chỉ thời gian tiêu biểu trong Ca dao về
tình yêu đôi lứa ................................................................................................... 26
Bảng 2.2. Bảng thống kê từ ngữ chỉ thời gian trong Ca dao về tình yêu đôi lứa ..... 27
Bảng 2.3. Bảng cấu trúc so sánh trong Ca dao về tình yêu đôi lứa .................... 56

iv


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong thế giới khách quan, mọi sự vật, hiện tƣợng đều đƣợc gắn với
hệ tọa độ không gian – thời gian xác định, nên những cảm nhận của con ngƣời
về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian. Từ sự đổi thay
của không gian, thời gian, con ngƣời nhận ra sự đổi thay trong chính mình. Vì
vậy, bên cạnh không gian, thời gian trở thành một trong những đối tƣợng phản
ánh phổ biến của tác phẩm văn học, một phạm trù thẩm mỹ. Không có hình
tƣợng nghệ thuật nào lại không tồn tại trong không gian, thời gian của chủ thể
sáng tạo. “Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian,
không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”
(Trần Đình Sử) [43]. Thời gian trong nghệ thuật cũng đƣợc coi là một hiện
tƣợng nghệ thuật. Thời gian gắn với những quan niệm về nghệ thuật, về con
ngƣời, về thế giới của chủ thể. Thời gian là sản phẩm của nghệ sĩ nhằm biểu
hiện về con ngƣời, về thế giới, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh. Thời

gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, có nghĩa là "thời gian của tác
giả và thời gian của ngƣời đọc (ngƣời thƣởng thức) hòa lẫn với thời gian của
ngƣời diễn xƣớng”.
Cho đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lớp từ ngữ
chỉ thời gian trong ca dao nói chung, trong ca dao về tình yêu đôi lứa nói riêng.
Trong tình hình nhƣ vậy, chúng tôi chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong
ca dao về tình yêu đôi lứa” để nhằm làm rõ vai trò của lớp từ ngữ này trong ca
dao, góp phần làm rõ thêm một cái nhìn, một cách tiếp cận về phong cách sáng
tác của các tác giả dân gian.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về ca dao
Những công trình nghiên cứu về ca dao trong mấy thập kỷ qua là vô cùng
phong phú và đa dạng với số lƣợng ngày càng tăng. Tuy nhiên, các công trình
có tính chất sƣu tầm vẫn chiếm đa số. Có thể kể ra một số công trình nghiên
cứu nhƣ: Cấu trúc ca dao trữ tình của Lê Đức Luận, Bình giảng ca dao của tác
giả Triều Nguyên, Ngôn ngữ ca dao Việt Nam của Mai Ngọc Chừ,…
Với Chuyên luận Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã đi vào tìm hiểu
các vấn đề ngôn ngữ, hình tƣợng, kết cấu, thể thơ, thi pháp diễn xƣớng, thời
gian và không gian nghệ thuật của ca dao truyền thống.

2


Trong Những thế giới nghệ thuật trong ca dao, tác giả Phạm Thu Yến đã
đề cập đến vấn đề “Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao”. Viết về
vấn đề này, tác giả khẳng định, không gian nghệ thuật trong ca dao gồm không
gian vật lý và không gian tâm lý. Từ việc khảo sát những lời ca dao cổ truyền,
tác giả đã rút ra đặc điểm và ý nghĩa của yếu tố nghệ thuật này.
Tác giả Nguyễn Hằng Phƣơng nghiên cứu Ca dao cổ truyền người Việt với
tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học đã làm rõ những biểu

phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tƣởng tƣợng của chúng ta qua
các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét. Để tạo nên thời gian nghệ
thuật cho mỗi tác phẩm luôn có những lớp từ ngữ mang nét đặc trƣng riêng. Đã
có việc khảo sát, nghiên cứu các từ ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
của một vài tác giả.
Về cách diễn đạt thời gian, trong bài Về một phương diện trong ca dao,
Trần Thị An đã đƣa ra nhận xét rằng trong ca dao tình yêu, thời gian cá nhân
riêng biệt, thời gian khách quan, thời gian xã hội bị nhạt nhòa. Do đó, trong
việc miêu tả thời gian, ngƣời bình dân thƣờng sử dụng những cách nói ƣớc lệ,
công thức.
Tác giả Lý Thơ Phúc trong bài viết Không gian và thời gian nghệ thuật
trong ca dao tình yêu đôi lứa ở Phú Yên đã trình bày những đặc trƣng cơ bản
của không gian và thời gian trong các bài ca dao về tình yêu đôi lứa, làm nổi bật
các kiểu thời gian và không gian đƣợc sử dụng, những phƣơng tiện nghệ thuật
nhằm giãi bày tình cảm, cảm xúc của con ngƣời Phú Yên.
Trên cơ sở nguồn tƣ liệu quí báu có tính gợi mở, định hƣớng của các bài
nghiên cứu, thẩm bình, lựa chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về
tình yêu đôi lứa”, chúng tôi cố gắng tìm ra cách tiếp cận ca dao tình yêu đôi lứa
ở một góc độ mới: tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ của tác giả dân gian trong việc
biểu hiện thời gian nghệ thuật.
3. Đối tƣợng và phạm vi
3.1. Đối tượng: Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này là các từ ngữ chỉ thời
gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa.
3.2. Phạm vi tư liệu: Các tƣ liệu khảo sát trong Luận văn đƣợc thu thập từ
những bài ca dao về Tình yêu đôi lứa trong Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1,
Tập 2) Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên, do NXB Văn hóa
Thông tin tái bản năm 2001.

4


5


6. Đóng góp của Luận văn:
Luận văn đƣa ra cách tiếp cận mới trên cơ sở vận dụng kiến thức ngôn ngữ
học vào việc nghiên cứu ca dao về tình yêu đôi lứa. Cung cấp các cứ liệu về đặc
điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa cũng nhƣ giá trị của lớp từ ngữ chỉ thời gian
trong ca dao về tình yêu đôi lứa. Từ những kết quả khảo sát của đề tài, luận văn
đóng góp thêm một cách tiếp cận về ca dao dƣới góc độ ngôn ngữ học, giúp cho
việc phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian trong nhà trƣờng
phổ thông có cơ sở và có sức thuyết phục hơn..
7. Bố cục Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết
Chƣơng 2: Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về
tình yêu đôi lứa;
Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao
về tình yêu đôi lứa

6


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm thời gian
1.1.1. Các quan niệm về thời gian
Ngay từ thời xa xƣa, con ngƣời đã hiểu rằng, bất kì khách thể vật chất nào
cũng chiếm một vị trí trong khoảng không gian, thời gian nhất định. A.Ja Gurevich
trong cuốn “Các phạm trù văn hóa trung cổ” đã chỉ ra cách lý giải của ngƣời trung
cổ về khái niệm thời gian: “Thời gian và không gian có tính chất khách quan,

tƣ của không gian. Quan điểm này có liên quan tới thuyết tƣơng đối của
Einstein trong vật lý hiện đại. Eintein cho rằng, không gian cùng với thời gian
thông qua tốc độ của ánh sáng tạo thành một thể thống nhất gọi là không gian
bốn chiều.
Theo quan điểm của khoa học tự nhiên (vật lý học) thời gian là một khái
niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của
chúng. Thời gian đƣợc xác định bằng số lƣợng các chuyển động của các đối
tƣợng có tính lặp lại (sự lƣợng hoá các chuyển động lặp lại) và thƣờng có một
thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó.
Theo cuốn Hán Việt – giản yếu từ điển (Đào Duy Anh biên soạn): “Thời gian
chỉ ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai lưu chuyển với nhau vô cùng” [ 2 ].
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa: “Thời gian là hình
thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận
động và phát triển liên tục, không ngừng” [39].
Theo thi pháp học, thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là
sản phẩm sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ nhằm biểu hiện con ngƣời và thể hiện một
quan niệm nhất định về cuộc sống. Thời gian trong nghệ thuật thể hiện quan
niệm về trật tự, thế giới và sự lựa chọn của con ngƣời.
Nhƣ vậy, mỗi ngành khoa học có một phƣơng pháp, mục đích nghiên cứu
khác nhau nên có cách nhìn nhận, quan niệm không giống nhau về thời gian.

8


Khoa học ngôn ngữ xem xét thời gian trong tác phẩm văn học với tƣ cách là một
phạm trù nghệ thuật nên cũng sẽ có những đặc thù riêng. Bên cạnh thuộc tính vật
lý tự nhiên, thời gian trong tác phẩm văn học còn mang tính biểu trƣng và tính
quan niệm.
1.1.2. Thời gian trong nghệ thuật
Nhƣ chúng ta đã biết, thời gian nghệ thuật cũng đƣợc coi là một hiện tƣợng

cách khách quan bên ngoài ý thức của con ngƣời thì thời gian nghệ thuật lại
mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo. Đó là thời gian tinh thần của
con ngƣời, là thời gian sống mà con ngƣời cảm nhận. Hay nói cách khác, thời
gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tƣởng
tƣợng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét.
Ví dụ:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà...
Thời gian trong bài ca dao Hôm qua tát nước đầu đình đều là thời gian
mang tính chất phiếm chỉ: hôm qua, đã lâu, mai, đến lúc lấy chồng mà tác giả
dân gian sử dụng làm phƣơng tiện để giãi bày, thể hiện tình cảm của mình một
cách ý nhị, sâu sa, nhƣng cũng vô cùng thông minh, dí dỏm. Để có dịp thổ lộ
tình yêu với cô gái, chàng trai mƣợn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyện
làm thân rồi lân la ngỏ ý cầu hôn.
Câu chuyện bỏ quên áo trong bài ca dao Tát Nƣớc Ðầu Ðình trên là hoàn
toàn hƣ cấu. Hƣ cấu từ thời gian nghệ thuật cho đến các tình tiết diễn ra trong bài
ca dao. Nhƣng cũng chính nhờ vào tài đặt chuyện và dẫn chuyện một cách khéo
léo, dí dỏm ấy mà chàng trai ở đây đã bộc lộ đƣợc một sự thực, rất thực, là tình
yêu trong sáng, thơ mộng, lãng mạn và cũng rất trân trọng, đằm thắm của chàng
đối với ngƣời bạn gái mà chàng muốn cƣới làm vợ. Điều này chứng tỏ bài ca dao
trên đã rất thành công cả về nghệ thuật dựng chuyện, cũng nhƣ nghệ thuật sử
dụng những phƣơng thức diễn đạt, trong đó có thời gian nghệ thuật.

10


Thời gian nghệ thuật đƣợc đo bằng nhiều thƣớc đo khác nhau, bằng sự lặp
lại đều đặn của các hiện tƣợng đời sống đƣợc ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ,

hiện tại, tƣơng lai, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều
cuộc đời. Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo của nghệ thuật.
Tóm lại, thời gian nghệ thuật là mô hình thời gian của thế giới nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật và
chính mối quan hệ đó đã đem lại cho ngƣời thƣởng thức nghệ thuật sức liên
tƣởng mạnh mẽ. Thời gian nghệ thuật không chỉ mang tính chủ quan mà còn
mang tính tƣợng trƣng, quan niệm. Nghĩa là chủ thể sáng tạo luôn tạo ra thời
gian nghệ thuật để thể hiện một quan niệm nhất định của mình về thế giới và
cuộc sống con ngƣời. Không những vậy, thời gian nghệ thuật còn mang một cấu
trúc đặc biệt, nó gắn liền với điểm nhìn của con ngƣời trong tác phẩm văn học.
1.2. Sơ lƣợc về từ và ngữ
1.2.1. Về khái niệm từ, ngữ
a. Theo cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa, tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu: “Từ của
tiếng Việt là một hoặc một số ấm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm
ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong
tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8].
Các thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành
phần ý nghĩa không độc lập đối với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với
nhau thành một hợp thể gọi là từ. Một mình thành phần ngữ âm không thể cho ta
biết nó có phải là từ hay không hoặc không thể cho ta biết nó là một hay là nhiều
từ. Khi một thành phần nào đó thay đổi thì có khi chúng ta phải thừa nhận là có
nhiều từ khác nhau mặc dầu các thành phần kia - nhất là thành phần ngữ âm vẫn
giữ nguyên.
Các thành phần của từ, trừ thành phần ngữ âm không phải là riêng của mỗi
từ. Thành phần cấu tạo, thành phần ngữ pháp và thành phần ý nghĩa xuất hiện
trong từ này cũng có thể xuất hiện trong một số từ khác.
Ví dụ: Từ Máy bay cũng có thành phần cấu tạo chung với các từ máy ủi,
máy súc, máy cày, máy gặt,… Thành phần ngữ pháp của từ cối cũng là thành

12

13


Do sự cố định hóa và tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có
tính thành ngữ. Cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa Tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu định
nghĩa tính thành ngữ nhƣ sau: Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B,
C… mang ý nghĩa lần lƣợt s[1], s[2], s[3]… tạo nên, nếu nhƣ nghĩa S không thể
giải thích bằng các ý nghĩa s[1], s[2], s[3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ.
Ví dụ: Hết nước hết cái là tổ hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa “quá dài, quá
mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột” của nó không thể giải thích đƣợc bằng các
nghĩa của hết nước, hết cái…
Ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa, tuy nhiên có nhiều ngữ cố định có
hình thức cấu tạo là các câu nhƣ: Chuột chạy cùng sào, Chim sa cá lặn, Chó
ngáp phải ruồi; có cấu tạo là câu ghép nhƣ: Gió chiều nào che chiều ấy, Ăn cơm
nhà vác tù và hàng tổng… Do đó, căn cứ để xác định ngữ cố định là tính tƣơng
đƣơng với từ của chúng về chức năng cấu tạo câu.
Có những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do nhƣ: Nói
cách khác, Một mặt thì, Trước hết, Nghĩa là, Tức là… Đây là các cụm từ tự do
đã đƣợc cố định hóa do nội dung của chúng đã trở thành điều thƣờng xuyên
phải lặp đi lặp lại vì cần thiết cho sự suy nghĩ và diễn đạt.
Ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định nhƣng chúng vẫn có khả năng
rút gọn. Ví dụ: chết nhăn răng rút gọn thành nhăn răng, tốt mã giẻ cùi rút gọn
thành tốt mã. Hoặc chúng có thể đƣợc mở rộng, thêm thành phần nhƣ: Ăn cơm
nhà vác tù và hàng tổng có thể mở rộng thành Ăn cơm nhà mà lại đi thổi tù và
hàng tổng… Hoặc đƣợc thay thế bằng các từ cùng trƣờng nghĩa hay đồng nghĩa
nhƣ: Đi guốc trong bụng thành lê dép quèn quẹt trong bụng… Tuy nhiên, dù có
biến đổi thế nào thì các biến thể của ngữ cố định vẫn không đƣợc phép vƣợt quá
kết cấu và các liên hệ ngữ nghĩa vốn có trong ngữ quá xa.

14

15


(với nghĩa là đêm nào cũng), ngày ngày (với nghĩa là ngày nào cũng), tháng
tháng (với nghĩa là tháng nào cũng).
Ví dụ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mƣờng Hịch cọp trêu ngƣời
(Quang Dũng)
Đây là những từ có khả năng định hƣớng thời gian mang tính khái quát, là
những chỉ tố thời gian chỉ sự tình trong câu xảy ra kéo dài từ thời gian quá khứ đến
hiện tại và thậm chí kéo dài đến tƣơng lai, ví dụ nhƣ chỉ tố thời gian chiều chiều,
đêm đêm trong ví dụ trên.
* Các từ ngữ chỉ thời đoạn, tức là những từ ngữ dùng để định lƣợng thời
gian, gồm: ngày, đêm, buổi (bữa), tuần, tháng, năm, mùa, giây phút, trước sau,
ngày đêm, sớm khuya, sớm tối, sáng tối, sáng đêm,…
Trong số các từ đƣợc dùng để chỉ thời đoạn nêu trên (ngày, đêm, buổi hoặc
bữa, tuần, tháng, năm, mùa,…), chỉ có những từ nào có khả năng kết hợp với
những định ngữ đứng sau (thƣờng là những từ chỉ định nhƣ: này, đó, kia, trước,
sau … hoặc một số định ngữ khác) và những từ ngữ chỉ thời lƣợng có tính chất
cụ thể nhƣ: 8 giờ, 8 giờ đến 10 giờ, năm 1975, năm 1945 đến năm 1954,…thì
mới đƣợc xem là những từ ngữ chỉ thời điểm có khả năng định vị thời gian cụ
thể. Còn các từ nhƣ: ngày đêm, sớm khuya, sớm tối, sáng tối,…có khả năng
định hƣớng thời gian mang tính khái quát.
* Các từ ngữ có ý nghĩa thời gian phi thời điểm - phi thời đoạn, bao gồm:
hôm, ban, thời, thuở, khi, lúc, hồi, dạo, lần, thời gian,.... Các từ có ý nghĩa phi
thời điểm - phi thời đoạn chỉ có khả năng chỉ thời điểm định vị thời gian khi
chúng kết hợp với định ngữ đứng sau chúng, chẳng hạn nhƣ: hôm đó, khi ấy,
lúc nãy, thời trước, thời sau, thuở xưa, đời trước, đời sau, dạo này, hồi còn đi
học, thuở còn thơ, thời gian này, giây phút đó, …

nhƣ thủ pháp so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tƣợng trƣng, điệp từ, khoa trƣơng, tập
kiều… Trong ca dao có ba cách cấu tứ cơ bản đó là phú (phô bày, diễn tả trực
tiếp), tỉ (so sánh, ví von) và hứng (trình bày bằng cách gợi cảm hứng), từ ba

17


kiểu cấu tứ này có thể làm xuất nhiều biến thể khác. Ngôn ngữ trong ca dao vừa
có tính dân tộc, vừa có tính địa phƣơng, vì vậy, nó vừa đa dạng, vừa thống nhất.
Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại và mang tính phiếm
chỉ, thƣờng đƣợc miêu tả bằng những mô típ quen thuộc: sáng ngày, chiều chiều,
ngày ngày, hôm qua, bây giờ, đêm trăng thanh, đêm khuya, đêm qua…
Không gian nghệ thuật trong ca dao vừa là không gian thực tại khách quan,
vừa là không gian trong trí tƣởng tƣợng mang tính chất tƣợng trƣng của tác giả
dân gian, đó là không gian làng quê bình dị gắn với những địa điểm sinh hoạt
quen thuộc của ngƣời dân lao động nhƣ: cây đa, bến nước, sân đình, cây cầu…
1.3.2. Ca dao về tình yêu đôi lứa
Từ xƣa đến nay, tình yêu luôn là đề tài muôn thủa của con ngƣời. Tình yêu
đôi lứa trong văn học nói chung và trong ca dao nói riêng chiếm số lƣợng lớn.
Trong kho tàng ca dao dao ngƣời Việt, ca dao viết về tình yêu đôi lứa là mảng đề
tài phong phú nhất. Hầu hết những bài ca dao này đƣợc sáng tác ra trong những
điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nông thôn Việt Nam trƣớc đây. Trong ca dao
ngƣời Việt, tình yêu đƣợc thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhƣng cũng rất chân
thành, giản dị. Trai gái ở nông thôn thƣờng gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm
với nhau trong khi cùng nhau lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân.
Ca dao về tình yêu đôi lứa có nội dung phản ánh mọi biểu hiện của tình
yêu trong tất cả các giai đoạn của nó: giai đoạn gặp gỡ ƣớm hỏi nhau, giai đoạn
gắn bó, trao đổi những lời thề nguyền, những tặng vật cho nhau, giai đoạn hạnh
phúc với những niềm ƣớc mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc sự thất bại đau khổ
với những lời than thở oán trách… Nói chung, ca dao tình yêu chứa đựng mọi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status